CXN_112113_3534_Sức tàn phá nền kinh tế của Cộng sản từ 1945 (68 năm nay) như thế nào ????

XHCN

Đảng Cộng Sản VN vẫn còn tôn thờ lối hành xử của (về Kinh Tế chủ đạo XHCN) Mao Trạch Đông (Con quỷ sống giết 52 triệu dân). Câu này vẫn còn trong Điều 1 Hiến Pháp nước CXXHCNVN..“Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh”.

———————–——————

Châu Xuân Nguyễn.


Trích BÊN THẮNG CUỘC : QUYỀN BÍNH -CHƯƠNG 16 :”Năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho tiến hành “cải tạo xã hội chủ nghĩa” trên toàn miền Bắc, các nhà tư sản Việt Nam buộc phải giao nhà máy, cơ sở kinh doanh cho Nhà nước. Bà Trịnh Văn Bô lại được kêu gọi “làm gương”, đưa xưởng dệt của bà vào “công tư hợp doanh”. Bà Bô cùng các nhà tư sản được cho học tập để nhận rõ, tài sản mà họ có được là do bóc lột, bây giờ Chính phủ nhân đạo cho làm phó giám đốc trong các nhà máy, xí nghiệp của mình. Không chỉ riêng bà Bô, các nhà tư sản từng nuôi Việt Minh như chủ hãng nước mắm Cát Hải, chủ hãng dệt Cự Doanh cũng chấp nhận hợp doanh và làm phó.

Cho dù được ghi nhận công lao, trong lý lịch các con của ông Trịnh Văn Bô vẫn phải ghi thành phần giai cấp là “tư sản dân tộc”, và rất ít khi hai chữ “dân tộc” được nhắc tới

Trích BÊN THẮNG CUỘC : QUYỀN BÍNH -CHƯƠNG 16:”Trong thời kỳ khôi phục kinh tế, 1955-1957, nền kinh tế miền Bắc phát triển ngoạn mục, chủ yếu nhờ vào lực lượng tư nhân: Công nghiệp tư bản tư doanh tăng 230%; cá thể, tiểu chủ, tăng 220,2%. Tư bản tư doanh và tiểu chủ, cá thể tạo ra một lượng sản phẩm chiếm 73,7% tổng giá trị công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ở miền Bắc. Nhưng “Công cuộc cải tạo công thương nghiệp tư doanh” bắt đầu ở miền Bắc vào tháng 9-1957 đã gần như triệt tiêu hoàn toàn kinh tế tư bản tư nhân, tiểu chủ và cá thể bằng cách tước đoạt dưới các hình thức “tập thể hoá” hoặc buộc các nhà tư sản phải đưa cơ sở kinh doanh của họ cho Nhà nước với cái gọi là công tư hợp doanh.

