HỒ CHÍ MINH THÚ NHẬN CÓ BÁN PHAN BỘI CHÂU (Bùi Anh Trinh)

Giải mã những bí ẩn của Nguyễn Tất Thành

Bài 7: HỒ CHÍ MINH THÚ NHẬN CÓ BÁN PHAN BỘI CHÂU

Trích sách “Chuyện nước non đau lòng tới nghìn năm” của Bùi Anh Trinh do Làng Văn phát hành năm 2008 :

Ai lập ra Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội

Căn cứ theo báo cáo của Nguyễn Ái Kvak vào tháng 6 năm 1927 hiện còn lưu trữ tại Mạc Tư Khoa thì NAK đã tổng kết thành tích của ông cho CSQT sau 2 năm rưỡi hoạt động tại Trung Hoa, nhưng trong tất cả các báo cáo ông không hề đã động tới một tổ chức hết sức quan trọng lúc đó là “Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội”. Chính từ tổ chức này mà sau đã trở thành Đảng Cọng sản Việt Nam. Qua chuyện này thì ai cũng hiểu được là ông không dám nhận vơ tổ chức đó là tổ chức của mình vì mọi người tại Quảng Châu, kể cả phái bộ Borodin tại Quảng Châu, đều biết tổ chức đó là của ông Phan Bội Châu.

Tuy nhiên vào năm 1947, khi cụ Phan Bội Châu đã chết, Hồ Chí Minh viết trong tự truyện của mình rằng: “Vừa nghiên cứu, vừa làm việc để sống, ông Nguyễn vẫn ra sức làm việc cho tổ quốc mình. Ông bắt đầu tổ chức đồng bào Việt kiều ở Trung quốc. Tổ chức này gọi là “Hội Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí”. Câu này có nghĩa là trước khi ông HCM tới Trung Hoa thì người Việt tại đó chưa được tổ chức và chưa có một hội hay đảng phái nào.

Ngoài ra cũng có thể hiểu là trước khi ông tới Trung Hoa thì không có ai là người đáng mặt lãnh đạo người Việt tại trung Hoa. Nhưng hồi ký của cụ Phan Bội Châu ghi rõ là khi Lý Thụy mới đến Trung Hoa thì tổ chức chính trị thứ 5 của cụ Phan đang sắp sửa thành hình sau (1) Duy Tân Hội, (2) Phong trào Đông Du, (3) Quang Phục Hội và (4) Tâm Tâm Xã. Lý Thụy chỉ có việc gởi thư góp ý với cụ Phan về bản dự thảo đảng cương của tổ chức sắp được thành lập mà thôi.

Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội là một tổ chức rất lớn, quy tụ hầu hết các nhà ái quốc Việt Nam tại vùng Hoa Nam cho nên những người ở trong phái bộ Borodin như Chu Ân Lai, Đặng Dĩnh Siêu, Galant và ngay cả Borodin cũng thừa biết đây là một tổ chức của Phan Bội Châu chứ không phải của Nguyễn Tất Thành. Do đó ông không thể nhận ẩu đó là đảng của ông. Nếu đó là một tổ chức thực sự do ông thành lập thì ông không dại gì mà không báo cáo tạo uy tín với CSQT và nhất là để vòi tiền yểm trợ.

Vậy mà năm 1947 ông kể lại rằng ông đến Trung Hoa và bắt đầu tập họp đồng bào Việt kiều để tổ chức thành đội ngũ. Trong khi trên thực tế thì năm đó đã có sẵn đội ngũ do Phan Bội Châu tổ chức. Sau đó đội ngũ này đã bị chính ông lũng đoạn đến tan nát. Rồi 20 năm sau ông lại nhận đó là tổ chức đầu tiên của người Việt tại Hải ngoại do ông sáng lập (sic).

Nhiệm vụ của Nguyễn Tất Thành tại Trung Hoa

Ngày nay mặc dầu các tài liệu mật giữa CSQT và HCM đã được đưa ra ánh sáng nhưng vẫn có nhiều sử gia cho rằng ông nhận lệnh CSQT về Trung Hoa là để gầy dựng cơ sở cho cách mạng Việt Nam, tạo dựng một đảng Cọng sản cho Đông Dương. Tuy nhiên nếu đọc lại các thư từ liên lạc giữa NTT và CSQT từ tháng 11-1924 đến tháng 11-1927 thì CSQT hoàn toàn không có một chỉ thị nào cho ông đối với Việt kiều tại Trung Hoa cũng như đối với hoạt động cách mạng trong nước và họ cũng hoàn toàn không hỏi ông về các tin tức của Đông Dương. Mọi báo cáo về hoạt động của ông trong giới Việt kiều là hoàn toàn do ông tự nghĩ ra và tự hành động rồi tự báo cáo chứ không theo một chỉ thị nào từ Mạc Tư Khoa.

