PHAN BỘI CHÂU CHO NGUYỄN TẤT THÀNH MỘT BÀI HỌC (Bùi Anh Trinh)

Giải mã những bí ẩn của Nguyễn Tất Thành

Bài 5: PHAN BỘI CHÂU CHO NGUYỄN TẤT THÀNH MỘT BÀI HỌC

Trích sách “Chuyện nước non đau lòng tới nghìn năm” của Bùi Anh Trinh do Làng Văn phát hành năm 2008 :

Nguyễn Tất Thành từ Nga đếnTrung Hoa

Năm 1924, tháng 9, tại Mạc Tư Khoa Nguyễn Ái Kvak được CSQT chỉ định về Trung Hoa hoạt động trong đảng Quốc Dân của ông Tôn Dật Tiên. Nhưng ông gởi thư khiếu nại, nêu 3 lý do: (1) Ngoài tiền chi phí đi đường ông không có trợ cấp lương bổng. (2) Ông hoạt động với tư cách cá nhân, không phải là một cán bộ của CSQT. (3) Ông bị chấm dứt liên lạc với đảng của ông là ĐCS Pháp. Ngoài ra, ngày 19-9, Nguyễn Ái Kvak lại gởi thư cho ông Albert Treint của ĐCS Pháp ( Cũng là ủy viên trung ương của CSQT ), yêu cầu can thiệp với CSQT cho ông được giữ một nhiệm vụ khác tại Trung Hoa thay vì phải làm việc trong Quốc Dân Đảng Trung Hoa (Hsltr/MTK).

Năm 1924, tháng 10, Nguyễn Ái Kvak được chỉ định về làm việc tại phái bộ Borodin trong trường võ bị Hoàng Phố tại thành phố Quảng Châu tỉnh Quảng Đông. Ngày 11-11, ông đến Quảng Châu, lấy tên là Lý Thụy, giữ nhiệm vụ làm phiên dịch cho cơ quan dịch vụ viễn thông Nga tại Trung Hoa (tiền thân của Thông tấn xã Tass), làm việc dưới quyền của Trưởng Chi nhánh Viễn thông là Votinsky.

* Chú giải : Công việc của Nguyễn Tất Thành tại Trung Hoa

Sau này có nhiều sử gia viết rằng HCM làm phụ tá cho trưởng phái bộ tên là Borodin. Lại có người viết rằng ông làm bí thư kiêm thông dịch cho Borodin. Nhưng những thông tin này không đúng vì phụ tá cho Borodin là Galan, một cán bộ cao cấp của CSQT. Bí thư kiêm thông dịch là ông Trương Thái Lôi, Ủy viên Trung ương ĐCS Trung Hoa, ngoài ra còn có các cán bộ Cọng sản Trung Hoa cao cấp khác làm việc trong phái bộ như Chu Ân Lai, Đặng Dĩnh Siêu, Thái Sướng, Bào La Đình…, những người này đã từng du học tại Nga, thừa sức làm thông ngôn tiếng Tàu cho Borodin, không đợi tới ông Lý Thụy.

Ngoài ra, hiện nay hồ sơ lưu trữ CSQT có một bức thư của ông Nguyễn Ái Kvak gửi cho Albert Trient, đề ngày 19-9-1924, cho biết ông chỉ biết viết tiếng Tàu chứ không nói được tiếng Tàu.

Sự thực là lúc đó nước Trung Hoa có hai chính quyền: Tại Bắc Kinh có một chính quyền do Tào Côn lãnh đạo và tại Quảng Châu có một chính quyền do Tôn Dật Tiên lãnh đạo. Stalin có một đại sứ chính thức tại Bắc Kinh, nhưng bên trong Stalin muốn yểm trợ ông Tôn Dật Tiên tại Hoa Nam tiến hành thống nhất đất nước cho nên cử Borodin cầm đầu một phái đoàn cố vấn cao cấp sang Hoa Nam núp dưới danh nghĩa là cố vấn cho trường võ bị Hoàng Phố. Trường này do Tưởng Giới Thạch làm chỉ huy trưởng, ông Thạch từng sang Nga nghiên cứu chế độ của Lénin từ năm 1921, ông cũng là em cột chèo của Tôn Dật Tiên.

