EVN HÀO PHÓNG mua điện Trung Quốc: CHUYỆN BÌNH THƯỜNG

 

Published on June 30, 2014   ·   No Comments

EVN-DOCQUYEN

 

Sự hiện diện rất lớn của Trung Quốc trong ngành điện Việt Nam sẽ không ngoại trừ nguy cơ bị phụ thuộc hay thao túng.

Lộ trình thị trường hóa điện cũng được Chính phủ thông qua, tất nhiên phàm những doanh nghiệp đã được độc quyền thì thường không dễ dàng từ bỏ những lợi ích do độc quyền mang lại.

Vấn đề làm thế nào để Cục điều tiết Điện lực, Bộ Công thương chỉ đạo gắt gao hơn.

Giáo sư, Viện sĩ, TSKH Trần Đình Long, Phó Chủ tịch Hội Điện lực Việt Nam nêu quan điểm trước trước thực tế Việt Nam đang mua điện của Trung Quốc giá cao.

 

GS TSKH Trần Đình Long

 

Đảm bảo đôi bên cùng có lợi

PV: – Một thực tế vẫn diễn ra là Việt Nam đang mua điện của Trung Quốc với giá cao cả ở thời điểm nguồn cung cấp trong nước dồi dào lý do vì hợp đồng mua điện với Trung Quốc được ký từ năm 2005 và chính thức mua điện từ 2009. Thỏa thuận hợp đồng hiện nay buộc phải cam kết về sản lượng và thời gian mua nếu không mua sẽ bị phạt. Xét trên góc độ kinh tế, ông bình luận thế nào về hợp đồng với những ràng buộc chỉ có lợi cho bên bán như trên?

GS TSKH Trần Đình Long: – Việt Nam phải mua điện của Trung Quốc vì mấy năm trước đây tốc độ phát triển kinh tế kèm theo nhu cầu điện năng cao trong khi nguồn điện sản xuất trong nước chưa đáp ứng đủ.

Các điều kiện cụ thể của hợp đồng là sự ràng buộc của cả 2 bên nên theo tôi những điều khoản trong các hợp đồng được ký là đôi bên cùng có lợi, không hẳn Việt Nam phải chịu một sức ép hay thiệt thòi nào đó.

Trong mua bán, có những hợp đồng BOT chẳng hạn, hợp đồng mua điện của các đơn vị khác điều kiện là mua theo biểu đồ nhất định vào lúc nào, mua bao nhiêu nên cũng có thể có lúc so với nguồn điện trong nước có thể nguồn điện trong nước giá trung bình rẻ hơn tuy nhiên có những lúc Việt Nam thiếu phải sử dụng nguồn giá cao nên lấy hơn bù kém, việc mua điện cũng là đảm bảo đôi bên cùng có lợi

PV: – Xin ông cho biết, Trung Quốc bán điện cho các thị trường ngoài Việt Nam có áp đúng mức giá bán cho Việt Nam và nhữ ng nội dung ràng buộc tương tự hay áp dụng một cách thức bán khác. Được biết, VN cũng tiến hành việc liên kết mua bán điện với Lào, Campuchia, chính sách mua bán của Việt Nam với Lào, Campuchia có giống với Trung Quốc hay không, thưa ông?

GS TSKH Trần Đình Long: – Mỗi nước với đối tác việc thương thảo hợp đồng mua bán tùy điều kiện khác nhau, không thể lấy điều khoản của hợp đồng này để dùng vào một hợp đồng với đối tác khác. Riêng về chuyện Trung Quốc bán điện cho nước khác theo điều kiện hay giá bao nhiêu tôi không rõ nhưng điều khoản giữa Việt Nam buôn bán điện với các nước Campuchia, Lào, tùy từng địa điểm có sự khác nhau.

Ví dụ Việt Nam buôn bán điện với Lào cho các xã huyện của Lào ven vùng biên Việt Nam do các xã, huyện đó xa lưới điện của họ, họ cũng đề nghị Việt Nam bán điện cho họ, mức giá được bán tùy từng nơi khác nhau sẽ có sự khác nhau. Hoặc giá của Việt Nam bán cho Campuchia có thể cao hơn so với bán cho Lào vì cũng tùy điều kiện của nước bạn có thể chịu đựng được mức giá bao nhiêu.

Campuchia trước đây nguồn điện thiếu, chủ yếu phải chạy bằng những nguồn điện được sản xuất với giá cao như diezen nên nếu mua điện của Việt Nam mặc dù giá cao hơn so với việc Việt Nam bán cho Lào, thậm chí cao hơn giá mua từ Trung Quốc nhưng đối với họ họ vẫn có lợi. Đây là hợp đồng kinh tế tùy thuộc vào điều kiện của các bên.

PV: – Nhìn ở một khía cạnh khác, nhiều doanh nghiệp sản xuất điện sẵn sàng chịu lỗ để hòa lưới điện trong khi EVN vẫn đang mua điện Trung Quốc với giá cao do ràng buộc bởi hợp đồng mua bán điện đã ký dài hạn. Điều này có chứng tỏ khả năng dự báo nhu cầu điện năng và năng lực sản xuất điện trong nước đang có vấn đề hay không? Dự báo sai gây thiệt hại cho nền kinh tế và cho người dân, EVN phải chịu trách nhiệm như thế nào?