Ngoài ra các báo cáo của ông là thư của cá nhân ông gửi thẳng cho CSQT chứ không qua hệ thống chuyển đạt của phái bộ Borodin. Hoàn toàn không có một văn kiện nào chứng minh rằng phái bộ của Borodin có lưu ý tới phong trào cách mạng của dân tộc Việt Nam hay có đề cập tới nhân vật tên Nguyễn Ái Kvak đang làm việc trong phái bộ. Điều này chứng tỏ CSQT đưa ông sang Trung Hoa chỉ để làm việc kiếm sống chứ không giao cho ông một trách nhiệm nào khác. Nhất là các chi phiếu còn lưu giữ cho thấy họ không có chi cho ông một đồng bạc nào ngoài 2.500 USD mà ông ăn chận của phong trào Nông Dân Nổi Dậy của Bành Bái.

Tính toán của những chiến lược gia tại Mạc Tư Khoa

Với thành tích tự nghĩ và tự làm được tại Quảng Châu, Lý Thụy quyết định thương lượng với lãnh đạo CSQT bằng một báo cáo rất cụ thể những gì ông đã làm được trong quá khứ và những gì ông có thể làm được cho CSQT trong tương lai. Theo như suy nghĩ đơn giản của ông thì với kế hạch hấp dẫn như thế chắc chắn Mạc Tư Khoa phải đồng ý. Bởi vậy cho nên ông không ngần ngại đặt ngay vấn đề thanh toán chi phí với cái giá do ông đưa ra.

Tuy nhiên những chiến lược gia quốc tế tại Mạc Tư Khoa lại không nghĩ thế . Người ta không thể chi tiền vô tội vạ cho công việc của ông Lý Thụy mà cho tới lúc đó họ cũng chưa biết là công việc gì. Họ ngồi tận bên Nga đâu có biết là ông đã làm được những gì đáng kể trong cộng đồng người Việt lưu vong ở bên Trung Hoa? Lâu nay họ để cho ông tự làm bởi vì chuyện đó không đáng kể, họ không cần để mắt tới và nhất là họ chưa phải bỏ ra một đồng nào. Ông cứ ngồi ở Trung Hoa, kêu người Việt sang nghe ông nói chuyện. Họ nghe ông xong rồi họ trở về nước lo làm ăn buôn bán, cưới vợ đẻ con, lâu lâu nhớ lại có một thời mình được mời sang Tàu nghe một ông thầy giáo nói chuyện về phong trào Cọng sản.

Ông Lý Thụy hoàn toàn không có một chương trình hành động để sử dụng những học viên mà ông vừa đào luyện, ông không có chương trình tổ chức họ thành đội ngũ và ông cũng không có chương trình điều động họ như thế nào để đi đến thành công. Ông chỉ dạy cho họ cách tuyên truyền và sau đó họ về nước muốn làm gì thì làm. Việc làm của ông sẽ trở nên vô bổ nếu ông không trở về Việt Nam thành lập và điều khiển tổ chức. Ngoài ra Mạc Tư Khoa cũng khó có thể tin được ông, bởi vì tại sao ông không bàn bạc hay xin ý kiến của Borodin hay các cán bộ khác trong Đông Phương Bộ đang có mặt tại Quảng Châu?

Thực ra các nhà chiến lược tại Mạc Tư Khoa đã có chủ trương của họ. Khi nhận được các báo cáo của Lý Thụy vào năm 1926 – 1927 thì trong tay họ đang có những nhà hành động cũng như các lý thuyết gia xuất sắc. Đó là các ông Trần Phú, Bùi Công Trừng, Bùi Lâm, Ngô Đức Trì, Nguyễn Thế Rục, Nguyễn Thế Vinh, đang theo học tại học viện Staline, tất cả đều có trình độ kiến thức đáng kể, họ là các giáo sư, nhà báo và sinh viên đại học từ Paris sang.

Ngoài ra còn có các nhân tài về võ bị là Lê Hồng Phong, Hàn Rue và Đặng Tư Mỹ đang theo học tại các học viện quân sự tại Nga. Tất cả đều am hiểu tình hình Đông Dương với những nhận xét rất xác thực vì họ mới rời khỏi Việt Nam không lâu. Họ sẽ cho Mạc Tư Khoa tất cả những hình ảnh thực sự của nhân dân Đông Dương thời đó. So lại với các bài thuyết trình trước đây 3 năm của Nguyễn Ái Kvak khi ông tham dự Đại hội Nông dân Quốc Tế và Đại hội 5 QTCS thì họ thấy ngay là ông Nguyễn không biết gì về tình hình Đông Dương thời 1924 ( Vì ông đã rời Đông Dương từ năm 1911 ). Bài thuyết trình cho thấy ông mô tả lại tình cảnh bị áp bức của dân tộc Việt Nam thời ông Phan Chu Trinh phát động phong trào chống sưu thuế năm 1908. Trong khi đó thực tế đã đổi khác quá xa.

