Sàigòn Ngày Tháng Cuối

Tại sao người dân miền Nam này không ở lại để được giải phóng ??? Có lẽ nhìn xã hội VN ngày nay chúng ta sẽ rất dễ thấy rằng cả thế giới tởm lợm chủ nghỉa Cộng Sản của Hồ Chí Minh du nhập về.

———————————————————-

Ngày 30 tháng Tư năm 1975 thì Miền Nam mà trái tim là Sàigòn trút hơi thở cuối
cùng.

Thế là sau năm năm làm việc với Đệ Thất Không Đoàn Hoa Kỳ tại
Tân Sơn Nhất, Sàigòn, tôi lại chuyển qua một nhiệm sở mới là Toà Đại Sứ Mỹ cũng
tại thủ đô Sàigòn. Những tay sĩ quan và hạ sĩ quan trẻ của đơn vị gọi là Phân
Đội Alpha của Đệ Thất Không Đoàn là những người lính thật là vui vẻ cởi mở và
rất là thân thiện mà tôi không bao giờ quên được nhất là sau bao nhiêu chuyến
công tác, bao nhiêu chuyến bay trên vận tải cơ khổng lồ Hercules C-130 ra Vùng I
và Vùng II Chiến Thuật.

Thời gian vẫn không ngừng trôi và con người cũng
phải thích ứng với không gian mới. Tôi được điều về Đoàn Liên Lạc Hoa Kỳ để yểm
trợ một Phụ Bộ thuộc Phủ Tổng Thống. Nội dung công việc cũng không có gì thay
đổi nhiều, cũng vẫn là tóm tắt và tổng kết những tin tức về quân sự mà hai bên
Việt Mỹ đã thâu lượm được để tường trình lên cấp trên.

Nhờ vào thời gian
làm việc cho Không Quân Mỹ và Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ mà tôi ý thức được rằng người Mỹ
nắm rất vững về những tình hình biến chuyển trên chiến trường, tương quan lực
lượng đôi bên và cũng biết rất rõ về đối phương tức là Cộng quân Bắc Việt và đám
Việt Cộng trong Nam; và Hoa Kỳ có một sức mạnh quân sự phải nói là khủng khiếp
thừa sức đè bẹp Cộng quân bất cứ lúc nào.

Chính vì thế mà niềm tin của
tôi vào đồng minh Hoa Kỳ đã từ từ thuyên giảm một cách rõ rệt khi thấy người Mỹ
khoanh tay để cho Cộng Sản tràn vào các đô thị kể cả Sàigòn và Chợ Lớn ngày Tết
Mậu Thân. Họ cũng chấp nhận những sự di tản chiến thuật rút khỏi tỉnh Phước
Long, rồi sau nầy khỏi Kông Tum Plei Ku, Vùng II để xẩy ra Đại Lộ Kinh Hoàng là
dịp cho Cộng quân pháo kích giết hại hơn hai chục ngàn dân lành dọc theo Quốc Lộ
này. Họ đã đem B-52 ra Miền bắc để rải thảm 12 ngày đêm kể cả thủ đô của Công
Sản là Hà Nội và phong tỏa cảng Hải Phòng nhưng lại ngừng ngay cuộc ném bom đó
khi Hà Nội đồng ý quay trở lại bàn đàm phán.

Hiệp Định Paris được ký kết
một cách đơn phương giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt dù rằng phía VNCH chúng ta cực lực
phản đối. Hoa Kỳ vẫn ký để đơn phương rút quân kể cả các cố vấn ra khỏi Miền Nam
trong khi họ biết chắc chắn rằng Bắc Việt sẽ vi phạm hiệp định và vẫn bám chặt
vào các căn cứ địa của nó tại Miền Nam. Những năm ’60, khi họ đến với chúng ta
trên danh nghĩa Đồng Minh thì họ cam kết với chúng ta để chống lại sự bành
trướng của Cộng Sản trong vùng Đông Nam Á. Khi họ muốn rút đi những năm đầu của
thập niên ’70, thì họ lại ký kết với kẻ thù chứ không cần đến ý kiến và chữ ký
của chúng ta nữa. Hiệp Định Paris chính là con dao mà đồng minh Hoa Kỳ đã ngầm
đưa cho Cộng Sản Việt Nam và quan thầy của chúng để thanh toán chế độ VNCH chúng
ta nhanh chóng hơn.

Quả thật là làm đối thủ của Hoa Kỳ dễ hơn rất nhiều
so với làm đồng minh của họ bởi vì hầu như người Mỹ kể cả Tổng Thống của họ
nhiều khi công khai hoá luôn cả những kế hoạch mà họ dự tính.