GS TS Trần Đình Long: – Dự báo là khoa học rất khó vì nhu cầu điện năng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố trong đó có những yếu tố mang tính chất ngẫu nhiên, khó đoán định trước. Ví dụ một vài năm gần đây tình hình cấp điện của Việt Nam đã “dễ thở” hơn do nhịp độ phát triển kinh tế của Việt Nam chững lại, nếu GDP tăng 7-8% như những năm trước đó thì nhu cầu sử dụng điện thường tăng gấp đôi tức là nhu cầu điện năng sẽ tăng từ khoảng 15-16%.

Kinh tế chững lại đã khiến nhu cầu điện không tăng nhanh như trước như vậy ngành điện có cơ hội đáp ứng được cơ bản nhu cầu. Tuy nhiên, từng lúc từng nơi vẫn xảy ra tình trạng căng thẳng về điện. Cụ thể, nhu cầu điện năng tại miền Nam và EVN rất vất vả để giải quyết vấn đề này.

Thứ 2, ở Việt Nam tỷ lệ điện năng từ thủy điện còn tương đối cao. Trước đây rơi vào khoảng 50-60% nhưng gần đây Việt Nam phát triển nhiều nguồn nhiệt điện, thủy điện vẫn là 35-40%. Thủy điện phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, nguồn nước của các sông. Có những năm mưa về chậm sản lượng điện sẽ thấp, giá điện trong những trường hợp này cao vì phải chạy dầu, chạy máy phát.

Nếu theo dõi việc quy hoạch phát triển điện sẽ thấy dự báo của mình là không khớp sau một vài năm thực hiện và phải điều chỉnh. Ví dụ những năm trước đây điều chỉnh tăng thêm. Tuy nhiên cũng có lúc kết quả dự báo tương đối khớp khi giả thiết đặt ra khớp với tình hình thực tế.

Có những năm nguồn lực trong nước đáp ứng được nhưng do trước đây Việt Nam không dự báo hết được năm nào thủy điện ít, nhiều nước. Tôi nghĩ, tỷ lệ phần trăm điện Việt Nam mua không có quyết định áp đảo đối với việc cân bằng năng lượng.

Số tiền thiệt hại không ít nhưng đây là bài toán kinh tế, không chỉ đối với Trung Quốc mà ngay cả BOT, Việt Nam ký với các nhà sản xuất tư nhân những hợp đồng trong vài chục năm cho nên bây giờ nói 20 năm sau diễn biến giá nguyên liệu như thế nào, tăng bao nhiêu sẽ rất khó đoán nên trong hợp đồng BOT ký một cách chặt chẽ thì bao giờ cũng có khoản điều chỉnh những cam kết trước đây.

Với những nội dung trong hợp đồng mua bán điện của Trung Quốc chắc cũng có nhưng không rộng lắm vì thường hợp đồng thương mại bao giờ cũng có những điều khoản cho phép 2 bên thương thảo lại nếu những điều kiện trước đây không hoàn toàn phù hợp với điều kiện thực tế.

Đề phòng nguy cơ phụ thuộc, thao túng

PV: – Những ràng buộc có nghi vấn trong hợp đồng mua bán điện với Trung Quốc và sự cố Hiệp Hòa liên quan tới việc sử dụng thiết bị Trung Quốc mới đây khiến dư luận đặt câu hỏi về sự hiện diện quá lớn của Trung Quốc trong ngành điện Việt Nam. Phải lý giải điều này như thế nào, khi mà thiết bị Trung Quốc vốn bị coi là chất lượng kém, bãi rác công nghệ của thế giới? Liệu có thể đặt nghi vấn về lợi ích nhóm trong việc này hay không, thưa ông?

GS TSKH Trần Đình Long: – Đúng là so với thiết bị của các nước ví dụ G7 thì chất lượng của các thiết bị Trung Quốc kém hơn. Người Trung Quốc cũng có những thiết bị tốt tuy nhiên trong nguyên tắc đấu thầu những tài liệu kỹ thuật đạt yêu cầu mình đề ra mình cũng không có lý do gì để gạt bản thầu của các nhà thầu đó.

Còn câu chuyện chất lượng thực tế có đúng như tài liệu kỹ thuật họ đưa ra không lại là vấn đề khác. Ví dụ tài liệu kỹ thuật họ trình ra cũng ISO nọ, tiêu chuẩn kia … đảm bảo tuy nhiên thực tế có thể không phải như vậy. Án tại hồ sơ, đã có sự xác nhận của cơ quan quốc tế nên Việt Nam không còn cách nào từ chối.

Còn nguyên nhân mặc dù biết thiết bị Trung Quốc chất lượng không cao nhưng nhiều công trình Trung Quốc vẫn thắng thầu như các nhà máy điện, các công trình đường dây, trạm… đều là thiết bị Trung Quốc. Nếu Việt Nam không nghĩ ra cách đề phòng các khả năng xấu có thể xảy ra thì trong tương lai vẫn còn tình trạng xâm lấn của thị trường Trung Quốc.