Chức vụ chỉ huy trưởng trường võ bị Hoàng Phố chỉ là cái vỏ bên ngoài nhưng bên trong Tưởng Giới Thạch là đại diện của chính phủ Tôn Dật Tiên làm việc với phái bộ Borodin. Phái bộ Borodin hoạt động như là một lãnh sự quán của Nga đối với chính phủ Miền Nam, trong đó có một bộ phận là Chi nhánh viễn thông, tiền thân của Thông tấn xã Tass bây giờ.

Trưởng chi nhánh viễn thông là Votinsky, ông Nguyễn Tất Thành làm việc dưới quyền của ông này, chuyên dịch các bản tin bằng tiếng Hoa sang tiếng Anh và tiếng Pháp. Tuy nhiên vì trình độ văn chương Anh, Pháp của ông là do tự học nên người ta chỉ cần lấy cái ý của bản tin mà thôi, sau đó họ viết lại bằng Nga văn hoặc muốn chuyển đi Tây Âu thì những người ở Mạc Tư Khoa viết lại bằng Anh hay Pháp văn.

Ngày nay nhiều sử gia đọc lại các báo cáo bằng tiếng Pháp hay tiếng Anh của Nguyễn Tất Thành thời đó đều công nhận là lối viết Anh văn và Pháp văn của ông rất “khó chịu”. Sử gia Quinn Judge là người Tây Phương đầu tiên được xem bút tích những báo cáo của HCM trong hồ sơ lưu trữ của CSQT tại MTK đã nhận xét về văn hóa của ông HCM vào năm 1930, trong Website của đại Học Yale năm 1994, như sau :

“Sở trường về ngôn ngữ của ông Hồ đã biến ông thành sợi dây liên lạc hữu ích giữa người Âu và người Á. Ông có thể giao thiệp dễ dàng bằng tiếng Pháp (dù khi viết, nhiều khi ông không chia động từ ), bằng tiếng Anh bập bẹ nhưng hiểu được, bằng tiếng Nga tàm tạm, tiếng Quan Hỏa hay tiếng Quảng Đông”.

Bỏ qua tiếng Anh và tiếng Trung Hoa là hai thứ tiếng ông chỉ cần học để đủ giao tiếp trong sinh hoạt hằng ngày tại địa phương mà ông tạm trú. Nhưng một người chuyên viết văn bằng tiếng Pháp mà lại nhiều khi không chia động từ thì chứng tỏ Nguyễn Tất Thành không phải là tác giả những bài viết nổi tiếng ký tên Nguyễn Ái Quốc trên tờ L’Humanité và Le Paria.

Từ đó có thể khẳng định rằng Manuilsky đã lầm khi chọn Nguyễn Tất Thành đem về Nga vào năm 1923. Sau đó Manuilsky đưa ông sang Trung Hoa chỉ vì muốn tống ông đi cho rảnh nợ, mới đầu họ tống ông về cho Quốc Dân Đảng Trung Hoa để người Trung Hoa muốn sử dụng ông như thế nào thì tùy chứ họ không cần để ý tới; nhưng vì hai lá đơn khiếu nại của ông cho nên mới có chuyện sắp xếp cho ông về làm việc trong chi nhánh viễn thông Nga.

Chính trong tự truyện của ông với bút hiệu Trần Dân Tiên, HCM cũng nói rõ: “Đọc quảng cáo trên tờ Quảng Châu Nhật báo, ông tìm đến làm phiên dịch cho ông Bô-rô-Din, cố vấn chính trị của bác sĩ Tôn Dật Tiên và của chính phủ Quảng Châu. Ông dịch những tờ báo Trung Quốc ra tiếng Anh…”.

Rõ ràng là ông có làm việc trong cơ quan của Borodin nhưng công việc của ông chỉ là dịch các bản tin từ báo chí tiếng Tàu ra tiếng Anh, tức là công việc của một nhân viên thuộc cơ quan thông tấn Nga. Sở dĩ công việc này thích hợp với ông vì thuở thiếu thời ông có học tiếng Hán và đọc được chữ Hán, sau đó ông có một thời gian sinh sống tại nước Anh cho nên đọc một bài báo bằng tiếng Hán rồi dịch ra tiếng Anh thì rất thích hợp với sở trường của ông.

