Hải chiến Hoàng Sa


Hải chiến Hoàng Sa

Kính tặng các lão tướng “Kình Ngư, một trang sử oai hùng của Hải quân Việt Nam với Trung Quốc trong trận hải chiến đảo Hoàng Sa…
… Một Đại đội Đặc nhiệm đã được thành lập từ năm 1973 nhằm đối phó với vấn đề phòng vệ lãnh hải Hoàng Sa và Trường Sa, song song với việc thăm dò tài nguyên thiên nhiên dầu hỏa thuộc chủ quyền Việt Nam. Hải đội Đặc nhiệm được chỉ huy bởi Hải quân Đại tá Hà Văn Ngạc (khóa 5) cũng là Chỉ huy trưởng Hải đội 3 (Hải đội Tuần dương), thuộc BTL Hạm đội. Các cấp chỉ huy của các đơn vị Hải quân tham gia trong trận hải chiến Hoàng Sa như sau:
– Tư lệnh Hải quấn: Đề đốc Trần Văn Chơn. – Tư lệnh phó Hải quân: Phó Đề đốc Lâm Ngươn Tánh. – Tham mưu trưởng Hải quân: Phó Đề đốc Diệp Quang Thủy. – Tham Mưu Phó Hải quân: Đại tá Đổ Kiểm. – Tư lệnh Hạm đội: Hải quân Đại tá Nguyễn Xuân Sơn. – Tư lênh Hải quân Vùng 1 Duyên hải: Phó Đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại. – Chỉ huy trưởng Hải đội Tuần dương: Hải quân Đại tá Hà Văn Ngạc (Hải đội 3) và là Sĩ quan chỉ huy chiến thuật trận hải chiến. – Hạm trưởng Khu trục hạm HQ4 ; Hải quân Trung tá Vũ Hữu San (là Sĩ quan chỉ huy chiến thuật lúc ban đầu) ; Hạm phó Thiếu tá Nguyễn Thành Sắc. – Hạm trưởng Tuần dượng hạm HQ5: Hải quân Trung tá Phạm Trọng Quỳnh. – Hạm trưởng Tuần dương hạm HQ16: Hải quân Trung tá Lê Văn Thự, Cơ khí trưởng Đại úy Hiệp. – Hạm trưởng Hộ tống hạm HQ10: Hải quân Thiếu tá Ngụy Văn Thà (truy thăng Hải quân Trung Tá). – Trưởng toán Hải kích Đổ bộ: Hải quân Đại úy Nguyễn Minh Cảnh.
Trước đó vào tháng 10 năm 1973, hãng dầu Mobil tuyên bố đã tìm thấy dầu tại thềm lục địa Việt Nam qua các mỏ Rose 9 và Coconut 11.
Đây chính là nguyên nhân gần dẫn đến trận hải chiến Hoàng Sa. Ngay sau đó nhà cầm quyền Bắc Kinh lên tiếng tuyên bố chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, mà họ gọi là Tây Sa và Nam Sa. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cực lực phản đối và cho tổ chức một lễ đốt đuốc Quốc khánh Việt Nam Cộng Hòa tháng 11 năm 1973 tại sân Cộng Hòa để tuyên bố trước đông đảo đồng bào, báo chí trong và ngoài nước rằng Việt Nam đã có mỏ dầu và hoàn toàn có chủ quyển trên biển Đông tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sau đó Ngoại trương Việt Nam Cộng Hòa Vương Văn Bắc được lịnh lên tiến bác bỏ chính thức chủ quyền của Trung Quốc và lên án ý đồ xâm chiếm hai quần đảo trên.
Vào ngày 11 tháng giêng năm 1974, khoảng vài ngày sau khi Ngoại trưởng Hoa Kỳ Kissinger rời Trung Quốc thì đột nhiên Ngoại trưởng Trung Quốc lại một lần nữa tuyên bố chủ quyền của họ trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vài ngày sau, Ngoại trưởng Việt Nam Cộng Hòa Vương Văn Bắc còn bận công cán ngoại quốc, thì phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng Hòa đã bác bỏ luận cứ của Trung Quốc và tái xác nhận một lần nữa chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa trên các quần đảo đó.
Ngày 16 tháng giêng năm 1974, Ngoại trưởng Vương Văn Bắc đã hùng hồn và long trọng tuyên bố chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên đài phát thanh Saigon và với các thông tấn xã nước ngoài. Cùng ngày, Trung Quốc mang hai chiến hạm số 402 và 407 cùng nhiều ngư thuyền vũ trang đổ bộ lên đảo Cam Tuyền thuộc quần đảo Hoàng Sa. Bộ Tư Lệnh Hải quân Việt Nam Cộng Hòa cũng chuẩn bị tăng cường chiến hạm tuần tiễu tại vùng biển Hoàng Sa. Lúc đó chỉ có một Trung đội Địa phương quân Chi Khu Hòa Vang thuộc Tiểu khu Quảng Nam gồm hai mươi bốn người đóng tại đảo Hoàng Sa cùng với bốn nhân viên thuộc đại Khí tượng Thủy văn. Các đảo khác trong nhóm Nguyệt Thiềm không có quân đội Việt Nam Cộng Hòa trú đóng.
Trong các ngày kế tiếp, Trung Quốc tiếp tục đổ người lên các đảo Cam Tuyền (Robert), Vĩnh Lạc (Money), Quang Hòa (Duncan) và Duy Mộng (Drummond). Hàng trăm lá cờ Trung Cộng đã được cắm rải rác ven bờ biển dọc theo bãi cát trắng. Có lẽ hai chiếc tàu 402 và 407 đã đổ người lên cắm cờ mạo nhận chủ quyền. Lúc này HQ16 Lý Thường Kiệt đang trực chỉ Hoàng Sa để tăng cường cho lực lượng trú phòng và chở theo sáu người công binh thuộc Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I với dự tính thiết lập một phi trường nhỏ cho đảo Hoàng Sa.