Chỉ hai năm sau cải tạo công thương nghiệp tư doanh, ở miền Bắc, tài sản của các nhà tư sản teo dần trong khi lực lượng quốc doanh bắt đầu chiếm tỉ trọng cao trong nền kinh tế(302). Văn kiện Đảng ghi ngắn gọn: “Đến cuối năm 1960, 100% hộ tư sản công nghiệp và 97,2% hộ tư sản thương nghiệp được cải tạo”(303). Con số đó đủ để nói lên chính sách đối với tư nhân của chế độ miền Bắc.
Nhà nước theo Hiến pháp 1959, với tham vọng “lãnh đạo hoạt động kinh tế theo một kế hoạch thống nhất”(304), đã coi “Kinh tế quốc doanh thuộc hình thức sở hữu của toàn dân, giữ vai trò lãnh đạo trong nền kinh tế quốc dân và được Nhà nước bảo đảm phát triển ưu tiên(305); Khuyến khích, hướng dẫn và giúp đỡ sự phát triển của kinh tế hợp tác xã(306)”.
Mặc dù nói, “Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và của cải khác của nhà tư sản dân tộc”, nhưng vì Hiến pháp đã giao nhiệm vụ cho Nhà nước “ra sức hướng dẫn các nhà tư sản dân tộc hoạt động có lợi cho quốc kế dân sinh, góp phần phát triển kinh tế quốc dân phù hợp với kế hoạch kinh tế của Nhà nước”; bằng cách “khuyến khích và hướng dẫn các nhà tư sản dân tộc đi theo con đường cải tạo xã hội chủ nghĩa bằng hình thức công tư hợp doanh và những hình thức cải tạo khác”(307); đồng thời “nghiêm cấm việc lợi dụng tài sản tư hữu để làm rối loạn sinh hoạt kinh tế của xã hội, phá hoại kế hoạch kinh tế Nhà nước”(308), cho nên phạm vi tư hữu được “Nhà nước bảo hộ” chỉ còn ở mức “quyền sở hữu của công dân về của cải thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở và các thứ vật dụng riêng khác”(309).
Cũng từ năm 1960, kinh tế tư bản tư nhân trên miền Bắc gần như hoàn toàn biến mất. Hậu duệ của những Bạch Thái Bưởi, Lê Văn Phúc… ly tán. Các nhà tư sản đóng góp nhiều tiền bạc cho kháng chiến như Nguyễn Sơn Hà, Ngô Tử Hạ… có được vài ghế danh dự trong Chính phủ, trong Quốc hội, nhưng họ và con cái không còn là những doanh nhân – vai trò mà họ có thể đóng góp thiết thực nhất cho đất nước.
Miền Bắc “tiến lên chủ nghĩa xã hội” bằng “kế hoạch 5 năm lần thứ nhất”, 1960-1965, trong một bối cảnh kinh tế tư nhân bị o ép và quốc doanh thì èo uột. Chiến tranh, với khẩu hiệu, “tất cả cho tiền tuyến; tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, đã biện minh cho sự nghèo nàn và viện trợ đã giúp miền Bắc sống thoi thóp cho đến ngày thống nhất. Ở miền Nam, sau năm 1975, những thương hiệu một thời nổi tiếng cũng lần lượt biến mất sau khi chủ nhân của nó di tản, bị bắt, hoặc trở thành thuyền nhân và các nhà máy bị quốc hữu hoá rồi được quản lý theo kiểu cha chung không ai khóc.”(hết trích)
—————
CXN(21.11.13) Chỉ từ 1957 tới 1960, toàn hệ thống KT tư nhân bị ĐCS xoá sổ, thay vào đó một nền kinh tế quốc doanh mà cho tới ngày hôm nay Trọng Lú vẫn kiên trì gìn giữ “Nếu không có KT QD thì còn gì là CNXH nữa” trong khi hắn ko biết CXXH như thế nào trong 87 năm tới.

Trích BÊN THẮNG CUỘC : QUYỀN BÍNH -CHƯƠNG 16:”Một người từng sản xuất xà bông từ cuối thập niên 1970, ông Thái Văn Hừng(312) kể: “Ngày chuẩn bị ra trường, tôi về thực tập ở Cần Thơ, tình cờ ra chợ mua xà bông, thấy giá cao quá. Hồi đó, đưa 1kg xà bông từ Sài Gòn về phải qua biết bao nhiêu trạm kiểm soát. Thay vì mua xà bông, tôi về mang sách vở, đồ dùng học tập, bán hết, gom thêm tiền, mua 10kg dầu dừa, xút… nấu xà bông. Cứ sáng làm, chiều bán, một vốn, ba, bốn lời. Đúng một tháng sau tôi có gần bốn chục lượng vàng. Thay vì trở về trường nhận bằng tốt nghiệp, tôi thành lập tổ hợp sản xuất xà bông, bỏ ra 30 lượng vàng mua một máy ép dầu dừa. Máy ép dầu dừa của tôi là chiếc thứ hai ở tỉnh Hậu Giang hồi đó”. Năm 1980, chỉ hơn một năm sau ngày khởi nghiệp, ông Hừng nhớ lại: “Tôi có cả nghìn cây vàng”.