Ngoài ra chỉ cần tìm hiểu qua Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hàn Rue và Đặng Tư Mỹ thì Mạc Tư Khoa cũng biết được những gì Lý Thụy làm tại Quảng Châu khác xa những gì mà ông báo cáo. Ông báo cáo là trong 3 đợt huấn luyện ông dạy được 75 thanh niên trong khi thực tế chưa tới 2/3 số đó. Ông báo cáo rằng ông tổ chức được toán điệp báo. Tổ chức nông hội ở Thái Lan. Tổ chức thiếu niên mầm non tuyển chọn từ Thái Lan và đưa sang học hành tại Quảng Châu. Tổ chức hội phụ nữ cách mạng…. Tất cả những tổ chức này không ai có thể tìm được dấu vết trong tài liệu hay trong lời kể lại của các nhân vật đương thời .

Không phải vì không tin Nguyễn Ái Kvak mà CSQT bỏ qua khu vực Đông Dương. Họ đã có kế hoạch của họ. Các chiến lược gia CSQT đã thành lập “Chi bộ Việt Nam” tại trường Stalin gồm Trần Phú, Ngô Đức Trì, Bùi Lâm, Bùi Công Trừng và Nguyễn Thế Rục. Tất cả vừa học vừa nghiên cứu sách lược thực tế để đưa tới cách mạng thành công tại Đông Dương. Rồi đây chi bộ này sẽ cùng về Việt Nam để thực hiện cách mạng vô sản. Chính họ sẽ lựa chọn người rồi kết nạp, đào luyện thành cán bộ. Sau đó cũng chính họ tổ chức các cán bộ thành đội ngũ và điều khiển đảng viên hoạt động.

Vì vậy mà khi Nguyễn Ái Kvak về tới Mạc Tư Khoa vào tháng Sáu năm 1927 ông ngạc nhiên khi người ta nói ông nên đến thăm chi bộ Việt Nam tại trường Stalin. Ông có đến gặp nhưng ông không nghĩ ra kế hoạch của các chiến lược gia CSQT, ông chỉ chúc họ học tập tốt rồi ra về. Sau đó ông phải vào bệnh viện để điều trị bệnh lao. Xuất viện thì người ta trả ông về Pháp để sinh hoạt với ĐCS Pháp là đảng gốc của ông.

Lật lại vụ án bán Phan Bội Châu

Cho tới nay giới sử gia quốc tế vẫn bán tín bán nghi về chuyện ông Nguyễn Tất Thành có nhúng tay trong vụ bán cụ Phan Bội Châu vào năm 1925 hay không bởi vì hoàn toàn không có một chứng cứ rõ ràng nào để có thể kết tội ông Thành mặc dầu phe chống Cộng vẫn đoan quyết rằng ông ta có bán. Chứng cứ do phe chống cộng đưa ra đều căn cứ vào các nguồn tin truyền miệng trong giới Việt kiều tại Hoa Nam :

Ngay sau khi cụ Phan bị bắt (1925) thì đã có dư luận bàn tán trong giới người Việt lưu vong tại Thượng Hải và Quảng Châu, một số người trong TNCMĐCH có tham dự một buổi họp quyết định bán cụ Phan để lấy tiền gây quỷ đã bất bình và quyết định ra khỏi tổ chức. Sau đó tin này lan truyền về Hà Nội, đến tai học giả Lê Dư là người từng tham dự Phong trào đông Du và Việt Nam Quang phục Hội. Sau này cụ Lê Dư có nói lại cho con rễ của mình là ông Hoàng Văn Chí, tác giả sách Từ Chủ Nghĩa Thực Dân Đến Chủ Nghĩa Cọng sản.