Ngày 17-11-1974, Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu ra thăm Bộ tư lệnh Hải quân vùng 1 Chiến thuật. Ông đã ra chỉ thị chuẩn bị trận hải chiến Hoàng Sa để bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ chính đáng cho Tư lệnh Hải quân Vùng I Duyên hải Hồ Văn Kỳ Thoại.
Phó Đề đốc Lâm Ngươn Tánh bay ra Đà Nẳng để chỉ huy trực tiếp. Đề đốc Trần văn Chơn và Tham mưu phó Hải quân Đại tá Đỗ Kiểm ở lại Saigon theo dõi trận chiến qua Trung tâm Báo chí (CIC.)
Cùng ngày, Khu trục hạm HQ4 Trần Khánh Dư (có chở theo một Trung đội Biệt hải thuộc Sở Phòng vệ Duyên hải do Đại Úy Nguễn Văn Tiến chỉ huy) rời căn cứ Tiên Sa để đến Hoàng Sa gây áp lực buộc lực lượng Trung Quốc rút khỏi hai đảo Cam Tuyền và Vĩnh Lạc. Chiến hạm HQ16 có chở theo một Đại đội Hải kích gồm bốn mươi chín người do Đại úy Trần Cao Sạ chỉ huy. Tình hình lúc dó của HQ10 không được khả quan, vì chỉ có một máy chính hoạt động (máy phụ bị hư) nên tốc độ hải hành bị giảm đến 50% và Rada hải hành thì bất khiển dụng. Vừa nhập vùng, chiến hạm HQ4 đã từ phía Nam (Vĩnh Lạc) phối hợp với chiếm hạm HQ16 Lý Thường Kiệt từ hướng Bắc đảo Hoàng Sa, tạo thành thế gọng kềm xiết chặc hai tàu Trung Cộng vào giữa. Trung tá San đã cho húc mũi tàu HQ4 vào tàu của Trung Cộng. Sau đó hai chiến hạm của Trung Cộng lảng ra xa khỏi đảo Cam Tuyền đi về đảo Duy Mộng và Quang Hòa. Lập tức chiến hạm HQ16 cho đổ bộ một toán mười lăm nhân viên cơ hũu do Trung úy Lâm Trí Liêm chỉ huy, lên đảo Vĩnh Lạc để dẹp cờ Trung Cộng và cắm cờ Việt Nam Cộng Hòa. Toán đổ bộ lên Vĩnh Lạc không gặp sức kháng cự nào, chỉ tìm thấy vài lá cờ Trung Quốc. Tiếp theo, HQ4 đổ bộ mười ba nhân viên cơ hữu lên đảo Cam Tuyền. Tại đây có ba tàu Trung Quốc đang neo đậu. Khi thấy lực lượng Việt nam Cộng Hòa đổ quan, những chiếc tàu Trung Quốc lặng lẽ rút lui. Toán đổ bộ lục soát tìm thấy một lá cờ Trung Quốc vừa mới cắm cách đó mấy ngày. Tất cả dấu tích cũ của Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn như tấm bia ghi ngày 05-12-1963 của Thủy Quân Lục Chiến. Chiều lại khoảng lúc sáu giờ, tin báo cáo cho biết thêm có hai chiến hạm săn tàu ngầm loại Kronstadt 271 và 274 có trang bị hải pháo 100 ly và 37,6 ly của Trung Cộng được tăng cường. Loại tàu Kronstadt này dài gần 100m, nghĩa là gần bằng HQ16 nhưng bề ngang hẹp hơn. Vận tốc tối đa gần 30 knots, nghĩa là gần gấp đôi HQ16. Trang bị có một khẩu đại bác 100 ly trước mũi, hai khẩu đại bác 37,6 ly hai bên về phía trước và một khẩu về phía sau. Còn ngoài ra là loại súng nhỏ. So sánh về hỏa lực thì tàu Việt Nam Cộng Hòa có phần trội hơn. HQ16 có một khẩu 125 ly trước mũi. Sau đó là hai khẩu 40 ly đôi và một đại bác 40 ly đơn nòng ở sau lái. Không kể hai giàn đại bác đại bác 20 ly đôi bên hông phòng lái ngay dưới đài chỉ huy, hai giàn 20 ly đơn ở sân thượng phía sau, cùng với năm khẩu súng cối 81 ly. Hai chiến hạm này sau khi nhập vùng cũng chỉ lẩn quẩn ở hai đảo Quang Hòa và Duy Mộng. Không thấy có hành động khiêu khích, nhưng chúng chắc chắn giữ bằng được hai đảo đó mà hành động nghênh cản của chúng vào ngày hôm sau đã chứng tỏ điều đó.
Nhận thấy tình hình nghiêm trọng, Bộ Tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải ban lệnh hành quân Hoàng Sa 1 nhằm chiếm lại các đảo Cam Tuyền, Quang Hòa, Duy Mộng và Vĩnh Lạc. Đồng thời tăng cường thêm Tuần duyên hạm HQ5 Trần Bình Trọng (Cruiser – Trung tá Phạm Trọng Quỳnh) và Hộ tống hạm HQ10 Nhật Tảo (Escort) vào vùng chiến cùng với Khu trục hạm HQ4 Trần Khánh Dư (Destroyer) và Tuần dương hạm HQ16 Lý Thường Kiệt (Cruiser.) Tăng cường thêm có toán Hải Kích SEAL điều động bởi Hải Quân Đại úy Nguyễn Minh Cảnh (khóa 20), và toán Biệt hải điều động bởi Hải quân Trung úy Lê văn Dũng (khóa 20), một Trung đội Địa phơng quân đang trú phòng tại đảo chánh, đảo Hoàng Sa và một phái đoàn công binh của Quân đoàn I (do Thiếu Tá Hồng chỉ huy) tăng viện để xây cất một phi đạo trên đảo Hoàng Sa. Lực lượng Hải quân Trung Quốc có 11 chiến hạm và ghe thuyền (gồm các tài Khinh tốc đỉnh Komar với hỏa tiển hải hải, Vớt mìn, Trục lôi hạm, Hộ tống hạm) tổng số binh sĩ Trung Quốc khoảng hơn 3000 người thuộc Hạm đội Nam Hải của Đô đốc Tư lệnh Tề Quan Sinh.