Sau khi ký
kết được như ý muốn Hiệp Định Paris thì đồng minh Hoa Kỳ lại thi hành một chiến
thuật cắt giảm viện trợ cả về quân sự lẫn kinh tế trong chiến lược bỏ rơi đồng
minh VNCH đơn độc chiến đấu trong tình trạng thiếu súng ống đạn dược và nhiên
liệu để chống lại cả một khối Cộng Sản Quốc Tế đầy gian manh và hiểm độc đang
yểm trợ mạnh mẽ cho Cộng Sản Bắc việt và đám VC trong Nam “đánh cho đến người
Việt Nam cuối cùng”.

Trong lịch sử loài người tự cổ chí kim có lẽ không
có một cuộc chiến đấu nào can trường anh dũng và oai hùng hơn cuộc chiến đấu của
Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà – chiến đấu trong đơn độc nhưng với một chính nghĩa
sáng ngời và một lòng quả cảm vô biên đến viên đạn và hơi thở cuối
cùng.

Một mình chiến đấu bảo vệ Miền Nam chống lại cả một khối Cộng Sản
bao gồm Nga Sô, Trung Cộng, Khối CS Đông Âu, Bắc Hàn, Cu Ba và CS Việt Nam, dù
rằng Mỹ và đồng minh đã bỏ mình ra đi – chứ không chịu đầu hàng giặc phiến Cộng
cõng rắn Trung Cộng và Nga Sô vào cắn gà nhà.

Thế rồi cái gì phải đến đã
xảy ra, Miền Nam bị lui dần vào thế bị động dù rằng tinh thần quân dân cán chính
vẫn vững vàng nhưng súng thì thiếu đạn dược và chiến đấu cơ thiếu nhiên liệu thì
không thể chống lại được quân xâm lược Cộng Sản đã càng lúc càng mạnh hơn kể từ
khi Hoa Kỳ và các lực lượng đồng minh khác như Úc, Tân Tây Lan, Phi Luật Tân,
Đại Hàn, v.v., lần lượt rút lui khỏi Miền Nam ngay sau khi Hiệp Định Paris ký
kết ngày 27 tháng Giêng năm 1973.

Qua đầu năm 1975 thì tình hình càng lúc
càng tồi tệ hơn và VNCH lúc đó giống y như vị anh hùng Samson, trong truyện phim
Samson & Dalilah, mắt đã không còn nhìn thấy gì và với bộ tóc đã bị cắt
ngắn, tượng trưng cho sức mạnh không còn nữa của Samson, và tay chân thì bị
xiềng xích, đang bị một bọn người lùn khả ố đang dùng những chiếc kìm sắt dứt ra
từng miếng thịt trên thân thể của mình.

Ngày 30 tháng Tư năm 1975 thì
Miền Nam mà trái tim là Sàigòn trút hơi thở cuối cùng.

Trong thời gian bị
tập trung trong trại giam ở Miền Bắc tôi có một dịp may được chuyền tay đọc một
tạp chí Reader’s Digest là cuốn nguyệt san mà tôi thích nhất trước kia, trong đó
có một bài viết mà tôi không sao quên được của một vị luật sư người Cu Ba về sự
thất bại của cuộc đổ bộ tại Vịnh Con Heo. Sau khi cuộc đổ bộ thất bại và chế độ
Fidel Castro đang khủng bố, đàn áp và trả thù tàn bạo những người Cách Mạng Cu
Ba Tự Do thì vị luật sư này đã trốn thoát được qua Hoa Kỳ và ông ta thề rằng nếu
phải bỏ ra hai mươi năm để tìm hiểu tại sao cuộc đổ bộ hoàn hảo như vậy để tái
chiếm lại Cu Ba và lật đổ chế độ của Fidel Castro mà cuối cùng lại thất bại thì
ông ta cũng phải đi tìm.

Cuộc đổ bộ này đã được tập dượt và coi như là
toàn hảo với sự yểm trợ của không quân Mỹ để làm cỏ những chiếc máy bay cũ kỹ
của Cu Ba trong lúc lực lượng Cách Mạng Cu Ba lưu vong đang đổ bộ lên Vịnh Con
Heo để tiến vào tái chiếm Cu Ba. Câu trả lời mà ông ta tim ra được là kế hoạch
đã được chu toàn vào thời gian cuối của nhiệm kỳ Tổng Thống Eisenhower; nhưng
lúc thi hành thì giờ phút chót TT John Kennedy đã ra lệnh hủy bỏ toàn bộ kế
hoạch và không quân Mỹ đã không xuất hiện như mong đợi, và kết quả là lực lượng
đổ bộ nằm phơi mình trên bãi biển cho từng đoàn máy bay của Fidel Castro đến dội
bom và oanh kích. Cuộc nổi dậy và tái chiếm Cu Ba bị dập tắt trong uất hận và
ngậm ngùi. Chúng ta có thể hình dung ra được sự trả thù tàn bạo của Fidel Castro
đối với những chiến sỹ Cu Ba Tự Do còn sống sót sau lần đổ bộ ấy như thế nào
rồi.