Nhưng, ở Sài Gòn, không phải ai cũng có thể mua xút và dầu dừa. Ông Trần Mộng Hùng, người nhận gia công xà bông cho các công ty hợp doanh; người từng cho cậu sinh viên Thái Văn Hừng mua xà bông chịu mang về miền Tây bán, kể: “Sau cải tạo, toàn bộ hàng hoá, nguyên liệu mà Nhà nước thu được của các nhà tư sản được đưa về cho Công ty Vật tư Tổng hợp Thành phố. Nhiều loại vật tư vô cùng khan hiếm ngoài thị trường lại nằm chết dí trong kho vì những người quản lý không biết nó là gì. Những thùng xút mà các nhà nấu xà bông đang cần lại thường bị bỏ bê vì thủ kho ngại tới gần những loại hoá chất đụng tay vô là bị phỏng. Mãi về sau khi vật tư trên thị trường đã cạn kiệt, hàng mới không được nhập về, các nhà sản xuất mới tìm đến và phát hiện ra nhiều loại vật tư ngoài thị trường khan hiếm lại đang bị bỏ phế”.
Do quen biết giám đốc Công ty Dầu dừa Bến Tre, ông Trần Mộng Hùng xuống thẳng công ty của ông này “xin mua”. Ông giám đốc nói: “Dầu tao sản xuất ra không có chỗ để chứa, mua là tao bán chứ xin gì”. Ông Hùng cả mừng, nói: “Vậy chú bán cho con theo giá thị trường 5 đồng/kg đi”. Ông giám đốc trả lời: “Bán theo giá thị trường để tao đi tù à? Tao bán mày 5 xu/kg thôi. Nhưng mày phải kiếm một công ty quốc doanh xuống đây mua thì tao mới bán được”. Theo quy định lúc đó: Chỉ các công ty quốc doanh có chức năng mới được mua xút, dầu dừa rồi cung cấp cho các xí nghiệp được giao kế hoạch sản xuất xà bông cho thương nghiệp; Các xí nghiệp này lại nhận xút và dầu dừa theo định mức rồi đặt các cơ sở gia công nấu xà bông.
Các cơ sở gia công xà bông nếu cứ nhận xút và dầu dừa theo định lượng rồi giao lại một số xà bông đúng như tính toán Nhà nước thì sẽ không có lời. Họ phải kiếm sống bằng cách, nếu định lượng xút cho một thùng xà bông là 15 kg thì chỉ sử dụng 9 kg, rồi đem 6 kg ấy ra chợ trời bán. “Công thức” áp dụng với dầu dừa cũng tương tự. Nhưng, muốn cho cục xà bông cứng lại thì phải đảm bảo nấu đủ 62% dầu dừa trong khi hơn 1/3 dầu dừa đã được bán cho chợ đen. Thế là các cơ sở gia công đành phải trộn mỡ phế thải của nhà máy Vissan, thậm chí pha đất sét và dùng muối thay cho soda… để cho cục xà bông cứng lại.
Sự chi li chặt chẽ của các nhà làm “kế hoạch hoá” đã khiến cho nền kinh tế phải tồn tại bằng cách đối phó. Không chỉ có xà bông mà cả kem đánh răng, vỏ xe… cũng đều phải “độn”. Những đôi dép nhựa tái chế chỉ đi được vài tuần là gãy đế, tụt quai. Những chiếc vỏ xe chạy được dăm chục cây số là bắt đầu phải lấy mây khâu mới giữ được cho phần cao su dính liền với “tanh” thép. Những chiếc yên xe chỉ đi mấy bữa là lo xò không còn khả năng đàn hồi…”(hết trích)
CXN (21.11.13) tất cả những DNNN, họ thay thế nguyên liệu như sản xuất xà bông, yên xe, dép nhựa tài chế, vỏ xe, xăm lốp v.v..thì thành phẩm làm sao đạt chất lượng, và khi cạnh tranh với thế giới (WTO, Trung Quốc, ASEAN, TPP v.v..) ngay tại thị trường VN thì làm sao họ bán chạy hàng, bán không chạy thì giảm sản lượng, thì lỗ, thì ngân sách bù lỗ, thì người dân è cổ đóng thuế thêm.
Trích bài báo dưới đây, Vinalines muốn được bảo vệ vận tải biển trong nước, chuyện Dương Chí Dũng mua cụt sắt rỉ bỏ túi vài tỉ, hàng chực chiếc tàu mua hằng trăm tỉ mỗi chiếc, sau 3 năm bán sắt vụn vài tỉ mỗi chiếc…Những khoản lỗ do tham nhũng này phải vào hách toán để tính giá thành vận chuyển container trong tương lai chứ, mỗi container vì vậy tăng thêm 30 hay 40 usd/công do tham nhũng phí thì không cạnh tranh với vận tải biển quốc tế được, nếu áp lực DN nội địa dùng Vinalines thì giá thành của thành phẩm xuất khẩu trở thành quá cao thì làm sao DNVN có được giá cả cạnh tranh để tăng xuất khẩu ???? Đó là bao che cho DN tồi để làm cả một nền KT bị suy đồi.
Và cho tới giờ phút này, ĐCS vẫn còn muốn tàn phá đất nước, con người VN bằng cách kiên định Kinh tế quốc Doanh.
Đồng bào hãy tẩy chay và giựt sập bọn này bằng cách đóng cửa DNNVV, ngưng và chây ì đóng thuế, viện bất cứ lý do nào để không đóng thuế cho chúng, 66% cty còn lại (300.000/700.000) là làm ăn thua lỗ.