Trong khi đó công việc của Borodin thực sự là Đại sứ của Nga đối với chính phủ Miền Nam Trung Hoa của Tôn Dật Tiên. Nguyễn Tất Thành không đủ trình độ cũng như không đủ sự tin cậy của Staline hay chính phủ Nga để làm bí thư hay phụ tá cho Borodin trong công tác tiếp xúc mật với chính quyền Quảng Châu của ông Tôn Dật Tiên. Đối với họ ông chỉ là một người thợ chụp hình ở Paris mới ghé chân sang Nga được 1 năm, có mấy tháng tham gia viết các bài báo ngắn cho các tờ báo của CSQT tại Mạc Tư Khoa thì ông không đủ tín nhiệm để tham dự vào các việc bí mật trọng đại giữa hai quốc gia cũng như giữa CSQT và ĐCS Trung Hoa.

Sở dĩ có chuyện ông làm phụ tá hay bí thư của Borodin là do các nhà tuyên huấn của CSVN, họ căn cứ vào chi tiết do ông HCM đưa ra trong tự truyện “Vừa Đi Đường Vừa Kể Chuyện” của ông với tên T.Lan: “Ở Quảng Châu, Bác vừa làm phiên dịch cho đồng chí Borodin, cố vấn Liên Xô bên cạnh chính phủ cách mạng Quốc dân Đảng, vừa phụ trách mục tuyên truyền trong tờ báo Canton Gazette”.

Khi ông Nguyễn Tất Thành viết lên điều này vào năm 1961 thì nhiều người trong cuộc vẫn còn sống, nhất là Chu Ân Lai và vợ là Đặng Dĩnh Siêu. Cho nên ông viết là ông làm phiên dịch cho Borodin, nhưng nếu có ai biết chuyện mà hỏi lại ông thì ông sẽ nói rằng ông làm một công việc phiên dịch trong phái bộ Borodin, chuyên dịch các báo Trung Hoa ra tiếng Anh và tiếng Pháp. Do đó câu văn ông viết ra vẫn đúng sự thực, chẳng qua là người đọc hiểu lầm mà thôi.

Các nhà tuyên huấn CSVN căn cứ vào câu văn trên mà phong cho ông Nguyễn Tất Thành chức vụ phiên dịch cao nhất trong phái bộ là bí thư kiêm thông dịch. Sau thấy không ổn vì ông Trương Thái Lôi, bà Đặng Dĩnh Siêu và ông Chu Ân Lai phiên dịch tiếng Tàu giỏi hơn cho nên các nhà tuyên huấn mới đổi thành chức phụ tá của Borodin. Tuy nhiên khi hồ sơ mật của CSQT được công bố thì phụ tá của Borodin là Galan, một cán bộ thân cận của Stalin.

Đặc biệt, nhà tuyên huấn Hồng Hà viết trong tác phẩm Bác Hồ Trên Đất Nước Lê Nin, trang 148, lại phong cho Nguyễn Tất Thành: “anh là cố vấn riêng và là người phiên dịch của đồng chí Borodin, đồng thời là phóng viên của hãng Roxta”. Trong khi Trần Dân Tiên cho biết Borodin là “Cố vấn chính trị của bác sĩ Tôn Dật Tiên” thì Hồng Hà lại phong cho anh Quốc làm cố vấn cho cố vấn của Tổng thống Trung Hoa. Một ông “siêu cố vấn” mà thực tài chỉ là một anh thợ rửa hình tại Paris xuất thân từ một anh hầu bàn dưới tàu buôn của Pháp và phụ bếp tại Luân Đôn (sic).

Năm 1924, ngày 12-11, Nguyễn Ái Kvak gởi thư cho CSQT báo cáo rằng ông đã đến Quảng Châu ngày hôm trước. Đồng thời ông cũng gởi thư cho Hiệp Hội Nông Dân Quốc tế (một nhánh ngoại vi của CSQT) yêu cầu đừng cho ai biết ông đã rời Mạc Tư Khoa bởi vì ông đang là “Cư dân bất hợp pháp” tại Trung Hoa. Cũng trong ngày 12, ông giả danh một nữ đảng viên QDĐ Trung Hoa tên là Loo Shing Yang, gởi thư cho một tập san phụ nữ của CSQT tại Mạc Tư Khoa, đề nghị viết bài cho tạp chí với tên tác giả là một người nữ để lấy tiền nhuận bút (Hsltr/MTK).