Đầu tháng Tư năm 1975, tình hình rất là xáo trộn bất lợi cho chế độ
VNCH vì Hoa Kỳ đã để lộ rõ cho cả đồng minh VNCH và cả kẻ thù là CS Bắc Việt
thấy rằng Mỹ đang di tản nhân viên Sứ Quán của họ ra khỏi Miền Nam. Văn Phòng
Tùy Viên Quân Sự (Defense Attache’s Office: D.A.O) được lệnh di tản
trước.

Tôi vào họp với các cố vấn Mỹ thuộc Toà Đại Sứ vào đầu tháng Tư
thì nhận được chỉ thị rằng tất cả những nhân viên nào mà không thiết yếu
(non-essential)thì sẽ được ưu tiên di tản trước với gia đình của họ, và những
nhân viên nào thiết yếu (essential) thì phải ở lại để yểm trợ cho các Phủ Bộ,
các cơ quan, Bộ Tư lệnh Cảnh Sát, v.v. của VNCH đến giờ phút cuối
cùng.

Tôi và một số bạn đồng nghiệp được lệnh ở lại và được các cố vấn
cam kết là sẽ có trực thăng đến tận nhà để đón chúng tôi vào giờ phút cuối cùng
của Sàigòn.

Lần lượt một số bạn đồng nghiệp của tôi đã ra đi theo gia
đình làm việc cho cơ quan D.A.O. và chúng tôi vẫn ở lại.

Đến ngày 27
tháng Tư năm 1975 tôi được triệu tập vào Tòa Đại Sứ họp một lần nữa và không ngờ
rằng đó là lần họp cuối cùng khi các cố vấn Mỹ tuyên bố rằng bây giờ thì về nhà
để chờ đợi di tản vì mọi công việc thường nhật đã không còn cần thiết nữa và
tình hình không còn cứu vãn được.

Tôi ra về trong lòng nặng trĩu vì người
anh Cả của tôi lúc đó là Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng của Sư Đoàn 5 Bộ Binh đã mất
tích. Chỉ có độc nhất một gia đình người anh thứ ba là Thiếu Tá Hải Quân nhờ đi
du học tại Rhode Islands đầu năm 1975 nên đã may mắn đoàn tụ được trên đất Mỹ
với vợ con đi theo cơ quan D.A.O di tản qua được giữa tháng Tư.

Vì gia
đình tôi lúc đó cư ngụ tại vùng ngoại ô của Sàigòn, nên tôi đưa vợ và hai đứa
con nhỏ lên bên Nội tại Quận Ba một thời gian xem sao vì ngày 28 một tên phi
công nội tuyến VC đã dội bom xuống phi trường Tân Sơn Nhất và kế hoạch di tản
bằng đường hàng không đã phải hủy bỏ.

Tối ngày 29 tháng Tư, tôi quyết
định cho vợ con vào Tòa Đại Sứ chứ không ngồi chờ đợi nữa. Sau khi giã từ Mẹ và
các em, tôi lái chiếc xe kiểu Taxi đã được sửa lại làm xe nhà đến cổng sau của
Toà Đại Sứ thì thấy thiên hạ đen nghịt và nhốn nháo đầy những người nhưng chiếc
cổng sắt đã đóng và trên bức tường bao quanh khu vực thì Thủy Quân Lục Chiến Mỹ
đang gườm súng không cho ai ra hay vào nếu không có lệnh. Họ chỉ nhận những
người nào trình ra được thẻ của Toà Đại Sứ thì mới nhấc những người đó vào bên
trong mà thôi.

Tôi đưa vợ con đến sát chân tường và tuy có thẻ nhân viên
tòa đại sứ trong túi nhưng không biết rằng có thuyết phục được các tay lính TQLC
này cho vợ con tôi đi theo hay không.

Nếu tôi vào được bên trong mà vợ
con bị bỏ rơi lại thì có thể sẽ bị VC trả thù, ý nghĩ đó cứ luẩn quẩn trong đầu
tôi một lúc rồi đột nhiên trong một giây tôi quyết định, một quyết định đã làm
thay đổi hẳn cả một đời người.

Tôi quyết định ở lại cũng vợ con và đưa vợ
con tôi về lại nhà bên Nội.