Đến năm 1928 có ký giả Nhượng Tống, là người cùng với Nguyễn Thái Học lập ra Việt Nam Quốc dân Đảng, đã cho phát hành tài liệu “Ai bán đứng cụ Phan Bội Châu”. Nhượng Tống nêu đích danh nhóm Lý Thụy và Lâm Đức Thụ bán cụ Phan, ông nói rằng dựa theo nguồn tin của những người xung quanh cụ Phan tại Trung Hoa. Trong bài tố cáo lúc đó, Nhượng Tống cũng như dân Việt Nam, không ai biết Lý Thụy cũng như Lâm Đức Thụ là ai và cũng không biết hai ông là Cọng sản. Nhượng Tống chỉ cho biết đó là những người cùng trong hội với ông Phan Bội Châu. Do đó năm 1928 dân chúng không để ý tới tên của 2 người này, họ chỉ nghĩ là hai tên phản bội vô danh tiểu tốt và người ta quên 2 tên này đi cho tới năm 1945.

Đến năm 1945 các chính trị gia Việt Nam lại có thêm một bằng chứng khác, đó là tập sách gồm 5 tập, nhan đề là “Góp Vào Lịch Sử Chính Trị Vận Động Ở Đông Pháp” do Louis Marty, giám đốc sở Mật thám chính trị Đông Dương sưu tầm và xuất bản hạn chế, chỉ phổ biến cho một số cơ quan trách nhiệm tại Đông Dương để nghiên cứu. Sau khi Nhật bất thần đảo chánh Pháp thì rất nhiều tập sách của Marty đến tay các nhà cách mạng Việt Nam, phía Quốc gia cũng có mà phía Cọng sản cũng có.

Trong tập sách có 60 trang giấy ghi lại các lời khai của Hoàng Đức Thi khi Thi bị Pháp bắt, có đoạn nói về hội nghị bán Phan Bội Châu. Rất tiếc vì là lời cung với tòa án nên Thi không giải thích chi tiết khó hiểu nhất là trong hội nghị đó cũng có những người không theo Cọng sản lại cũng không phản đối. Riêng về phía Hà Nội thì các tập sách của Marty được gom về cho Trần Huy Liệu là trưởng Ban nghiên cứu lịch sử Trung ương Đảng, ông này giấu biến chuyện Phan Bội Châu bị bán mà cũng không có một lời nào thanh minh cho Lý Thụy mặc dầu phía Sài Gòn tố rất mạnh.

Năm 1955, để trả lời các cáo buộc của phía Sài Gòn, ông Phạm Văn Đồng chỉ thị cho ông Chương Thâu dịch quyển hồi ký của cụ Phan Bội Châu, trong đó cụ Phan có viết:

“Ai dè cái lúc tôi ra đi, thì cái thời giờ hành động của tôi có kẻ nhất nhất báo cho người Pháp, mà cái người mật báo đó lại chính là người ở chung với tôi, từng nhờ tôi nuôi nấng. Người ấy nghe nói tên là Nguyễn Thượng Huyền gọi cụ Hiền bằng ông chú” ( Đây là bản dịch do Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn phát hành năm 1968, lấy tên là “Tự Phán”. Còn bản dịch của Chương Thâu xuất bản tại Hà Nội năm 1955, lấy tên là Niên Biểu. Đến năm 1990 thì cũng chính ông Chương Thâu dịch lại, lấy tên là “Phan Bội Châu Toàn Tập”).

Nguyễn Thượng Huyền là cháu kêu Nguyễn Thượng Hiền bằng ông, được gia đình cắt đặt chăm sóc cụ Phan Bội Châu trong thời gian cụ sinh sống tại Hàng Châu. Căn cứ vào lời của cụ Phan Bội Châu, một số sử gia quốc tế đoan quyết rằng ông Nguyễn Tất Thành vô tội trong vụ này vì Thành và Huyền chưa hề quen biết nhau.

Sau khi sách của Chương Thâu xuất bản thì dư luận bàn tán xôn xao, phe tố cáo ông Hồ Chí Minh đành phải im tiếng. Chuyện này tới tai ông Nguyễn Thượng Huyền đang sinh sống ở Hồng Kông. Ông này một mực cho rằng mình bị oan. Năm 1956, nhân dịp ký giả Lê Tâm Việt ghé thăm Hồng Kông, Huyền nhờ Lê Tâm Việt thanh minh giùm ông và tố cáo đích danh Lý Thụy trên báo Tự Do số 548 ngày 19-11-1956. Tới năm 1965 Nguyễn Thượng Huyền về Sài Gòn họp báo để cải chính và viết bài đăng trên tạp chí Bách Khoa số 73. Tuy nhiên ông Huyền chỉ thề bán sống bán chết để kêu oan chứ không đưa ra được bằng chứng nào có thể buộc tội ông HCM hầu giải oan cho mình.