Lúc 7:00 giờ tối, bản tuyên cáo qua TV, Radio của chánh phủ V.N.C.H. về vấn đề Hoàng Sa được dọc trước bản tin đầu giờ. Trong bản tuyên cáo đó, Bộ Ngoại giao thay mặt chánh phủ và nhân dân V.N.C.H. tuyên bố Hoàng Sa là vùng lãnh thổ không thể chuyển nhượng của mình, căn cứ trên thực tại và các chứng cứ trong lịch sử, đồng thời tố cáo trước dư luận quốc tế việc lấn chiếm hai đảo Quang Hòa và Duy Mộng của Trung Quốc.
Sáng ngày 18-01-1974, chiến hạn HQ5 đã hiện diện trong vùng như một sự tăng cường cần thiết. Đây là một tuần dương hạm cùng loại với HQ16 do Trung tá Lê Văn Thự chỉ huy. Cùng đi trên HQ5 là Hải quân Đại tá Hà Văn Ngạc, chỉ huy trưởng Hải đội 3 Tuần dương trực thuộc Bộ tư lệnh Hạm đội, được chỉ định làm Tư lệnh Lực lượng Đặc nhiệm Hoàng Sa (thay thế Trung ta Vũ Hữu San.) Như vậy, lực lượng hiện có ba chiến hạm HQ4 – HQ5 – HQ16 và sẽ có thêm Hộ tống hạm HQ10 Nhật Tảo đang trên đường đến nhập vùng.
Buổi trưa ngày 18-01-1974, Đại tá Ngạc đã hội ý cùng các Hạm trưởng qua máy truyền tin và ngay buổi trưa hôm đó, hình thành một kế hoạch ” phô diễn lực lượng ” sẽ khởi sự vào buổi chiều. Mục đích của kế hoạch chỉ là để thăm dò khả năng của các chiến hạm hơn là một cuộc hành quân, bởi vi trong kế hoạch, mặc dù các chiến hạm đều ở trong nhiệm sở tác chiến nhưng mọi khẩu pháo đều được quay cao 45 độ.
Chiều ngày 18-01-1974, các tàu Trung quốc đã bắt đầu khiêu chiến. Đoàn tàu Trung Quốc gồm có một số tàu lớn và nhiều tàu nhỏ chạy tới lui trong vùng của hai đảo duy Mộng và Quang Hòa. Các chiến hạm Trung Quốc có số danh hiệu: 271, 274, 389, 396 và sơn màu ô liu. Lúc bấy giờ trong quần đảo Hòang Sa đã có sự hiện diện của bốn chiến hạm Hải quân Việt Nam: Tuần dương hạm HQ16 Lý Thường Kiệt, HQ5 Trần Bình Trọng vừa được tăng cường vào vùng lúc ba giờ chiều Khu trục hạm HQ4 Trần Khánh Dư, Hộ tống hạm HQ10 Nhật Tảo vừa được tăng cường. Vị trí vùng hoạt động của các chiến hạm V.N.C.H. lúc này (3:15PM) nằm trên thủy lộ quốc tế chạy qua vùng Đông Nam Á cách Đà Nẳng 200 hải ly (mỗi hải ly là 1.852 mét) về hướng Đông Bắc. Diện tích toàn thể ước độ 11 km2, có hai nhóm chính là Nguyệt Thiềm (Croissant) gồm các đảo Hoàng Sa, Cam Tuyền, Vĩnh Lạc, Duy Mộng và Quang Hòa. Nhóm thứ hai là Tuyên Đức (Amphitrite). Khoảng cách giữa hai nhóm này nơi gần nhất là khoảng 40 hải lý.
Khi đội hình thao diễn Hải quân V.N.C.H. vừa chạy được một hải lý, thì hai chiến hạm Trung Quốc mang số số 389 và 396 đang nằm im trong vùng biển, cùng nổ máy tăng tốc và cũng theo đội hình hàng dọc tiến đến hướng đọi hình thao diễn. Tuy nhiên, cả đội hình thao diễn vẫn bình thản tiến vào lộ trình. Khi đến cách đội hình thao diễn của hải quân V.N.C.H. chừng dưới một hải lý, chiếc đi đầu bỗng quay trái, được một đoạn ngắn là quay trở ngược chiều (180 độ) chạy băng ngang trước mũi HQ16. Chỉ vừa qua khỏi, chúng lại lộn ngược trở lại về phía phải để làm một đường ngang khác. Và chiếc sau cũng lặp lại những động tác y như vậy để rồi cuối cùng cái đường ngang của chúng chỉ cách mũi tài Hải quân V.N.C.H. chưa tới 150 mét. Tàu chúng dăng ngang làm đội hình thao diễn thấy khó xử. Không thể xử dụng võ lực, cũng khó tiến thêm vì có thể đụng chạm. Cuối cùng Đại tá Ngạc ra lệnh quay mũi theo hàng dọc trở về hướng Bắc.