Ngoài việc xin viết báo để kiếm thêm tiền mà không thấy trả lời. Ông cũng tìm đến xin việc làm thêm tại một tiệm chụp hình của người Việt Nam. Người chủ tiệm là Lâm Đức Thụ từ chối nhận thêm người nhưng biết ông là người Nghệ An bèn giới thiệu ông với một người Nghệ An là Hồ Tùng Mậu. Một lần nữa số phận đưa đẩy cho Nguyễn Tất Thành dễ dàng tham gia hoạt động chính trị vì Hồ Tùng Mậu và Lâm Đức Thụ đều là cọng sự viên tâm huyết của ông Phan Bội Châu. Lúc này Phan Bội Châu đang xúc tiến thành lập một Đảng tập họp những người Việt Nam lưu vong tại Trung Hoa cũng như tại Việt Nam. Chiến dịch thành lập Đảng được phát động rầm rộ vì được sự giúp đỡ của nhà cầm quyền Quốc Dân Đảng Trung Hoa. Vì vậy chỉ sau một thời gian ngắn thì Thụ và Mậu rủ Thụy gia nhập tổ chức.

Năm 1924, một tháng sau khi đến Quảng Châu, ngày 18-12, Nguyễn Tất Thành gởi thư báo cho CSQT rằng ông lấy tên Trung Hoa là Lý Thụy, đã gặp một số người Việt Nam lưu vong tại Quảng Châu. Trong số đó ông làm quen và chiêu dụ được một nhân vật lãnh đạo một nhóm ái quốc, nhân vật này có gia đình bị Pháp tàn sát và ông ta phải rời đất nước cách đây 30 năm, ông ta chẳng biết gì về chính trị.(Hsltr/MTK)

* Chú giải: Sử gia Qiunn Judge đoán rằng nếu chấp nhận hoặc là nhân vật đó nói thêm hoặc là Lý Thụy nói thêm thì trừ đi 10 năm, có 3 người đã lưu vong 20 năm, thích hợp cho nhân vật này, đó là Phan Bội Châu, Hồ Học Lãm và Nguyễn Hải Thần. Nhưng Quinn Judge cho rằng ông Châu và ông Lãm lúc đó ở Hàng Châu cho nên nhân vật đó phải là Nguyễn Hải Thần (Ho Chi Minh, the missing years, trang 78).

Tuy nhiên sử gia Quinn Judge không biết rằng thời đó ông Nguyễn Hải Thần đang phục vụ trong quân đội Trung Hoa tại Vân Nam, gia đình chẳng bị tàn sát, ông sang Nhật năm 1906 theo học trường võ bị Nhật đợt đầu tiên. Sau khi bị Nhật trục xuất ông về lại Việt Nam, bị bắt vì liên can tới vụ đầu độc lính Pháp năm 1908 nhưng được tha vì không đủ

chứng cớ. Năm 1912 mới sang Tàu và năm 1915 còn dẫn quân kháng chiến đánh vào Hà Khẩu tỉnh Lạng Sơn. Coi như ông mới rời đất nước có 10 năm. Vậy thì Nguyễn Hải Thần hoàn toàn không phù hợp với nhân vật mà Lý Thụy nêu trong thư .

Thật ra theo như suy luận của người Việt Nam thì không ai nói thật với người mới quen. Ông Lý Thụy từ xa đến Quảng Đông hơn một tháng thì không đủ tạo niềm tin cho bất cứ một người nào để người đó có thể mang gốc gác ra mà thổ lộ cho ông Thụy, nhất là những người trong tổ chức Tâm Tâm Xã. Có thể nhân vật đó thả quả bóng để thăm dò Lý Thụy hoặc là Lý Thụy thả một quả bóng vô tội vạ cho Mạc Tư Khoa vì đây không phải là một báo cáo tình báo hay quân sự, chẳng có ai kiểm lại xem cái nhân vật đó là ai, ông ta có nói thật hay không.

Nếu như những điều Lý Thụy nêu trong thư là có thật thì có lẽ đó là ông Nguyễn Thiện Thuật. Lúc đó ông Nguyễn Thiện Thuật đang sống tại Quảng Đông, rời đất nước khoảng 30 năm, có em trai bị tử hình cùng bản án với Phan Bội Châu và đã bị hành quyết; có con trai cũng bị án tử hình khiếm diện cùng bản án với Phan Bội Châu, sau bị chết trong trận tấn công vào ba tỉnh biên giới năm 1915. Nguyễn Thiện Thuật là lãnh tụ kháng chiến chống Pháp tại chiến khu Bãi Sậy, sau khi bị quân Pháp đánh bại mới chạy sang Trung Hoa, sống trong nhà của ông Lưu Vĩnh Phúc, được người Việt tại Hoa Nam rất trọng nể.