Rồi tới năm 1968, hồi ký của Cường Để xuất bản tại Sài Gòn kể lại năm đó Lâm Đức Thụ gởi thơ và tiền cho cụ Phan tại Hàng Châu và hẹn cụ Phan về Quảng Châu làm lễ kỷ niệm ngày Phạm Hồng Thái hy sinh. Nhưng sau đó thì có tin cụ Phan đã bị bắt đưa về Việt Nam: “Lâm Đức Thụ ở Quảng Châu, lúc đầu cố phao vu cho người này người khác để che lấp tội ác của mình nhưng về sau thấy ông Phan bị bắt về đến trong nước, thành ra một cuộc tuyên truyền có hiệu lực cho cách mệnh, Lâm Đức Thụ mới khoe rằng đó là công hắn, vì chính hắn bắt ông Phan” (Hồi ký của Cường Để). Dân chúng Việt Nam đọc hồi ký của Cường Để lại nghĩ rằng Nguyễn Tất Thành không có bán Phan Bội Châu mà là một người nào đó tên Lâm Đức Thụ.

Mãi đến năm 1990, trong tác phẩm Hồ Chí Minh, de Indochina au Viet Nam, sử gia Pháp Daniel Hémery cho phổ biến một số thư của mật báo viên có mật danh là Pinot gởi cho chánh mật thám Tô giới Pháp tại Quảng Châu Loan. Căn cứ vào các chi tiết trong báo cáo người ta xác nhận được Pinot chính là Lâm Đức Thụ, một lãnh tụ Cọng sản cùng với NTT điều khiển tổ chức Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội, là người cùng Thành đóng góp tiền lương hằng tháng để thành lập VNTNCMĐCH, là người cùng Thành lập ra tổ chức Á Tế Á Áp Bức Nhược Tiểu Dân Tộc, là người đầu tiên được Thành giới thiệu gia nhập ĐCS Trung Quốc, là một trong 5 người đầu tiên nằm trong tổ chức Đông Dương Quốc Dân Đảng của NTT. Ngoài ra trong thân tình thì Lâm Đức Thụ đã làm mai Thành với Tăng Tuyết Minh là một nữ y tá bạn thân của vợ Thụ. Trong tinh thần phục vụ cho đất nước thì Thụ đã đưa em ruột của mình là Nguyễn Công Thụ tham gia khóa đào tạo cán bộ tuyên truyền đầu tiên do NTT tổ chức.

Đến lúc này thì dư luận mới thấy tội nghiệp cho ông Nguyễn Thượng Huyền vì rõ ràng là ông ta bị hàm oan mà không làm sao nói cho thiên hạ tin. Gẫm lại câu nói của cụ Phan Bội Châu: “Người ấy nghe nói tên là Nguyễn Thượng Huyền” thì rõ ràng là có người nào đó rỉ tai cụ cái tên này chứ không phải là do cụ có bằng cớ hay do cụ suy doán ra.

Có thể người rỉ tai này là Vương Thúc Oánh, con rễ của cụ Phan Bội Châu. Mới đầu Oánh sang Trung Hoa để theo Phan Bội Châu đang sống tại Nam Kinh, nhưng mới tới Quảng Đông thì ông theo NTT, phụ trách đường dây đưa rước các thanh niên Việt sang học các khóa tuyên truyền của Thành. Đến năm 1927 Thành chạy về Nga thì Vương Thúc Oánh cũng giả từ Cọng sản trở về Việt Nam gặp cụ Phan đang bị quản thúc tại Huế. Có lẽ trong dịp này ông phao vu cho Nguyễn Thượng Huyền để che giấu tội của ông là đã đồng ý để cho Thành và Thụ bán cụ Phan.

Năm 1930 Oánh vào Sài Gòn tìm đường sang Pháp thì gặp Hà Huy Giáp đang tìm cách sang Trung Hoa để theo anh mình là Hà Huy Tập, Oánh khuyên Giáp đừng nên sang Tàu và cũng đừng nên theo Cọng sản. Sau đó Vương Thúc Oánh sang Pháp và sống luôn tại Pháp cho tới hết đời. Kiều bào Paris cho biết năm 1958 Vương Thúc Oánh có cho in một cuốn sách nhỏ kể chuyện đời hoạt động cách mạng của mình, trong đó có nói rõ về buổi họp bán Phan Bội Châu mà ông có tham dự.

Cho đến khi tài liệu của sử gia Hémery được phát hành thì đã rõ là Lâm Đức Thụ phản bội lại dân tộc. Nhưng Lâm Đức Thụ là người thế nào ?