Theo cái nhìn của CXN ngay từ 5 năm trước (hay ngay khi học tập KT Úc 38 năm nay), yếu tố duy nhất để người dân lật đổ (phiếu bầu hay bạo loạn) là khó khăn ngày càng cùng cực về kinh tế…NHƯNG NGƯỜI DÂN KHÔNG NHÌN THẤY LỐI RA TỪ CHÍNH PHỦ.
Và tình hình tổng thể VN đang trong giai đoạn đó và càng ngày càng nhiều người vào trang CXN chứng tỏ rằng 90 triệu dân cũng đang đi trên sa mạc và đang tìm một vũng nước, họ tìm thấy con sông thông tin/giải pháp KT Châu Xuân Nguyễn và họ đang tha hồ uống nước đây.

Khi đại đa số người dân bắt đầu nghe lời CXN thì bọn cộng nô này hết đường rồi, đó là mục đích CXN đề ra khi bắt đầu hành trình lật đổ CS, tạo uy tín để thu hút 90 triệu đồng bào về sự thật của bọn cộng nô bất tài, tham nhũng, quản trị tồi vì ngu xuẫn và dốt nát.

Còn về phía 90 triệu dân thì qua bài này chúng ta thấy càng ngày chúng ta dí bọn cộng nô vào góc kẹt, hãy ngưng hay chây ì thuế phí là chúng nó phải đứt bóng thôi, nếu chúng phải in tiền thì lạm phát kỳ vọng cũng sẽ giết chết chúng nó, đường nào cũng chết cả, ngày càng lún sâu vào vũng lầy tài chính.-

Chúng ta đang thắng lợi tràn trề với bọn cộng nô này, nếu cty chây ì thuế, kéo ra tranh chấp tại toà hằng trăm, hằng ngàn tỉ, khi CP Hậu CS lên thì tất cả nợ thuế sẽ được xoá bỏ.