Trở lại với đội hình ứng chiến của các chiến hạm Hải quân V.N.C.H., vì được lệnh phải dung mọi biện pháp ôn hòa để giữ hải đảo, nên khi bị khiêu khích, Hạm trưởng Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt ra lệnh lái tàu tách ra khỏi chiến hạm Trung Quốc và không cho thủy thủ đoàn nổ súng. Trong khi đó, các chiến hạm Trần Khánh Dư, Trần Bình Trọng, Nhật Tảo đang ráo riết bố trí sát các đảo Hoàng Sa, Cam Tuyền và Vĩnh Lạc. Bây giờ trên vùng hải đảo cách xa Đà Nẳng 200 hải lý đã đầy bóng chiến hạm của hai bên. Súng tua tủa chỉa vào nhau, những họng súng khổng lồ 127 ly, 76 ly cho đến 40 ly, đại bác 20 ly, các giàn súng trên các chiến hạm của Hải quân V.N.C.H. đã hạ cao độ và hướng ngay chiến hạm địch, nhưng các thủy thủ vẫn tuân lệnh không được phép nổ súng. Chiến Kronstadt 271 bắt đầu xin liên lạc bằng quang hiệu. Tuần dương hạm HQ5 trả lời thuận và nhận công điện bằng Anh ngữ: ” These islands belong to the People Republic of China since Ming dynasty – STOP – Nobody can deny. ” Đại tá Ngạc đã cho gởi ngay một công điện khái quát như sau: ” Please leave our territorial water immediately. ”
Khi đó bên phía các tàu Trung Quốc thì các thủy thủ lô nhô trong các ụ pháo lớn và cácn dàn hỏa tiển chỉa thẳng vào các chiến hạm V.N.C.H. Sau đó quân Trung Quốc tiếp tục vận chuyển tàu cố đâm vào chiến hạm Lý Thường Kiệt. Hạm Trưởng tàu Lý Thường Kiệt đã bình tĩnh khéo léo điều khiển chiến hạm tránh những va chạm hết sức nguy hiểm. Giây phút cực kỳ nghiêm trọng đã đến, các chiến hạm Trung quốc bám sát các chiến hạm V.N.C.H. Đối phương cho đổ bộ thêm quân lên đảo Quang Hòa. Trước đó tuần dương hạm Lý Thường Kiệt đã đổ bộ một toán đặc nhiệm lên đão Vĩnh Lạc để hạ cờ Trung Quốc và để tửu thủ bảo vệ đảo này.
Vào khoảng 10 giờ tối, Đại tá Hà Văn Ngạc trực tiếp nói chuyện bằng vô tuyến điện với tất cả hạm trưởng để cho hay là tình hình sẽ khó tránh được một cuộc đụng độ và yêu cầu các vị này chỉ huy các chiến hạm và huy động tinh thần nhân viên để sẵn sàng chiến đấu. Lúc này HQ10 cũng đã nhập vùng.
Vào khoảng 11:00 giờ tối, một công điện mật mang lệnh hành quân của Bộ tư lệnh Vùng 1 Duyên hải như sau: Tái chiếm một cách hòa bình đảo Quang Hòa.
Ngay sau khi nhận được lệnh hành quân, Đạitá Hà văn Ngạc đã chia hải hành thành hai phân đoàn đặc nhiệm:
1. Phân đoàn I là nổ lực chính gồm Khu trục hạm HQ4 và Tuần dương hạm HQ5 do Hạm trưởng Khu trục hạm HQ4 chỉ huy.
2. Phân đoàn II là nỗ lực phụ gồm Tuần dương hạm HQ16 và Hộ tống hạm HQ10 do Hạm trưởng Tuần dương hạm HQ16 chỉ huy. Nhiệm vụ là phân đoàn II giữ nguyên vị trí trong lòng chảo Hoàng Sa để tiến về đảo Quang Hòa vào buổi sáng. Phân đoàn I khởi hành vào 12:00 đêm đi bọc về phí tây rồi xuống phía Nam sẽ có mặt tại Nam đảo Quang Hòa vào 06:00 sáng ngày hôm sau tức là ngay 19 để đổ bộ biệt đội hải kích. Phân đoàn I phải đi bọc ra phía Tây quần đảo thay vì đi thẳng từ đảo Hoàng Sa xuống đảo Quang Hòa là để tránh việc các chiến hạm Trung Quốc có thể lại vận chuyển ngăn chận đường tiến của chiến hạm như Trung Quốc đã làm vào buổi chiều.
Sáng sớm 5:25 phút ngày 19-01-1974 (nhằm ngày 27 tháng chạp), nhiệm sở tác chiến toàn diện đã được ban hành. Lúc 6:00 sáng Phân đoàn I đã có mặt tại Tây Nam đảo Quang Hòa, thủy triều lớn, tầm quan sát trong vòng 1.5 đến 2 hải lý, trời có ít mây thấp thoáng nhưng không mưa, gió Đông Bắc thổi nhẹ, biển tương đối êm tuy có sóng ngầm. Phân đoàn I tiến sát vào đảo khoảng hơn một hải lý, Tuần dương hạm HQ5 nằm gần bờ hơn một chút để thuận tiện đổ bộ hải kích. Toán Hải kích SEAL (Người Nhái) của Hải quân V.N.C.H. được lệnh đổ quân lên đảo Quang Hòa do Trung Quốc chiếm cứ trước đó. Biệt đội Hải kích do Hải quân Đại úy Nguyễn Minh Cảnh chỉ huy đã được Đại tá Ngạc chỉ thị là không được nổ súng và lên bờ yêu cầu toán quân của Trung Quốc rời đảo. Biệt đội Hải kích tiến vào đảo Quang Hòa bằng hai xuồng cao su. Các chiến hạm Trung Quốc cũng không có phản ứng gì đối với xuồng của toán Hải kích. Lúc này Trung Quốc đã tăng cường thêm hai trục lôi hạm (tàu vớt mìn) mang số 389 và 396 trong đêm. Theo báo cáo của Biệt đội trưởng Hải kích thì chiến sĩ hải kích Đỗ Văn Long và người đầu tiên tiến vào trong, nên đã bị hỏa lực trong bờ bắn tử thương ngay tại bãi biển. Hải quân Trung úy Lê Văn Đơn (xuất thân từ Bộ binh) tiến vào để thu hồi tử thi của liệt sĩ long cũng lại bị tử thương ngay gần xuồng, nên tử thi của vị sĩ quan này được thu hồi ngay sau đó. Trên đảo Quang Hòa lúc này, Trung Quốc đã dựng năm dãy nhà tiền ạđổ bộ được báo cáo ngay về Bộ tư lệnh Hải quân Vùng I Duyên hải và chừng ít phút sau đó (vào khoảng 09:30 sáng) thì đích thân Tư lệnh Hải quân V.N.C.H. Trần Văn Chơn ra lệnh vắn tắt có hai chữ: ” Khai Hỏa ” bằng bạch văn cho Hải đoàn Đặc nhiệm. Qua hệ thống siêu tần Đại tá Đỗ Kiểm ra lệnh khai hỏa cho ” Kình Ngư 5 ” (mật danh của Dại tá Ngạc.) Đại tá Hà Văn Ngạc sau đó đích thân vào máy siêu tần số (SSB) trình bày là chưa có thể khai hỏa được vì phải chờ sự triệt thoái Biệt đội Hải kích về lại chiến hạm, họ vẫn còn trên mặt biển và ở vào vị thế rất nguy hiểm. Ngay lúc đó, toán Hải kích dùng xuồng cao su rút về được chiến hạm HQ5.