Lấy tâm lý người Việt Nam mà đoán thì lúc này Lý Thụy bắt đầu xây mộng lớn, ông vừa đặt chân vào một môi trường lý tưởng để bắt đầu nhen nhóm một tổ chức có thể làm nên đại sự. Địa bàn hoạt động an toàn vì ở ngoài vùng kiểm soát của Pháp nhưng có thể liên lạc với người trong nước cũng dễ như giữa tỉnh này và tỉnh kia mà thôi. Về con người thì đầy dẫy những cá nhân vì chống đối thực dân mà phải lưu vong, toàn là những anh hùng từng có thành tích và kinh nghiệm đáng kể. Bây giờ ông có thể đứng ra làm trùm những người Việt lưu vong nếu như ông chứng minh được rằng đàng sau lưng của ông là một kho yểm trợ vô tận về nhân lực cũng như vật lực, đó là Cọng sản Quốc tế và Cọng sản Nga.

Vậy thì chuyện trước mắt là ông phải tỏ ra năng động và có hiệu quả. Ông phải báo cáo làm sao cho những người ngồi tại Mạc Tư Khoa tin tưởng và chịu chi cho ông một cấp khoản đầu tiên để xây dựng tổ chức thì ông sẽ vung tiền đó ra mà chi cho những hoạt động tuyên truyền cũng như đào luyện nhân sự. Điều đó sẽ làm cho những người Việt yêu nước tin rằng ông là đầu nguồn cung cấp khả năng khôi phục đất nước. Nếu Mạc Tư Khoa cần kiểm tra lại những điều ông vừa báo cáo thì ông sẽ dẫn họ tới gặp ông Nguyễn Thiện Thuật mà không sợ bị cho rằng nói không đúng sự thật.

Ngay bước đầu tiên Lý Thụy đã gặp may vì ông làm quen được với hai nhân vật tay phải, tay trái của Phan Bội Châu là Hồ Tùng Mậu và Lâm Đức Thụ đúng vào thời điểm Phan Bội Châu đang chuẩn bị cho ra đời một đảng chính trị lớn, hợp pháp, được sự ủng hộ của chính quyền Trung Hoa. Suy nghĩ duy nhất của Lý Thụy là làm sao leo càng cao trong tổ chức sắp được thành lập; có như vậy ông ta mới có thể được mọi người biết mặt biết tên.

Mặt khác ông cần phải nhanh chóng lấy niềm tin của Mạc Tư Khoa bằng cách tạo ra những chứng cớ rằng ông có hoạt động và hoạt động rất hữu hiệu. Nếu được Mạc Tư Khoa tin tưởng và yểm trợ cho một số tài chánh thì từ đó ông sẽ nhân rộng lòng tin trong giới người Việt lưu vong tại Hoa Nam. Và hễ người Việt theo càng đông thì ông càng chứng tỏ cho Mạc Tư Khoa thấy được khả năng của ông và sẽ có thêm nhiều viện trợ. Như thế thì mộng lớn của ông có thể thành công một cách thuận lợi.

Phan Bội Châu cho Nguyễn Tất Thành một bài học

Năm 1925, đầu năm, Lý Thụy gởi một bức thư làm quen với cụ Phan Bội Châu. Không biết trong thư nói gì nhưng mật thám Pháp còn lưu lại một bức thư trả lời của cụ Phan, trong đó ông bảo rằng ông rất khâm phục Lý Thụy. Ông tự cho mình là một người hủ lậu, không bỏ được cái đầu óc suy nghĩ mà ông học được trước khi rời đất nước với tuổi đời trên 40. Ông thấy rằng chỉ có Lý Thụy mới là người thay thế ông trong vai trò cứu dân cứu nước. Ông đánh giá cái biết của Lý Thụy vượt xa ông gấp trăm lần. Cuối cùng ông mong được gặp mặt để nghe một đôi lời chỉ bảo (Hslt/Quốc gia Pháp).

* Chú giải: Sử gia Quinn Judge căn cứ vào lá thư này để khẳng định rằng tuy Lý Thụy mới đến Trung Hoa hơn một tháng nhưng vị thế chính trị của Lý Thụy đối với người Việt yêu nước tại Quảng Đông vượt trội Phan Bội Châu mà ngay chính cụ cũng đã “Tâm phục khẩu phục”. Do đó có những cáo buộc cho rằng Lý Thụy mưu triệt cụ Phan để tranh giành uy thế chính trị là không đúng (Ho Chi Minh, The Missing Years , trang 76).