Đồng bào hãy kiên trì tranh đấu lật đảng cộng sản khỏi quyền lực vì Trọng Lú kiên trì đưa đất nước tiến tới XHCN trong 87 năm nữa, kiên trì KT quốc doanh làm chủ đạo, kiên trì đất đai được quan chức địa phương tuỳ tiện cướp của người dân, kiên trì không tam quyền phân lập khi thuế xử oan phải cúi đầu cam chịu không như Úc Mỹ. Hãy dạy chúng một bài học thế nào là lễ độ.

Bước đầu là phải ngưng đóng tất cả mọi thuế phí để nuôi bọn cộng nô này thêm ngày nào nữa. Khi chúng suy yếu trong vài tháng tới chúng ta sẽ xuống đường biểu tình dứt điểm chúng, lúc đó 1 phần côn an sẽ đồng tình với chúng ta thì cộng nô sẽ chắc chắn bị diệt
—–
Gọng kiềm ngày càng siết vào cổ bọn cộng nô này rồi, chỉ cấn ngưng đóng thuế là chúng nó chết.

Đồng bào hãy ngưng đóng thuế cho bọn cộng nô này, tất cả những gì chúng làm với đất nước này là sai bét và đất nước bây giờ nát bét rồi, hãy dùng tẩy chay tài chánh để chúng nó theo bác Giáp.

Lý do chây ì thuế:- Tất cả 90 triệu dân hãy siết chặt thòng lọng vào cổ bọn cộng nô này, chúng sắp chết rồi đấy. Hãy ngưng đóng thuế và tìm những giọng điệu thật thuyết phục như buôn bán ế ẫm, hàng tồn kho như núi, cung cấp cho DN A,B,C,D v.v.. chúng nó chây ì 6 tháng nay rồi…không có tiền đi chợ ngày mai cho sấp nhỏ v.v…tiền mặt bằng thiếu 4 tháng rồi, đtdđ tắt luôn luôn vì nợ NH vây quá rát…Có bắt tôi thì tôi chịu chứ tôi hết tiền đóng thuế rồi, Bắt tôi lại khoẻ, ko chủ nợ nào kiếm tôi và gia đình tôi để đòi nợ nữa, cp 3 Dũng này làm KT khủng hoảng từ 2011 đến bây giờ, vậy chú ở trong ngành thuế chú có biết bao lâu buôn bán phát đạt trở lại hay không vậy chú, nói cho tôi mừng !!! – Đồng bào và DNNVV cứ viện lý do là kinh tế khủng hoảng từ tháng 9.2011 đến giờ, sức mua yếu, tồn kho như núi, trả lãi ngân hàng còn không nỗi, chính đồng bào phải có nợ xấu với NH, trả lãi định kỳ không nổi, đồng bào ước gì NH lại phát mãi BĐS thế chấp của mình cho yên thân, bán buôn ko được gì cả mà thuế, mặt bằng cả 400, 500 loại phí chồng chất, bôi trơn, tham nhũng, tiền không có trả lương cho thợ thầy, nợ mỗi ng mấy chục triệu, mặt bằng thì ko biết chủ đuổi đi lúc nào, tiền chợ cho vợ con còn không có thì lấy cái gì mà đóng thuế, có cái này đóng thuế dc không ??? được thì tôi cắt ra để đóng thuế….
———
90 triệu dân VN bây giờ phải thống nhất suy nghĩ trong đầu rằng bằng chứng bất tài, tham nhũng, tàn bạo của bọn CS này là quá rõ. Chúng ta hãy tâm niệm cùng nhau xuống đường hàng triệu người VN (thực tế nếu còn 100 ngàn bước xuống đường) là Công An CS không thể đàn áp được, lúc đó sẽ là sức mạnh vô biên để lật bọn này và nếu đồng bào cần tôi trở về giúp nước, tôi sẵn sàng nhưng phải chức lớn để cải cách tất cả, từ quân sự Cảnh sát, giáo dục, Nội vụ, y tế và tất cả dĩ nhiên có Kinh tế và nâng cao cuộc sống của đồng bào.