Lúc 10:24 phút sáng ngày 19-01-1974 (nhằm ngày 27 tháng 12 năm 1973 âm lịch) các chiến hạm hai bên dàn hình đối mặt. Hải quân V.N.C.H. ở vòng ngoài tiến về hướng Đông Nam vào. Trung Quốc vây quanh đảo Quang Hòa, hướng về phía Đông Bắc nghênh chiến. Các chiến hạm ở tư thế đối đầu như sau:
Chiến hạm Kronstadt 274 đối đầu với HQ5 ; chiến hạm Kronstadt 271 đối đầu với HQ4 ; tàu 396 đối đầu với HQ10 và tàu 389 đối đầu với HQ16.
Lúc 10:25 phút sáng, Sĩ quan chỉ huy chiến thuật Hải quân Đại tá Hà Văn Ngạc đã ra lịnh khai hỏa, tác xạ trực tiếp vào tàu địch. Đại tá Hà Văn Ngạc vào trung tâm chiến báo trực tiếp báo cáo bằng máy siêu tần số SSB, đại tá Ngạc đã cố ý giữ ống nói sau khi chấm dứt báo cáo để tiếng nổ của hải pháo cũng được truyền đi trên hệ thống này. Cuộc khai hỏa tấn công đã đạt được yếu tố bát ngờ cho các chiến hạm địch vì Trung Quốc vẫn tin là các hành động của chiến hạm V.N.C.H. cũng tương tự như trong những ngày trước, như khi Hải quân Việt Nam đổ quân trên các đảo Cam Tuyền, Vĩnh lạc và Duy Mộng và nhất là cuộc phô diễn lực lượng của hải đoàn đặc nhiệm ngày hôm trước Hải quân Việt Nam đã không có một hành động khiêu khích nào, mà còn chấp thuận giữ liên lạc bằng quang hiệu.
Chiến hạm Kronstadt 271 nằm về hướng Tây gần đảo Quang Hòa, hướng mũi về phía Tây là mục tiêu của Tuần dương hạm HQ5 đang hướng mũi vào bờ tức là phía Đông, đặt mục tiêu về phía tả hạm (tức là phía bắc.) Chiếc này bị trúng đạn ngay từ phút đầu, nó vận chuyển rất chậm chạp, nên đã là mục tiêu rất tốt cho Tuần dương hạm HQ5. Hộ tống hạm HQ10 Nhật Tảo đã bắn trúng hầm máy của chiếc soái hạm Trung Quốc 271. Ngọn lửa bùng lên dữ dội. Tiếp đó một loạt súng trúng thêm tàu địch, đài radar bị gãy gập xuống. Chiếc soái hạm Trung Quốc 271 trúng đạn, cố chạy tránh khỏi tầm hỏa lực của Hải quân V.N.C.H. nhưng vì trở ngại kỹ thuật, kẹt bánh lái nên con tàu cứ phải chạy vòng quanh trước mũi các chiến hạm làm bia cho các hải pháo của Hải quân V.N.C.H. Cuối cùng thủy thủ đoàn của chiến hạm 271 đã phải nhảy xuống biển đào thoát. Hỏa lực của chiếc Kronstadt 271 này không gây nhiều thiệt hại cho Tuần dương hạm HQ5 Trần Bình Trọng, nhưng nó đã gây thiệt hại nặng cho Hộ tống hạm HQ10 Nhật Tảo nằm về phía Bắc. Khu trục hạm HQ4 Trần Khánh Dư nằm về phía Tây Nam của Tuần dương hạm HQ5 đặt mục tiêu là chiếc Kronstadt 274 nằm về phía Bắc, tức là tả hạm của chiến hạm. Nhưng chẳng may, chiến hạm HQ4 Trần Khánh Dư báo cáo bị trở ngại tác xạ ngay từ phút đầu tiên và phải chờ sửa chữa. Sau vài phút thì chiến hạm này bắn thử và kết quả vẫn bị trở ngại và tiếp tục sửa chữa thêm. Vài phút sau, tác xạ tiếp nhưng vẫn bị trở ngại, tuy nhiên chiến hạm này vẫn tiếp tục bám sát mục tiêu của mình trong tầm các loại đạn đại liên, nên đã bị thiệt hại nhiều bởi hỏa lực của chiếc Kronstadt 274, và đại liên đã không áp đảo được hỏa lực của địch. Trên Tuần dương hạm HQ5, Đại tá Ngạc xử dụng chiếc máy PRC25 trước ghế hạm trưởng bên hữu ngạn của đài chỉ huy để liên lạc với cvác chiến hạm, Đại tá Ngạc vừa rời ghế để ra ngoài quan sát hai phía thì một trái đạn loại nổ mạnh gây một lỗ thủng khoảng nửa thước đường kính và làm nát máy PRC, nên từ phút này trở đi Đại tá Ngạc phải vào Trung tâm chiến báo (CIC – Command Information Center) để dùng máy VRC46.