Đó là Quinn Judge suy luận theo tâm lý của người Tây Phương, nhưng nếu theo tâm lý của người Việt Nam thì có lẽ ông Thụy không dám đưa cho ai coi lá thư này vì rõ ràng đây là một cách nói khiêm tốn của người Việt Nam dành cho một người thiếu khiêm tốn. Cụ Phan muốn sửa lưng Lý Thụy. Cũng như cụ Phan Chu Trinh trong một bức thư gởi cho Nguyễn Tất Thành vào năm 1922 đã tự cho rằng mình là một người hủ lậu, kém xa Nguyễn Tất Thành về hiểu biết thời sự; nhưng sau đó là một tràng dạy cho Nguyễn Tất Thành về các ý tưởng ích kỷ của NTT. Vậy nên nếu đúng theo tâm lý Việt Nam qua lá thư này thì dưới con mắt của Phan Bội Châu, Lý Thụy chưa thể là một lãnh tụ, ông nhắc khéo cho Thụy là cần phải học hỏi thêm về đức khiêm tốn .

Có lẽ bà Quinn Judge không hiểu cách nói năng giao tiếp của người Á Đông thời trước. Một khuôn cách ngoại giao sang trọng dành cho người có học là đức khiêm tốn. Câu cuối của bức thư được bà Quinn Judge dịch ra tiếng Anh là : “Will you share one or two task with me?”, thực ra trong tiếng Việt thì câu này là “Mong được nghe một đôi lời chỉ giáo”. Câu này sẽ có ý nghĩa chân thành nếu như đó là câu của một người nhỏ tuổi nói với một người lớn tuổi nhưng nếu một người lớn tuổi mà nói câu này với một người nhỏ tuổi thì đó là một câu mĩa mai.

Có lẽ người cố vấn dịch thuật đã cẩn thận nhắc cho bà Quinn Judge rằng ý nghĩa câu này không phải là ý nghĩa thật mà nó có tính cách mĩa mai cho nên sau khi dịch câu này thì bà Quinn Judge viết tiếp theo: “He asked, perhaps with a touch of irony”, ( Có lẽ ông viết câu này với đôi chút mĩa mai ). Nhưng thực ra toàn bộ bức thư đều có ý mĩa mai chứ không phải chỉ riêng câu cuối. Hơn nữa, câu cuối luôn luôn là kết luận của toàn bài văn, hầu như văn chương của dân tộc nào cũng vậy, ở đây câu cuối là một câu mĩa mai thì chắc chắn toàn bài văn đều có ý mĩa mai.

Năm 1925, ngày 5-1, Lý Thụy báo cáo về Mạc Tư Khoa rằng ông mới thành lập Đông Dương Quốc Dân Đảng vào ngày 3-1 gồm 3 hội viên ban đầu. Một hội viên sẽ về Trung Kỳ và Lào (Vương Thúc Oánh), một hội viên khác (Lê Duy Điếm) sẽ về Bắc Kỳ để đưa học viên sang Quảng Đông cho ông huấn luyện. Ông yêu cầu MTK chỉ thị cho những người trong phái bộ Borodin hỗ trợ tài chánh cho ông (Hsltr/MTK).

Năm 1925, ngày 19-2, Lý Thụy gởi thư cho CSQT báo cáo ông đã phát triển đảng của ông được 9 người, có 5 người là dự tuyển Đảng viên của ĐCS Trung Hoa ( Lâm Đức Thụ, Lê Tán Anh, Hồ tùng Mậu, Lê Hồng Phong, Lê Quang Đạt ), 2 người trở về Việt Nam và 3 đang ở trong quân đội của Tưởng Giới Thạch. Ông cho biết ông tính ra cần phải có 5.000 dollar để hoàn thành công việc. Ông cũng vẽ ra hướng phát triển của ông là tổ chức cơ sở tại Quảng Đông, Quảng Tây và Thái Lan (Hồ sơ lưu trữ/Mạc Tư Khoa).