Lâm Đức Thụ tên thật là Nguyễn Công Viễn, còn có tên là Hoàng Chấn Đông, con của cụ Nguyễn Hữu Dân, bạn học của cụ Nguyễn Sinh Sắc tại trường Quốc Tử Giám Thụ tốt nghiệp trường Võ Bị Bắc Kinh nhưng không phục vụ trong quân đội Bắc Kinh mà về cư trú tại Quảng Châu, sinh sống bằng nghề chụp ảnh. Năm 1924 nhiệt tình tham gia các hoạt động chính trị của Phan Bội Châu. Ngay từ thời này ông đã biết rất rõ những nhà ái quốc Việt Nam như Nguyễn Thượng Hiền, Lê Tán Anh, Hồ Tùng Mậu, Nguyễn Hải Thần , Lê Hồng Phong, Lê Quang Đạt, Lưu Bích, Ngô Chính Cốc, Phạm Hồng Thái…

Người ta không rõ ông bắt đầu làm ăn với mật thám Pháp từ lúc nào nhưng báo cáo đầu tiên của ông ta còn lưu trong hồ sơ lưu trữ là ngày 4-3-1925 báo cáo về việc ông ta cùng với Nguyễn Hải Thần, NTT, Đinh Tế Dân cùng nhau đóng góp tiền lương để chuẩn bị thành lập một đảng chính trị mới. Sau đó là báo cáo về chuyến đi từ Hàng Châu về Quảng Châu của Phan Bội Châu.

Đến tháng 9-1925 thì mật thám Pháp có được một tấm hình Nguyễn Tất Thành đứng với các học viên và cán bộ của Trung Tâm huấn luyện chính trị của Bành Bái. Có lẽ tấm hình này do Lâm Đức Thụ chụp vì ông ta đang sinh sống bằng nghề chụp ảnh, Thành đã nhờ ông ta chụp giùm để gởi về Mạc Tư Khoa làm bằng chứng nhưng Thụ đã sao thêm một bản để gởi cho mật thám Pháp. Đến tháng 10-1926 là báo cáo của ông ta về việc đám cưới của NTT, nói rõ vợ của Thành là một người nữ hộ sinh, bạn đồng nghiệp của vợ ông ta. Báo cáo cũng cho biết là Lê Tán Anh, Nguyễn Hải Thần phản đối cuộc hôn nhân này.

Những tài liệu này chứng tỏ Lâm Đức Thụ rất thân thiết với NTT, nhưng cũng căn cứ vào những lời lẽ trong các báo cáo, người ta có thể thấy rõ là Thành không dính líu tới chuyện Lâm Đức Thụ làm ăn với phía mật thám Pháp; mà trái lại, Thành là đối tượng theo dõi của mật thám Pháp. Ngoài ra, cũng qua các báo cáo này người ta có thể thấy mặc dầu Lâm Đức Thụ hoạt động giữa tập thể các lãnh tụ Cọng sản Việt Nam nhưng cho tới ngày ông ta bị lộ diện năm 1931 thì không có một lãnh tụ Cọng sản Việt Nam nào trong địa bàn hoạt động của ông bị bắt. Đặc biệt là ngay cả Nguyễn Tất Thành, một nhân vật được mật thám Pháp đặt tên là Nguyễn Ái Quốc, cũng không hề bị bắt cho dầu ông Thành ăn ở trong nhà của Thụ

Đây là một dấu hỏi lớn về nhân vật phản bội Lâm Đức Thụ mà chỉ có NTT hay Hồ Tùng Mậu và Lê Tán Anh mới biết. Đặc biệt những báo cáo của Thụ chỉ làm theo đơn đặt hàng của mật thám Pháp về hai nhân vật quan trọng là Phan Bội Châu và Lý Thụy nhưng không nói về các nhân vật khác, nhất là Lê Tán Anh, người đã cùng Phạm Hồng Thái ám sát toàn quyền Berlin tại Sa Điện.

Ngoài tài liệu trong Văn khố Pháp được công bố năm 1980, năm 1992 các tài liệu mật của CSQT cũng được đưa ra công chúng, người ta tìm thấy một báo cáo của Hà Huy Tập vào tháng 4 -1935, nói rằng Nguyễn Tất Thành biết Lâm Đức Thụ là một tay chỉ điểm của Pháp nhưng vẫn giao du liên lạc. Đối chiếu với tài liệu của mật thám Pháp thì năm 1930 Lâm Đức Thụ đã bị Hồ Tùng Mậu, Lê Quang Đạt phát hiện là mật thám, Thụ phải bán nhà tại Hồng Kông và trốn vào một nơi bí mật; thế mà năm 1931 ông Nguyễn Tất Thành từ trong nhà giam vẫn liên lạc với Thụ, nhờ Thụ coi sóc tổ chức của mình cũng như giúp đỡ vợ của mình ( Lý Ứng Thuận ).