Sau chừng 15 phút thì Tuần dương hạm HQ16 Lý Thường Kiệt báo cáo bị trúng đạn hầm máy, tàu bị nghiêng nên khả năng vận chuyển giảm sút, xin rút lui ra ngoài vòng chiến để sửa chữa và không còn liên lạc được với Hộ tống hạm HQ10, không biết rõ tình trạng và chỉ thấy nhân viên đang đào thoát. Lúc bấy giờ lượng nước biển tràn vào hầm tàu của HQ16 khá nhiều, toán phòng tai (phòng bị tai nạn) ráo riết làm biệc hàn gắn các lỗ thủng và dùng bơm cứu hỏa hút nước ra khỏi hầm. Công việc quả là gian lao vì những lỗ hổng quá nhiều và quá lớn. Chiến hạm nghiêng với tốc dộ đều đặn và càng khủng khiếp dần: 8 độ tả, 9, 10, …. dần dần tới 13 độ… Dù trong tình trạng nguy kịch, nhưng hải pháo từ Tuần dương hạm HQ16 vẫn tác xạ. Giữa những phút nguy kịch và quan trọng này, các toán phòng tai báo cáo đã bít được một số lỗ đạn và cô lập được hầm đạn, nước không tràn vào các hầm khác được. Do đó, Tuần dương hạm HQ16 vẫn còn được điều khiển dù bị nghiêng một bên. Đại tá Ngạc nhận thấy một tuần dương hạm đã vận chuyển nặng nề mà chỉ còn một máy và bị nghiêng, nếu tiếp tục chiến đấu sẽ là mục tiêu tốt cho địch, nên Đại tá Ngạc đã không ra phản lịnh. Khu trục hạm HQ4 đã bị thiệt hại nhiều sau khi bám sát chiến hạm địch trong tầm đại liên, nên Đại tá Ngạc ra lệnh cho Khu trục hạm HQ4 phải rút ra khỏi vòng chiến và chỉ thị cho Tuần dương hạm HQ5 yểm trợ cho chiếc này khi tiến ra xa, vì tất nhiên Hải đội Đặc nhiệm không thể để bị thiệt hại một khu trục hạm mà Hải quân V.N.C.H. chỉ có tổng cộng hai chiếc mà thôi.
Khi Khu trục hạm HQ4 ra khỏi vùng chiến, không bị chiếc Kronstadt 274 truy kích hoặc tác xạ, ngược lại chiếc này của địch có phần rảnh tay để tấn công Tuần dương hạm HQ5 vào phía hũu hầu giảm bớt hỏa lực của chiến hạm ta để cứu vãn chiếc 271 đang bị tê liệt. Vào giờ này thì tin tức từ Bộ tư lệnh Hải quân tại Saigon cho chính Tham Mưu Phó Hành Quân cho hay là một phi đội khu trục co A37 sẽ cất cánh tại Đà Nẳng để yểm trợ cho Hải đoàn Đặc nhiệm. Loại phi ơ A37 chỉ có thể yêm trợ trong vòng 5 tới 15 phút vì khoảng cách từ Đà Nẳng tới Hoàng Sa quá xa so với nhiên liệu dự trữ. Một kế hoạch khác nửa của Không quân là dùng các Dương vạn hạm chở trực thăng chiến đấu ra Hoàng Sa. Kế hoạch này bất khả thi vì chưa được xử dụng bao giờ. Máy VRC46 của Trung tâm Chiến báo đã phải chuyển sang tần số không hải và đích thân Đại tá Ngạc dùng danh hiệu để bắt liên lạc với phi đoàn A37. Bất thình lình, một viên đạn xuyên phá nổ trúng ngay Trung tâm Chiến báo (CIC) từ hữu hạm, làm trung tâm bị phát hỏa. Máy không còn dùng được trong băng tần không hải mặc dù sau đó Đại tá Ngạc vẫn tiếp tục liên lạc với toán phi cơ, nhưng sau đó chừng 10 phút vẫn không thấy đáp ứng nên phải ngưng và chuyển tần số với các chiến hạm khác, vì cuộc giao tranh đã đến độ khốc liệt hơn. Phi đoàn yểm trợ A37 vì không liên lạc được với Hải quân nên không cất cánh được dù đã ở trong tình trạng chuẩn bị.
Lúc này Tuần dương hạm HQ5 bị trúng nhiều đạn lám Sĩ quan trưởng khẩu 127 ly tử thương và hải pháo bị bất khiển dụng vì phần điện điều khiển pháo tháp bị tê liệt và máy siêu tần số SSB không còn liên lạc được vì dây trời bị sập rớt xuống sàn tàu. Sau đó hầm đạn bị phát hỏa, Đại tá Ngạc đã ra lệnh làm ngập hầm đạn nhằm tránh thiệt hại thêm.