* Chú giải: Mới bước chân tới Trung Hoa có hai tháng và mới kết nạp được 9 người mà ông đã vòi tiền CSQT thì hơi sớm. Người ta sẽ không chi tiền vì chưa có gì chứng tỏ tầm cỡ hoạt động của ông so với 5.000 dollar là số tiền trả 10 năm lương cho một thầy giáo tại Hoa Kỳ lúc bấy giờ. Có thể việc này tạo một ấn tượng không tốt đối với CSQT. Ngoài ra, qua việc này cũng thấy rằng ông bắt đầu trò chơi léo lận chữ nghĩa với người ngoại quốc: 9 người mà ông nói đến thực ra là đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng của cụ Phan Bội Châu. Trong khi đó ông nói với CSQT đó là hội viên Đông Dương Quốc Dân Đảng của riêng ông .

Sử gia Quinn Judge ngạc nhiên về cách Lý Thụy đặt tên cho tổ chức mới của ông ta, theo bà thì ông phải lấy tên có dính dáng đến Cọng sản mới phải, đàng này nó không ám chỉ gì tới Cọng sản mà còn có vẻ ám chỉ chủ trương của ông Tôn Dật Tiên, liệu những người ở Mạc Tư Khoa sẽ nghĩ sao nếu cho rằng ông muốn theo Tôn Dật Tiên? Bà Quinn Judge ngạc nhiên như vậy là phải vì bà không thể nào hiểu được cách chơi chữ của ông Lý Thụy; những người kia là đảng viên của ông Phan Bội Châu, nhưng nếu là người Tây Phương thì dễ lầm Indochina với Việt Nam là một.

Tuy nhiên đúng như bà Quinn Judge e ngại, lối chơi chữ đánh lừa được Mạc Tư Khoa nhưng lại khiến những người ngồi tại Mạc Tư Khoa có thể đánh giá là ông Lý Thụy không có tư tưởng Cọng sản sâu sắc, ngay chính trong lối đặt tên tổ chức của ông; người ta thường gói ghém mục tiêu lý tưởng của tổ chức trong danh xưng của tổ chức, nhưng đàng này ông lại lấy tên theo như tổ chức của ông Tôn Dật Tiên thì chứng tỏ ông không hề nghĩ tới hai chữ Cọng sản trong khi ông lại là một đảng viên cán bộ của QTCS đã được đào luyện tại Nga và đang làm việc ăn lương của Nga.

Một điều đáng lưu ý khác, là bắt đầu từ lúc mới bước chân đến Trung Hoa cho tới khi ông rời Trung Hoa vào năm 1927 thì mọi báo cáo của NTT gửi về CSQT tại Mạc Tư Khoa hoàn toàn không theo hệ thống của phái bộ Borodin, chứng tỏ mọi hoạt động của ông đối với người Việt Nam không dính dáng đến công việc của ông tại phái bộ Borodin. Vì vậy những nguồn tin nói rằng NTT theo phái bộ Borodin về Trung Hoa để hoạt động cho phong trào CSVN là không đúng.

Từ ngày 11-11-1924 ông NTT phải bắt đầu mon men tự tìm hiểu về kiều bào Việt Nam tại Trung Hoa chứ ông không được nghe thuyết trình hay được xem các báo cáo chính trị của các nhân viên điệp báo trong phái bộ Borodin bởi vì chức vụ của ông chỉ là nhân viên dịch lại các bài báo cho hãng thông tấn. Đây là một chức vụ nhỏ dưới quyền của nhân vật Votinsky. Trong khi Votinsky cũng chỉ là Trưởng chi nhánh viễn thông trong phái bộ Borodin.

Với tình cảnh hoạt động như vậy mà hai tháng sau ông lại gởi thư đòi các tay tổ tại Mạc Tư Khoa chi một số tiền lớn cho ông như là chi cho một nhà thầu lớn về chính trị thì không ổn. Bản thân các ông trùm ngồi tại Mạc Tư Khoa đều trải qua gian khổ và đầy kinh nghiệm, người nào cũng bắt đầu từ khi chỉ có hai bàn tay không cho đến khi ngồi tại Văn phòng CSQT tại Mạc Tư Khoa là cả một quá trình dày dạn kinh nghiệm, cho nên họ chỉ coi báo cáo của Nguyễn Ái Kvak như là thư mời gọi đặt hàng của một người mới khai trương cơ sở hoạt động chính trị mà chưa chi đã đòi ứng tiền trước .