Melbourne
21.11.2013
Châu Xuân Nguyễn.

——————————————————–
http://sgtt.vn/Thoi-su/185087/Gay-go-giat-lai-mieng-banh-van-tai-bien.html

Ngày 15.11.2013, 11:23 (GMT+7)

Gay go giật lại miếng bánh vận tải biển

SGTT.VN – Bộ Giao thông vận tải vừa có tờ trình đề nghị Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án nâng cao năng lực, thị phần vận chuyển hàng hoá xuất, nhập khẩu của các doanh nghiệp vận tải biển Việt Nam.

Tàu chở hàng thuộc Vinalines. Ảnh: Vinalines

Theo bộ Giao thông vận tải, đội tàu Việt Nam hiện chỉ mới vận chuyển được 10% tổng lượng hàng xuất nhập khẩu của Việt Nam và 80% hàng hoá container giữa các cảng nội địa. Mục tiêu của ngành vận tải biển (tại quyết định phê duyệt quy hoạch phát triển vận tải biển Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 của Thủ tướng Chính phủ gần bốn năm trước) – đáp ứng nhu cầu vận tải biển nội địa, nâng cao thị phần vận chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu đạt từ 27 – 30%, thật xa vời.

Thừa tàu cho thuê, nhưng lại đi thuê tàu

Thống kê của cục Hàng hải cho biết đến thời điểm tháng 6.2013 đội tàu treo cờ Việt Nam có 1.755 chiếc, tổng trọng tải gần 7 triệu DWT, cộng với 64 tàu của doanh nghiệp Việt treo cờ nước ngoài thì tổng trọng tải gần 8 triệu DWT. Cho nên, nếu xét về quy mô và năng lực đội tàu một cách cơ học thì các chuyên gia hàng hải nhận định không hề nhỏ bé. Vấn đề ở chỗ, việc phát triển đội tàu là “ồ ạt, không phù hợp nhu cầu vận chuyển hàng xuất nhập khẩu”, nhận định của cục Hàng hải. “Trong số 1.755 tàu thì chỉ có khoảng 500 tàu có thể chạy tuyến quốc tế, số còn lại chạy ven biển và nội địa. Đội tàu container cũng chỉ có hai tàu có sức chứa 1.700 TEU; còn lại là tàu dưới 1.000 TEU. Thậm chí không có tàu chuyên dùng chở ximăng, hoá chất, gas hoá lỏng”, ông Đỗ Đức Tiến, phó cục trưởng cục Hàng hải cho biết.

Cơ cấu đội tàu là thế, nhưng cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu lại là xuất nguyên liệu thô, bán thành phẩm và nhập khẩu máy móc, thiết bị nguyên vật liệu nên thực tế các đối tác nước ngoài luôn chiếm ưu thế trong đàm phán vận tải. “Điều này dẫn đến câu chuyện tàu Việt Nam dư thừa, phải đem cho doanh nghiệp nước ngoài thuê định hạn, với giá thuê thấp. Trong khi vận tải xuất nhập khẩu lại đi thuê tàu của các hãng nước ngoài”, một phó cục trưởng cục Hàng hải khác, là ông Bùi Thiên Thu nhận xét.

Còn phó tổng giám đốc một doanh ngiệp vận tải biển hàng đầu Việt Nam thì nói đầy chua chát: “Các nhà xuất nhập khẩu Việt Nam hầu như không có quyền chọn tàu do thói quen mua FOB bán CIF, nên quyền này thuộc thương nhân nước ngoài. Khi có quyền chọn tàu thì các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cũng không tin tưởng các chủ tàu trong nước nên một hiện thực trớ trêu vẫn đang xảy ra là ngoài hàng nhập khẩu (đi tàu nước ngoài) thì hàng xuất khẩu số lượng lớn như dầu thô, than, gạo vẫn đi tàu nước ngoài”.