Hộ tống hạm HQ10 đã được chỉ định mục tiêu tác xạ tàu 396. Trong 5 phút đầu tiên, các khẩu pháo trên HQ10 bắn tê liệt tàu 396. Sau 5 phút giao tranh, các chiến hạm V.N.C.H. đã bắn hạ bốn chiến hạm Trung Quốc, chiếc tàu 396 bị trúng đạn của HQ10, tiếp đến tàu 271 bị trúng thương, hư bánh lái phải lủi vào bãi san hô rồi tự hủy. Chiếc thứ ba 274 bị trúng đạn phát hỏa dử dội, rồi sau đó chiếc thứ tư của Trung Quốc cũng bị hải pháo của Hải quân V.N.C.H. bắn cháy. Bị thất bại nặng, đoàn chiến hạm Trung Quốc đã điều động thêm hai chiến hạm mang số 281 và 282 tăng cường để tập trung hỏa lực tấn công HQ10. Chiến hạm HQ10 sau đó bị trúng đạn ở phòng máy chánh, tàu bị nghiêng sang mạn phải, Hạm trưởng Ngụy Văn Thà bị thương và một số thủy đoàn đã hy sinh. Một số tài liệu cho rằng HQ10 bị trúng hỏa tiển viễn khiển Styx hay các loại khác có tính năng tương tự. Xét ra giả thuyết này có phần sai lầm vì các tàu Trung Quốc Komar có dàn hỏa tiển Styx chưa xuất hiện hay nhập cuộc lúc này. Còn các loại hỏa tiển xách tay (B40, B41, SaggerAT-3) thì có tầm tác xạ ngắn hơn khoảng cách giữa các tàu (15 hải ly) và không đủ sức công phá để làm tàu HQ10 chìm. Kết luận đúng đắn là tài HQ10 100mm từ tàu Trung Quốc. Ngoài ra, tàu HQ10 đã phạm sai lầm về chiến thuật khi để cả hai vị chỉ huy cao cấp nhất cùng vào một phòng chỉ huy. Tàu HQ10 đã bị thiệt hại nặng ở Bộ chỉ huy, do đó cả hai vị Hạm trưởng và hạm phó đều bị thương nặng. Tuy ở trong tình trạng nguy kịch, Hạm trưởng Ngụy Văn Thà và thủy đoàn HQ10 vẫn quyết chiến với các tàu Trung Quốc. Vừa tự cứu chiến hạm vừa tập trung hỏa lực chống trả hai chiến hạm Trung Quốc. Cuối cùng, hạm Trương Ngụy Văn Thà đã ra lệnh ” nhiệm sở đào thoát ” cho hạm phó Nguyễn Thành Trí và thủy thủ đoàn còn lại. Hạm trưởng thì nhất quyết ở lại tàu, ông ra lệnh cho thủy thủ đoàn và các sĩ quan rời tàu, hạm phó Nguyễn Thành Trí xin ở lại nhưng không được chấp thuận. Sau khi hạm phó di chuyển xuống bè, một số thủy thủ lên tàu xin chuyển hạm trưởng xuống theo, nhưng hạm trưởng Ngụy Văn Thà vẫy tay từ biệt mọi người. Bên cạnh hạm trưởng, hạ sĩ Đinh Hoàng Mai (đang bị thương nặng) cũng xin được noi gương hạm trưởng sống chết theo chiến hạm. Và trong vùng lửa đạn mịt mù, thủy thủ đoàn tách bè khỏi chiến hạm, tất cả đều rưng rưng nước mắt. Hạm trưởng Ngụy Văn Thà đã chấp nhận hy sinh đền nợ nước trong cuộc chiến tàn khốc để bảo vệ sự toàn vẹn của non sông Việt Nan. Hạm phó Nguyễn Thành Trí dù bị thương nặng vẫn đem hết sức lực điều động anh em, bốn chiếc bè đã được cột chung làm một để chống chọi với biển cả hải hùng và các tàu Trung Quốc vẫn còn lảng vảng đó đây. Cuối cùng dưới cái nắng thiêu đốt ban ngày, do quá mất nhiều máu, hạm phó Nguyễn Thành Trí cũng đã vĩnh viễn ra đi, các thủy thủ đoàn làm lễ thủy táng người hạm phó anh hùng giữa đại dương bao la theo truyền thống của quân chủng Hải quân.
Lúc đó, HQ16 cũng đang trong tình trạng khá bi đát. Vì một hầm chủ lực ở tả hạm đã bị ngập làm bất khiển dụng hai máy chánh, hai máy điện độc nhất và một máy ép gió còn lại. Tàu bị mất điện hoàn toàn, radar ngừng chạy, mất liên lạc truyền tin với các đơn vị bạn là cho HQ4, HQ5 và Bộ tư lệnh Hải quân Vùng I tưởng rằng HQ16 cũng đã đào thoát hay chìm sâu dưới lòng đại dương. Vì la bàn điện không sử dụng được nên tày phải xử dụng là bàn tư. Khó khăn nhất cho tàu vẫn là tay lái điện. Tàu hiện tại chỉ chạy với một chân nếu có đủ tay lái điện, việc lái tàu cũng là một khó khăn khi vượt qua giữa vùng san hô bao bọc quanh đảo. Vì bánh lái tại đài chỉ huy không hoạt động được, nên hạm trưởng phải điều động những nhân viên to con khỏe mạnh xuống hầm bánh lái để trực tiếp quay bằng tay cái bánh lái khổng lồ. Thế nên đường đi của tàu HQ10 không phải là một đường thẳng, nhưng là một đường chữ chi ngoằn ngèo như con rắn. Trên tàu chỉ còn lại một máy truyền tin PRC25, để liên lạc và nói chuyện với Trung úy Liêm trên đảo. Sau khi thông báo tình hình bất khả kháng của HQ16, hạm trưởng đã động viên anh em hãy dùng bè đào thoát, cố gắng vượt ra khỏi vùng trước khi Trung Quốc tới chiếm, đồng thời yêu cầu mọi người thông cảm cho sự bất lực của ông. Giữa hai sự lựa chọn, ông phải đưa cả trăm người về nơi an toàn.
