Thư mở kính gởi: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng bộ Ngoại Giao Phạm Bình Minh

 

Trương Nhân Tuấn
Kính thưa Thủ tướng, kính thưa Bộ trưởng,
Đầu tháng 5 năm 2014 Trung Quốc đã đặt giàn khoan Haiyang Shiyou 981 tại địa điểm cách đảo Tri Tôn, thuộc quần đảo Hoàng Sa (của Việt Nam) khoảng 18 hải lý, cách đảo Lý Sơn (của Việt Nam) khoảng 119 hải lý. Việc này đã gây phẫn nộ cho mọi người Việt Nam, trong cũng như ngoài nước. Đó là một hành vi có thể ghép vào hạng mục xâm lược, không bằng vũ trang sức mạnh, mà bằng một thủ đoạn tinh vi bao bọc dưới lớp vỏ khai thác dầu khí.

Các nỗ lực của nhà nước Việt Nam hôm nay, quốc tế và quốc nội, tố giác hành vi xâm lược này đồng thời khẳng định trước quốc tế tư cách (tự vệ) chính đáng của Việt Nam. Điều này được mọi tầng lớp người Việt Nam ủng hộ.
Đảo Lý Sơn, một đảo cận bờ thuộc chủ quyền của Việt Nam. Đảo Tri Tôn là một cấu trúc địa lý thuộc quần đảo Hoàng Sa mà quần đảo này đã thuộc về Việt Nam từ thời xa xưa. Những nhà cầm quyền Việt Nam, liên tục qua các triều đại vua chúa, nhà cầm quyền khác nhau, đã khám phá, khai thác, quản lý và tuyên bố chủ quyền trên các đảo này mà không hề gặp bất kỳ một chống đối, hay phản đối nào của các triều đại, hay nhà cầm quyền Trung Quốc, cho đến sau Thế chiến thứ II.
Do hoàn cảnh lịch sử, nước Việt Nam bị phân chia thành hai vùng lãnh thổ tại vĩ tuyến 17, lần lượt mang tên: Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Việt Nam Cộng Hòa.
Chiếu theo tinh thần Hiệp định Genève 1954 (được các nước Anh, Pháp, Mỹ, Liên Xô, TQ bảo trợ), các nước công nhận chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam. Vĩ tuyến 17 là đường ranh quân sự tạm thời, không phải là đường phân định biên giới về chính trị hay lãnh thổ.
Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, do ở phía nam vĩ tuyến 17, do đó thuộc quyền quản lý của VNCH.
Vấn đề chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam được tái xác định theo Hiệp định Paris năm 1973: “Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định Genève 1954 về Việt Nam đã công nhận.”
Tinh thần hai hiệp định, cũng là một chân lý làm nên chất keo gắn bó nhân dân và đất nước Việt Nam: đất nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một…
Điều này thể hiện lên thực tế. Trong khoảng thời gian từ 1954 đến 1973, không có bất kỳ quốc gia nào trên thế giới nhìn nhận sự hiện hữu của hai quốc gia Việt Nam. Khối Tư bản nhìn nhận VNCH là đại diện của nước Việt Nam duy nhất. Khối XHCN công nhận VNDCCH là đại diện nước Việt Nam duy nhất. Nước này nhìn nhận phía này thì không nhìn nhận phía kia, hay ngược lại.
Thưa Thủ tướng, thưa bộ trưởng,
Trên tinh thần tôn trọng “độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam” của các hiệp ước quốc tế này (mà các nước Mỹ, Trung Quốc, Anh, Pháp… đồng bảo trợ chúng), bất kỳ các tuyên bố, các hành vi đơn phương của một bên (VNCH hay VNDCCH), nếu có làm tổn hại, hay đe dọa đến việc toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, chúng đều không có giá trị.
Nhà cầm quyền Trung Quốc viện dẫn công hàm của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết nhằm ủng hộ tuyên bố về lãnh thổ và hải phận của Trung Quốc tháng 9 năm 1958, cho rằng nhà nước VNDCCH đã nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa (và Trường Sa).
Điều này hiển nhiên không đúng.
Công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng viết trong khoản thời gian 1954-1973, có liên quan đến chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, đi ngược lại tinh thần hai Hiệp định 1954 và 1973, do đó không có giá trị pháp lý ràng buộc.
Dầu vậy, những ngày vừa qua, trong các cuộc họp báo, các viên chức của Việt Nam, thuộc Bộ Ngoại Giao vì muốn phản biện lại lý lẽ của Trung Quốc (khi vịn vào công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng), đã có những tuyên bố bất lợi. Các tuyên bố này có thể làm tổn hại đến quyền lợi của dân tộc Việt Nam, đến sự vẹn toàn lãnh thổ của đất nước Việt Nam, đồng thời khép mọi khả năng đòi lại Hoàng Sa (và các đảo Trường Sa) đã lọt vào tay Trung Quốc của thế hệ tương lai.
Những người này, nhân các cuộc họp báo, có cho rằng “Việt Nam Cộng Hòa là một quốc gia độc lập, có chủ quyền…”… hoặc “bạn không thể cho ai thứ mà bạn không có chủ quyền…”.
Lập luận cho rằng “Việt Nam Cộng Hòa là một quốc gia độc lập, có chủ quyền…”, từ miệng một viên chức cao cấp thuộc bộ ngoại giao, có thể vô hiệu hóa yếu tố nền tảng của quốc gia Việt Nam được xác định do hai hiệp định 1954 và 1973: “độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam”.
Lập luận cho rằng “bạn không thể cho ai thứ mà bạn không có chủ quyền…”, từ miệng một viên chức cao cấp thuộc bộ ngoại giao, mặc nhiên nhìn nhận VNDCCH chưa bao giờ có chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa.
Lập luận thứ nhất sẽ khép lại mọi khả năng đòi lại Hoàng Sa của các thế hệ Việt Nam trong tương lai bằng thủ tục pháp lý.
Lập luận thứ hai sẽ đóng lại mọi khả năng kiện tụng của Việt Nam hôm nay (là nhà nước tiếp nối nhà nước VNDCCH).
Vì các lẽ này, tôi trân trọng yêu cầu:
Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng,
Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng bộ Ngoại Giao Phạm Bình Minh,
Nhanh chóng có biện pháp đính chánh, hay sửa chữa lại các phát ngôn thiếu dè dặt và sự chín chắn của các viên chức bộ Ngoại giao trong buổi họp báo vừa qua.
Tôi trân trọng cám ơn.
Pháp quốc, Ngày 26 tháng 5 năm 2014
Trương Nhân Tuấn. (truongnhantuan@yahoo.fr)
Nhà nghiên cứu nghiệp dư về lịch sử và tranh chấp biên giới Việt-Trung
Hồ Gươm gửi hôm Thứ Ba, 27/05/2014

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s