Năm 1925, ngày 2-3, Lý Thụy gởi cho Hiệp Hội Nông Dân Quốc Tế tại mạc Tư Khoa một báo cáo dài về phong trào Nông dân nổi dậy ở vùng Hoa Nam do lãnh tụ Bành Bái cầm đầu. Phong trào này bùng phát vào giữa năm 1924 và đến đầu năm 1925 thì phát triển mạnh, khống chế chính quyền tại nhiều nơi trên khắp vùng Hoa Nam. Hiệp hội Nông Dân Quốc Tế của CSQT tại Mạc Tư Khoa đang muốn theo dõi và yểm trợ cho cuộc nổi đậy này nhưng họ không có cán bộ chuyên về nông dân tại Hoa Nam. Nhận được báo cáo của Lý Thụy thì họ mừng lắm và nhờ ông theo dõi cũng như báo cho họ các diễn tiến (Hsltr/MTK).

Năm 1925, Từ tháng 1-1925 đến tháng 9 năm 1925, Trung tâm Huấn luyện Chính trị của Bành Bái mở 3 khóa huấn luyện tuyên truyền, gồm khóa 3, khóa 4 và khóa 5. Khóa nào cũng có một số học viên Việt Nam tham dự. Trong số này có Nguyễn Sơn, Nguyễn Hữu Cần (Phi Vân), Mai Ngọc Thiệu, Nguyễn Phong Sắc, Trịnh Đình Cửu, Lê Văn Lương, Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Lương Bằng, Hoàng Văn Nọn, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Văn Cừ, Mạch Văn Liệu (Phùng Chí Kiên) v.v…

Sau khi Lénin lên nắm chính quyền nước Nga vào năm 1918 thì năm 1919 ông giải tán QTCS 2 và thành lập QTCS 3. Đến năm 1921, nhân danh Chủ tịch nước Nga, Lénin tuyên bố hủy bỏ các hiệp ước bất công mà trước đây nước Trung Hoa bị ép buộc phải ký với nước Nga. Cử chỉ đẹp này đã khiến cho lãnh tụ cách mạng Trung Hoa Tôn Dật Tiên rất hài lòng, ông cử người em cột chèo của mình là Tưởng Giới Thạch sang Nga để vận động QTCS 3 ủng hộ nhân dân Trung Hoa làm cách mạng.

Cũng cùng lúc này, tại Trung Hoa có rất nhiều lãnh tụ chính trị hưởng ứng tư tưởng Léninist, ngã theo khuynh hướng Cọng sản. Trong số đó có những nhân vật có nhiều uy thế như Trần Độc Tú, Trương Thái Lôi, Lý Đại Chiêu…

Tháng 7 năm 1921 Tú và Chiêu thành lập Đảng Cọng sản Trung Hoa, số đảng viên ban đầu là 57 người. Năm 1923 Tôn Dật Tiên nhận viện trợ và cố vấn quân sự của Nga để tổ chức lại quân đội Trung Hoa. Đích thân Tôn Dật Tiên giới thiệu 13 cán bộ của Đảng Cọng sản Trung Hoa gia nhập Quốc dân Đảng Trung Hoa, coi như là hợp lực cùng nhau làm cách mạng. Trong số 13 cán bộ này có Bành Bái và Mao Trạch Đông.

Bành Bái xuất thân là con nhà đại điền chủ nhưng lại theo chủ nghĩa Cọng sản của Marx, tranh đấu cho quyền lợi cho nông dân nghèo nên được nông dân miền Hoa Nam ngưỡng mộ. Sau khi được Tôn Dật Tiên đề cử gia nhập vào Quốc Dân Đảng, ông được giao chức vụ Bí thư Ban Nông Hội của Đảng. Từ vị trí này Bành Bái lập ra Trung tâm Huấn luyện Chính trị cho nông dân, đào tạo cán bộ cốt cán cho Hiệp Hội Nông Dân, một nhánh ngoại vi của QDĐTH.

Nhưng rồi các cán bộ được đào luyện đã trở thành cán bộ Cọng sản bởi vì các bài huấn luyện đều tuyên truyền cho chủ nghĩa Marx-Lénin, trong đó nhấn mạnh về phương pháp “Vận động thổ ti cải cách”, mà sau này CSVN gọi là “Cách Mạng Cải Cách Ruộng Đất”. Sau khi Phong trào “Nông dân nổi dậy” của Bành Bái bị Tưởng Giới Thạch dẹp tan thì Mao Trạch Đông thay Bành Bái tiếp tục lãnh đạo Phong trào Nông Dân.

BÙI ANH TRINH

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s