Ngày nay, khi mà mọi hành động làm việc cho mật thám Pháp của Lâm Đức Thụ đã được đưa ra ánh sáng thì rõ ràng Lâm Đức Thụ là một điệp viên hai mang. Nhưng một dấu hỏi lớn được đặt ra là trong thâm tâm của ông thì mang bên nào mới là mang thực sự của ông? Ông giả vờ cọng tác với Nguyễn Tất Thành hay là ông chỉ giả vờ cọng tác với Pháp?

Câu trả lời dễ dàng là nếu ông thực sự cộng tác với Pháp thì năm 1931 ông đã nộp Nguyễn Tất Thành cho Pháp vì ông Thành và ông cùng sinh sống tại khu vực Tam Khẩu của Hồng Kông trong khi mật thám Pháp đang truy lùng ráo riết Hồ Tùng Mậu và Nguyễn Tất Thành.

Hơn nữa, sau khi bị lộ diện vào năm 1931 Lâm Đức Thụ đã dời về Cam Bốt sinh sống, vậy mà năm 1945 ông ta lại ngang nhiên về Hà Nội tìm gặp Hồ Chí Minh? Cái gì bảo đảm an toàn cho ông khi ông trở lại đối diện với những lãnh tụ Việt Minh ? Và cái gì bảo đảm an toàn cho ông khi ông quyết định trở về Thái Bình hoạt động chính trị trở lại trong khi Thái Bình đang thuộc quyền kiểm soát của Việt Minh. Đặc biệt tại sao ông Thành không hô người bắt Lâm Đức Thụ mặc dù cũng vì Lâm Đức Thụ mà ông suýt bị Quốc tế Cọng sản lên án tử hình sau khi nhận được báo cáo của Hà Huy Tập ?

Những dân quân du kích chứng kiến Việt Minh hành quyết Lâm Đức Thụ vào năm 1947 tại Thái Bình đã kể lại rằng ông không chịu bịt mắt trước khi bắn và ông hỏi câu cuối cùng: “Trước khi bắn, xin cho hỏi, ai ra lệnh giết?”. Đáp : “Cấp trên” ! Ông Lại hỏi : “Cấp trên là ai?”. Tất cả lặng thinh. Ông nói : “Không nói được hả ?! Thế thì bắn đi”. Nguyên văn câu nói cuối cùng chứng tỏ trước khi chết Lâm ĐứcThụ biết mình bị chết vì tay ai.

Cái chết của Lâm Đức Thụ chứng minh ông ta không phải là người của Pháp hay là theo Pháp. Nếu theo Pháp thì ông ta đã sống trong vùng Pháp chiếm đóng như Hà Nội hay Hải Phòng để không đến nỗi bị giết. Trái lại, ông ta sẽ kiếm được rất nhiều tiền nếu ông ta ra trình diện với chính quyền Pháp để chứng nhận với dư luận rằng ông ta đã hội cùng Nguyễn Tất Thành bán Phan Bội Châu.

Vấn đề còn lại thuộc về phía ông Nguyễn Tất Thành, ông có thực sự đồng mưu với Lâm Đức Thụ trong việc bán Phan Bội Châu hay không?

Câu trả lời đã được người thân cận của ông nêu ra : “Nhân nói về chính sách dùng người của Bác, tôi muốn kể chuyện này. Có lần trong một hội nghị về công tác tổ chức, Lý Ban nói : Đối với con cán bộ, khi kết nạp vào Đảng, không cần phải có thời gian dự bị mà được chính thức ngay. Bác nói ngay : Chú nói như thế không đúng, đối với cách mạng phải xem người ấy cụ thể như thế nào. Vì có chuyện hổ phụ sinh khuyển tử, tức là hổ đẻ ra con là chó. Phan Bá Ngọc là con của Phan Đình Phùng đã đưa mật thám bắt Phan Bội Châu” ( Hoàng Tùng, Những Kỷ Niệm Về Bác Hồ ).

Khi Hoàng Tùng nhắc lại câu này thì hầu hết các nhân vật từng nghe câu nói của HCM đều còn sống. Và một số bài tùy bút của các nhân vật thân cận HCM cũng có nhắc đến câu này; chứng tỏ HCM đã nói nhiều lần với nhiều người.

Nhưng trời sui đất khiến, ông quên rằng mọi tài liệu, báo chí còn lưu lại đều ghi rõ là Phan Bá Ngọc bị Lê Tán Anh giết vào ngày rằm tháng giêng năm 1922 trong khi Phan Bội Châu bị bắt là ngày 11 tháng 5 năm 1925 (Âm lịch). Làm sao mà Phan Bá Ngọc có thể đội mồ sống dậy để bán cụ Phan cho được. Lúc cụ Phan bị bán thì Nguyễn Tất Thành đang ở tại Quảng Châu tất ông phải biết rõ hơn ai hết và ông không thể nhớ lộn được bởi vì đối với ông thì chuyện Phan Bội Châu bị bắt đâu phải là chuyện nhỏ!