Đề xuất nhiều ưu tiên cho tàu nội

Để khắc phục nghịch lý trên, trong tờ trình gửi Chính phủ, bộ Giao thông vận tải đề xuất một loạt chính sách nhằm tháo gỡ khó khăn và từng bước giành lại ưu thế cho ngành vận tải biển Việt Nam. Trước tiên, để tàu nội có đơn hàng, bộ kiến nghị “với hàng hoá là tài nguyên quốc gia, doanh nghiệp vận tải được dành quyền ưu tiên (trừ trường hợp vi phạm các cam kết quốc tế)”. Nhằm cụ thể hoá chủ trương này, theo bộ Giao thông vận tải, giai đoạn từ nay đến 2015, cần có sự phối hợp các bộ, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước như than, khoáng sản, lương thực, xăng dầu… cần có thoả thuận, có giải pháp khuyến khích xuất nhập khẩu lựa chọn tàu Việt Nam để chuyên chở. Bên cạnh đó, để các doanh nghiệp xuất nhập khẩu có thể chủ động được chọn tàu, thì “giữa các doanh nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp vận tải và doanh nghiệp bảo hiểm cần có sự phối hợp để từng bước giành quyền vận chuyển hàng hoá khi tham gia hợp đồng xuất khẩu. Xây dựng các chính sách đồng bộ tới các doanh nghiệp nhằm khuyến khích chủ hàng Việt Nam ưu tiên dành quyền vận chuyển hàng hoá cho các hãng tàu trong nước hoặc đàm phán đưa quyền vận chuyển hàng hoá vào trong các hợp đồng kinh tế”.

Theo ông Bùi Việt Hoài, phó tổng giám đốc tổng công ty Hàng hải Việt Nam Vinalines, cần có thêm các chính sách giảm phí ra vào cảng, tạo điều kiện cho thu xếp hải quan chuyển bãi xuất tàu, có sự phối hợp giữa cảng và tàu, ưu tiên cho tàu Việt Nam khi đến cảng…

Bộ Giao thông cũng đề xuất rất nhiều chính sách về tài chính, thuế cần áp dụng cho khối vận tải nội. Cụ thể: hàng hoá, vật tư phục vụ sửa chữa bảo dưỡng được áp thuế nhập khẩu 0%; tàu mang cờ Việt Nam được áp thuế giá trị gia tăng 5% trong ba năm; nguồn thu từ vận tải hàng hóa vận tải biển được giảm 15% thuế thu nhập doanh nghiệp trong mười năm; hàng hoá nhập khẩu vận chuyển bằng tàu Việt Nam được giảm 10% thuế nhập khẩu… Tuy nhiên, các kiến nghị về chính sách này nhận được nhiều sự quan ngại từ các bộ Công thương, Tài chính, Tư pháp, Kế hoạch và đầu tư… Bởi theo các bộ này, các giải pháp chính sách thuế, tín dụng là không phù hợp với các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO về phân biệt đối xử (hạn chế đối xử quốc gia).

Chí Hiếu

3 comments on “CXN_112113_3534_Sức tàn phá nền kinh tế của Cộng sản từ 1945 (68 năm nay) như thế nào ????

  1. 68 Năm dưới chế độ cs la 68 Năm dưới địa ngục trần gian .cs đã tàn phá tan hoang nước vn và chuẩn bị bán nước cho tàu .nhân dân hãy mau thức tỉnh lật đổ cái chế độ này trước khi quá muộn

    Like

  2. hoàng anh gia lai thông đồng với lũ tham nhũng cs để tàn phá tan tành rừng núi của việt nam,anh châu nhớ ghi vào sổ đen để sau này đưa ra xét hỏi cùng lũ cs nhé

    Like

  3. cái đám bưng bô cộng sản như hoàng anh gia lai,tham gia cùng cường quyền cướp của nhân cả bầy,./.

    Like

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s