Vì phương án tài chính của Trung Quốc tốt hơn. Ví dụ họ có thể cho vay ưu đãi, giá rẻ hơn. Có hãng tôi đã làm việc khi mua lô dây cáp điện, họ chào giá mà các nhà thầu Châu Âu chào thua, họ lý giải với giá Trung Quốc đưa ra ở Châu Âu không đủ để mua nguyên vật liệu chưa nói đến chế tạo.

Trung Quốc cũng có chính sách nào đó trong mậu địch để chiếm lĩnh thị trường nhưng giá thành thực tế của họ rất thấp, và khi đã chào thầu, chất lượng trong văn bản được kiểm định tốt, giá rẻ thì Việt Nam không có lý do gì để loại họ ra.

Theo tôi, những lần thiết bị Trung Quốc hỏng ta ghi nhận lại, và đưa ra điều kiện những nhà thầu đã từng hỏng thiết bị sẽ có sự phân biệt đối xử trong chuyện xét thầu còn những nhà thầu chưa dính “phốt” sẽ được đối xử công bằng. Như vậy, chúng ta sẽ ngồi điểm danh lại những biến áp tại Hiệp Hòa cháy là do doanh nghiệp nào thầu sẽ được đưa vào danh sách đen chẳng hạn.

Về vấn đề có hay không lợi ích nhóm phải có cơ quan chức năng tiến hành xác minh nhưng tôi trong điều kiện tham nhũng chưa được xử lý 1 cách nghiêm minh thì đâu đó sẽ có câu chuyện này tuy nhiên những cơ quan chức năng cần phải để mắt đến bởi vì có những nhà thầu vẫn có cách làm ăn cạnh tranh không lành mạnh, lobby, đút lót như vậy cơ quan nhà nước, đặc biệt là bộ máy chống tham nhũng phải để mắt đến. Không ngoại trừ có tình trạng lợi ích nhóm.

PV: – Sự hiện diện rất lớn của Trung Quốc trong ngành điện Việt Nam có đặt ra nguy cơ phụ thuộc hay bị thao túng hay không, thưa ông? Nếu điều này xảy ra thì mức độ nguy hại sẽ như thế nào? Với tình trạng độc quyền như EVN hiện nay, trách nhiệm trong việc này liệu có thể quy cho ai khác không, thưa ông? Cụ thể như thế nào?

GS TSKH Trần Đình Long: – Điều này nên đề phòng bởi vì thông thường không nên lệ thuộc vào 1 nước quá nhiều đặc biệt đối với những công trình điện, một trong những vấn đề cần quan tâm là bảo hành sửa chữa các thiết bị sản phẩm.

Có những nhà thầu khi chào thầu chào giá rất rẻ nhưng nếu họ độc quyền một sản phẩm nào đó mà những doanh nghiệp khác không sản xuất được hoặc những phụ tùng thay thế không thể thay thế thì đôi khi họ sẽ bắt chẹt, bán bán rẻ nhưng sau cần sửa chữa họ lại nâng giá cao. Cũng có cách là ký cả hợp đồng bảo hành, tức là xét trọn gói.

Gần đây, Luật Điện lực được Quốc hội thông qua, lộ trình thị trường hóa điện cũng được Chính phủ thông qua tất nhiên, phàm những doanh nghiệp đã được độc quyền thì thường không dễ dàng từ bỏ những lợi ích do độc quyền mang lại. Vấn đề làm thế nào để Cục điều tiết Điện lực, Bộ Công thương chỉ đạo gắt gao hơn, gần đây đã có sự cải thiện trong khi trước đây, những nhà máy điện trực thuộc EVN nhưng giờ nhà máy của Petro Việt Nam, Vinacomin cũng có hàng loạt những nhà máy tư nhân… thì độc quyền sẽ được giảm dần.

PV: – Có ý kiến chỉ thẳng, mấu chốt của vấn đề phải là nhanh chóng xóa bỏ tình trạng độc quyền của EVN, chấm dứt tình trạng 1 tay nắm cả mua bán, phân phối, điều độ, ông có đồng tình hay không và vì sao? Xin ông phân tích cụ thể hơn về vấn đề này.

GS TSKH Trần Đình Long: – Hiện việc mua bán điện nhà nước đang giao cho một đơn vị mua duy nhất là Công ty mua bán điện của EVN. Trong tương lai thị trường bán buôn cạnh tranh sẽ có nhiều đơn vị mua bán buôn được thành lập và giao dịch, bán cho các công ty phân phối hoặc bán lẻ thậm chí họ cũng có thể giao dịch với nước ngoài nếu nhà nước cho phép.

Khi thị trường điện cạnh tranh, những công ty thương mại tách ra khỏi công ty sản xuất và phân phối, trong tương lai giá điện sẽ minh bạch hơn, trả đồng tiền không còn phải nghi ngờ mà người ta biết rõ giá điện đã qua một quá trình cọ xát.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

THEO BÁO ĐẤT VIỆT

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s