Có rất nhiều người đọc hồi ký của Hoàng Tùng với câu nói của ông Hồ Chí Minh nhưng ít ai để ý là ông Phan Bá Ngọc đã chết 3 năm trước khi ông Phan Bội Châu bị bán cho nên không ai phát hiện ra ông Hồ đã nói dối, và nói dối nhằm mục đích gì. Ngoại trừ người sưu tập tài liệu này. Chính vì vậy mà trong phần kết luận, người sưu tập tài liệu này dám nói rằng mình đã bắt được tay vay được cánh những tội ác của ông Hồ Chí Minh.

Người sưu tập tài liệu này đã phổ biến phát hiện riêng của mình trong bộ sách “Bối Cảnh Lịch Sử Chính Trị Việt Nam Cận Đại và Hiện Đại” do Nhà xuất bản Làng Văn phát hành tháng 6 năm 2008. Tuy nhiên ngày 13-12 năm 2008, nhà văn Dương Thu Hương họp báo ra mắt sách tại Paris. Trong buổi họp báo bà phát biểu rằng bà không chấp nhận chuyện bôi nhọ ông Hồ Chí Minh, các chứng cứ cáo buộc ông Hồ Chí Minh bán ông Phan Bội Châu là không có cơ sở. Bà nói rằng “nhà báo Olivier Tood phải trưng ra bằng cớ ông Hồ bán cụ Phan, nếu không ông ta là kẻ xuyên tạc lịch sử”.

Sở dĩ bà Dương Thu Hương mạnh miệng như vậy vì tại Pháp bà đã đọc được sách của Daniel Hémery và trong đó Hemery đã chứng minh được rằng Lâm Đức Thụ mới là kẻ bán cụ Phan, không có bằng chứng nào cho thấy Lý Thụy đồng lõa với Thụ trong vụ này, ngược lại Lý Thụy là người cũng đang bị Lâm Đức Thụ theo dõi.

Rủi cho bà Dương Thu Hương, bởi vì Daniel Hémery viết sách đó vào năm 1990, thuở đó tài liệu của CSQT tại Mạc Tư Khoa chưa được bạch hóa. Nhưng đến năm 1994 sử gia Quinn Judge đã công bố các chứng cớ cho thấy Lý Thụy và Lâm Đức Thụ cùng một ruột, bằng chứng là năm 1931 sau khi mọi người phát hiện Thụ là mật thám thì ông Nguyễn Tất Thành vẫn gởi thư liên lạc và gởi gắm người thân của mình cho Thụ. Và rồi đến năm 1994 hồi ký của Hoàng Tùng xác nhận ông Hồ Chí Minh đổ tội bán cụ Phan cho Phan Bá Ngọc là người đã chết trước đó 3 năm.

Nếu Olivier Tood đọc được những chứng minh trong tập tài liệu này thì ông ta có thể cáo buộc ngược trở lại rằng “bà Dương Thu Hương là kẻ xuyên tạc lịch sử”. Rõ ràng là ông Nguyễn Tất Thành đã tự thú mình có đồng lõa với Lâm Đức Thụ trong vụ bán Phan Bội Châu.

BÙI ANH TRINH

One comment on “HỒ CHÍ MINH THÚ NHẬN CÓ BÁN PHAN BỘI CHÂU (Bùi Anh Trinh)

  1. Ôi, Bác tôi có là cái gì đâu!!!

    Ngày xưa khi cánh của Internet chưa mở và với những gì tôi được học, được đọc. Tôi cứ ngỡ Bác tôi là vĩ đại nhất. Nhưng rồi Gandhi, Mandela, Lý Quang Diệu… hiện ra tôi mới ngỡ ngàng “Ôi họ mới vĩ đại làm sao, Bác tôi có là cái gì đâu!!! Hic hic hic

    Nelson Mandela :

    “Cuộc đấu tranh của chúng ta đã bước vào khoảnh khắc quyết định. Hành trình đến với tự do của chúng ta là không thể đảo ngược. Đây là lúc cần đẩy mạnh cuộc đấu tranh trên tất cả các mặt trận. Cho phép mình ngơi nghỉ lúc này là một sai lầm mà các thế hệ tương lai sẽ không thể nào tha thứ cho chúng ta”.

    http://12bennuoc.blogspot.com/2013/12/oi-bac-toi-co-la-cai-gi-au.html#more

    Like

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s