Bất thần về phía Đông vào khoảng 11:25 phút sáng, cách xa chừng 8 đến 10 hải lý xuất hiện một chiến hạm Komar của Trung Quốc có trang bị mỗi bên một giàn phóng kép hỏa tiển loại hải hải Styx, đang tiến vào vùng giao tranh với một tốc độ cao, quan sát được bằng viễn kính, và không một chiến hạm V.N.C.H. nào đã báo cáo khám phá ra được bằng radar từ xa. Đến 11;27 phút, qua màn ảnh radar không thám, Trung tâm Chiến báo phát giác và báo cáo một phi đội phản lực cơ (Mig19 và MIg21) đang tiến về phía đảo Hoàng Sa. Với tình trạng của hải đội Đặc nhiệm: một hộ tống hạm bị loại ra khỏi vòng chiến, một tuần dương hạm bị thương nơi hầm máy, một khu trục hạm và một tuần dương hạm chỉ còn hỏa lực rất hạn chế, cộng với nguy cơ bị tấn công bằng hỏa tiển hải hải cũng như bằng phi cơ rất có thể xảy ra, nên Đại tá Ngạc đã triệt thoái phần còn lại của lực lượng là Khu trục hạm HQ4 và Tuần dương hạm HQ5 ra khỏi vùng Hoàng Sa tiến hướng Đông Nam về phía Subic Bay (Hải quân Công xưởng Hoa Kỳ tại Phi Luật Tân.)
Sau khi hai chiến hạm còn lại rút ra khỏi vùng giao tranh chừng 10 phút thì một trận mưa nhẹ đã đổ xuống toàn vùng quần đảo Hoàng Sa. Các chiến hạm V.N.C.H. đã không bị truy kích và phi cơ Mig19 và Mig21 cũng chưa xuất hiện. Mục đích hải hành về phía Đông Nam là để tránh bị phục kích của tiềm thủy đỉnh Trung Quốc tại hải trình Hoàng Sa – Đà Nẳng. Và khi ra ngoài xa lãnh hải thì nếu còn bị tấn công bằng phi cơ hoặc tiềm thủy đỉnh thì may ra đồng minh Hải quân Hoa Kỳ có thể cấp cứu dễ dàng hơn theo tinh thần cấp cứu hàng hải quốc tế.
Tuần dương hạm HQ5 phải mất gần một giờ mới kéo lên được dây trời khẩn cấp để tái lập sự liên lạc bằng máy siêu tần số SSB. Hầm đạn phía mũi của chiến hạm đã bị làm ngập, mũi bị chúc xuống nên tốc độ bị thuyên giảm.
Vào khoảng 01:00 trưa, hai chiến hạm HQ4 và HQ5 đã cách đảo Hoàng Sa chừng 10 hải lý, trời nắng và quang đảng. Một cái may mắn cho đoàn tàu của Hải quân V.N.C.H. là các tàu vẫn còn có gắn mày dò Sonar để định vị tàu ngầm, nên các tàu ngầm Trung Quốc (xuất phát từ căn cứ Du Linh – Yulin) đã không săn đuổi theo. Nếu đã bị gỡ máy dò Sonar thì có lẽ sẽ bị tàu ngầm Trung quốc săn đuổi và thiệt hại lớn hơn nhiều. Sau đó, vị Tư lệnh Hải quân đích thân ra lệnh cho hai chiếm hạm phải trở lại Hoàng Sa và ủi bãi lên các đảo nếu cần (Việt Nam Cộng Hòa cần bằng chứng với quốc tế chính xác là các tài Hải quân V.N.C.H. trên các đảo Hoàng Sa), Đại tá Ngạc nhận được giọng nói của Đô đốc Trần văn Chơn. Lệnh đã được thi hành nghiêm chỉnh ngay tức khắc. Sau khi liên lạc vô tuyến điện siêu tần số điều hòa trở lại thì mọi báo cáo về chi tiết tổn thất và tình trạng lúc bấy giờ của hai chiến hạm được chuyển đầy đủ. Trên Tuần dương hạm HQ5, Đại tá Ngạc cũng được thông báo về Tuần dương hạm HQ16 sẽ được Tuần dương ham HQ6 tới hộ tống về căn cứ Hải quân Đà nẳng.
Đến khoảng 02:30 chiều, khi cả hai chiến hạm đang trở về Hoàng Sa, quá ngang hòn Tri Tôn, nghĩa là còn cách đảo Hoàng Sa một giờ rưỡi hải hành nửa, thì hai chiến hạm được phản lệnh trở về Đà Nẳng. Lúc này trời đã nắng, mây cao nên rất dễ dàng cho việc hải hành.
Vào khoảng 2 giờ đêm, Đại tá Ngạc soạn thảo một sơ đồ hành quân và các chi tiết về tổn thất để chuẩn bị thuyết trình, khi về tới căn cứ.
Khoảng 7 giờ sáng ngày 20 tháng 1 thì hai chiến hạm của Phân đoàn I về tới căn cứ an toàn. Tuần dương hạm HQ16 cũng đã về bến trước đó ít lâu. Tại đầu cầu Thương cảng Đà Nẳng, các vị Đô Đốc Tư lệnh và Tư lệnh phó Hải quân V.N.C.H., Đô Đốc Tư lệnh Hải quân Vùng I Duyên hải, một số đông sĩ quan cùng nhân viên của các đơn vị Hải quân vùng Đà Nẳng, cùng các trại gia binh đã túc trực đón đoàn chiến hạm trở về với rừng biểu ngữ:
“Hải quân Việt Nam quyết tâm bảo vệ lãnh thổ đến giọt máu cuối cùng”
“Một ý chí chống Cộng, một lời thề: Bảo vệ quê hương”
“Hoan hô tinh thần chiến đấu anh dũng của các chiến sĩ Hải quân tham dự hải chiến Hoàng Sa”
“Hoan hô tinh thần bất khuất của các chiến sĩ hải chiến Hoàng Sa”

By chauxuannguyenblog Posted in QLVNCH

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s