Khi Mẹ tôi nhìn thấy tôi thì chỉ hỏi được một
câu là tại sao con không đi? Tôi trả lời rằng tôi không thể ra đi một mình được
trong khi Mẹ và tất cả gia đình đều ở lại và ông anh Cả thì chưa có tin tức gì.
Lúc đó thì ông anh thứ Hai của tôi nghe tin đồn ở đâu không biết thì tỏ ra lạc
quan và nói rằng thế nào cũng có chính phủ Liên Hiệp và chắc mình không sao đâu.
Ông ấy là người may mắn nhất vì sau đó đi “cải tạo” chưa đến ba cuốn lịch nhờ
làm việc cho ngành Quân Y.

Tối hôm đó tôi ngủ không được và chỉ có một
điều an hận là mình mới 29 và chết quá trẻ.

Sáng ngày hôm sau 30 tháng Tư
lúc khoảng 10 giờ thì đài phát thanh loan báo lệnh đầu hàng của Tổng Thống mới
lên là Dương Văn Minh. Tôi nghe như một phát súng nổ bên tai vậy, bèn lên trên
lầu của nhà Mẹ tôi trên đường Trương Minh Giảng để thu xếp quần áo trở về nhà
trong Phú Lâm.

Một lúc sau thì nghe thấy tiếng xe tăng chạy một cách nặng
nề vào trong thành phố, tôi đẩy nhẹ cửa sổ ra nhìn xuống đường thì thấy hai ba
chiếc tăng T-54 đang lăn bánh từ hướng Ngã Ba Ông Tạ chạy qua nhà Mẹ tôi về
hướng chiếc cầu và tôi thấy như toàn thể bầu trời đang sụp đổ trước mặt
mình.
Chiều hôm đó thì tôi lái xe đưa vợ con về lại căn nhà cũ. Tôi đã mua
sẵn một hộp thuốc ngủ loại mạnh và định cùng với cả gia đình quyên sinh chứ
không thể sống nổi với Cộng Sản được. Nhưng nhìn hai đứa con đang say ngủ ngây
thơ vô tội, lòng tôi chùng xuống, tôi lại bỏ ý nghĩ đó và quyết định là sẽ ở nhà
và chờ họ đến bắt mình rồi phó mặc cho số mệnh.

Mấy ngày sau, một chiếc
xe díp chạy vào trong sân nhà tôi, với ba tay mặc sắc phục như của công an trong
đó có một tay có vẻ là tên chỉ huy, ngừng trước nhà và hỏi tìm tôi. Họ đưa tôi
đến một căn nhà ba từng tại ngã Ba Ông Tạ bên ngoài là Tiệm Thợ May nhưng không
ngờ trên lầu trước kia là VC nằm vùng trong đó. Sau ba ngày thẩm vẫn liên tục,
tên chỉ huy tự giới thiệu là Trung Tá có lẽ thuộc cơ quan Phản Gián từ Miền bắc
vào vì nói giọng Bắc bảo tôi về sửa soạn để đi “tập trung cải tạo”. Lúc đó tôi
vẫn chưa để ý đến hai chữ “tập trung”. Sau này tôi mới thấu hiểu được cách dùng
chữ của VC vì ở tù tập trung có nghĩa là bị giam giữ không hạn định và không có
án lệnh. Thế rồi lệnh của Ủy ban Quân Quản ra lệnh cho chúng tôi chuẩn bị một
tháng đi “học tập cải tạo”, “để thành công dân tốt”, để được hưởng “chính sách
khoan hồng nhân đạo” của Đảng và Nhà Nước.

Những người đi “cải tạo” mười
ngày thì kéo dài ra vài năm. Những người đi một tháng thì trở thành sáu tháng,
vài năm, mười năm, mười lăm năm; và hai mươi người cuối cùng thì bị giam giữ đến
năm thứ mười bẩy.

“Hãy nhìn những gì Cộng Sản làm đừng nghe những gì Cộng
Sản nói”, câu nói ấy chưa bao giờ đúng và đầy ý nghĩa như vậy.

Khi tôi
bước chân vào chốn ngục tù thì hai đứa con gái và con trai của tôi mới lên ba và
lên bốn, lúc tôi trở về thì chúng đã bước vào lứa tuổi đôi mươi. Bây giờ cả hai
đứa đều đã có gia đình riêng và mỗi khi có dịp gặp lại chị em nó trên San Jose
hay chúng xuống đây thăm tôi, tôi lại nghĩ rằng có lẽ tôi đã quyết định đúng vào
cái buổi tối đêm 29 tháng Tư năm ấy tại cổng sau của Toà Đại Sứ Mỹ
Sàigòn.
Con người ta quả là có số mệnh dù là đôi lúc số mệnh quá nghiệt ngã
với mình.

Tuỳ bút của một cựu Nhân viên sở 3 liên lạc.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s