Vấn đề dân tộc bản địa tại Việt Nam hôm nay

 

Published on July 15, 2014   ·   No Comments

TTXVA.NET BIÊN TẬP

Bài viết Vấn đề dân tộc bản địa tại Việt Nam hôm nay do ông Thành Công Thỏa (Musa Porome) – Chủ tịch Văn phòng Quốc tế Champa (International Office of Champa, IOC) – đăng trên website Champaka ngày 10.7.2014. Bài viết này trình bày quan điểm của tác giả về quyền lợi cơ bản của các sắc tộc thiểu số tại Việt Nam – vấn đề mà trước nay người Việt Nam nói chung luôn né tránh. Mọi quan điểm phản hồi mong quý độc giả comment lịch thiệp dưới bài viết, hoặc gửi về hộp thư của TTXVA dưới dạng bài viết riêng !

Tà áo Chăm

Đối với người Việt chính gốc, từ ngữ Bản Địa không khó định nghĩa, thế nhưng từ ngữ này lại gặp phải bao khó khăn với các giới chức lãnh đạo trong chính quyền Việt Nam để rồi cho đến ngày nay chính quyền Việt Nam vẫn chưa dứt khoát công nhận ba dân tộc Tây Nguyên, Chăm và Khmer Krom là dân tộc bản địa thay vì cứ mãi quy ba nhóm dân tộc này thuộc nhóm dân thiểu số.

Hai từ ngữ thiểu số và bản địa rất dể hiểu. Nếu dựa trên yếu tố dân số của một quốc gia thì chúng ta có thể thừa nhận ba dân tộc Tây Nguyên, Chăm và Khmer Krom thuộc nhóm dân thiểu số hay còn gọi là dân tộc ít người. Và nếu dựa trên yếu tố thổ cư, thổ dân để định nghĩa, thì dân tộc Tây Nguyên, Chăm và Khmer Krom là ba dân tộc bản địa có mặt tại miền Trung cũng như đồng bằng sông Cửu Long từ lâu đời.

Theo quan điểm của dân tộc bản địa đang sinh sống tại Việt Nam cho rằng nếu chính quyền Hà Nội quyền của dân bản địa tại Việt Nam hôm nay, là vì hai lý do sau đây :

Đám cưới Chăm

Kinh tế

Phải thừa nhận kinh tế Việt Nam ngày nay rất phồn thịnh, nhưng tai sao chính quyền lại lo sợ gánh nặng cho ngân sách phát triển những nhóm công dân bản địa của mình ? Đây là một nghi vấn khó hiểu không chỉ cho riêng nhóm dân bản địa mà cho cả các quốc gia khác có mặt trên diễn đàn quốc thế tại Genève hàng năm. Hay chăng, chính quyền Việt Nam muốn tiếp tục coi thường nhóm dân bản địa này và đàn áp họ theo ý muốn ? Trong khi đó, các nhóm dân bản địa đang sinh sống tại Việt Nam chỉ đòi hỏi có hai yêu cầu đơn giản là :

– Trả lại đất đai mà họ đã đổ bao mồ hôi công sức khai hoang lập nên mà chính quyền đã trưng thu sau năm 1975 để họ tiếp tục có điều kiện canh tân mang nguồn lợi nhuận về nuôi sống gia đình của họ, vì nương rẫy núi rừng là đời sống thiêng liêng của dân tộc này.

– Trả lại những đền tháp của Champa cho người Champa quản lý, vì đền tháp là một phần trong tín ngưởng của họ và là di sản của tổ tiên họ dày công xây đắp chứ không phải tài sản của nhà nước Việt Nam.

Lễ hội Katê - Ninh Thuận

Chính trị

Một lo sợ khác, có lẻ rằng chính quyền Việt Nam e ngại một khi thừa nhận quyền của các dân tộc bản địa có nghĩa là Việt Nam tự thừa nhận quyền phục hưng đất nước của ba dân tộc này. Nếu quả thực như vậy thì chúng tôi cho đây là một thành ngữ mang tính chất chính trị lỗi thời và không trung thực. Vì rằng, thành lập một quốc gia đòi hỏi phải có một tổ chức vũ trang hùng hậu cùng một khối nhân tài được đào tạo rõ ràng và có sẵn để quản lý quốc gia trong khi những tài nhân trong ba dân tộc bản địa này chưa đếm được trên đầu ngón tay. Tưởng cũng cần nên biết từ sau năm 1975 chưa có một tổ chức hay phong trào đấu tranh của các dân tộc bản địa nào tại Việt Nam đứng ra đấu tranh đòi độc lập bao giờ, ngoại trừ vài tổ chức hội đoàn đấu tranh bảo tồn văn hóa, bảo vệ và xây dựng đời sống cộng đồng của họ vượt khó khăn để rồi họ có thể vươn thân theo kịp đà tiến của khoa học kỷ thuật tân tiến và hiện đại trong thế kỷ 21 này.

Đây là nguyên nhân đưa ba dân tộc Tây Nguyên, Chăm và Khmer Krom đến với nhau để thành lập một hội đoàn đấu tranh nhằm yêu cầu các quốc gia có thế lực trên thế giới dùng áp lực đòi hỏi chính quyền Việt Nam phải thực sự công nhận nhóm công dân bản địa của họ. Cuộc đấu tranh này sẽ không ngừng cho đến khi nào chính quyền Việt Nam thỏa mản yêu sách của họ.

Năm 2012, ba dân tộc Tây Nguyên, Chăm và Khmer Krom đã hợp tác thành lập một tổ chức đấu tranh mang tên “Council of Indigenous people in Today’s Vietnam” – tạm dịch “Hội đồng Các dân tộc Bản địa tại Việt Nam”. Dù mới ra đời nhưng hội đồng này đã hoạt động một cách tích cực và đạt nhiều thành quả đáng kể trên chiến trường quốc tế. Có lẻ vì những thành tích đó mà hội đồng đã tạo bao nghi vấn trong cộng đồng người Việt trong nước lẫn ở hải ngoại, một nghi vấn mà mỗi người và mỗi giới trong cộng đồng người Việt đều hiểu theo quan điểm riêng của họ, nhưng đa phần đều ủng hộ cho cuộc đấu tranh đòi lại quyền lợi căn bản của người bản địa theo đúng hiến chương của Liên Hiệp Quốc đề ra năm 2007 trong đó có chữ ký của chính phủ Việt Nam. Tiếc rằng, chính quyền Việt nam lại rất nhạy cảm với từ ngữ bản địa nên luôn đánh giá cho tổ chức này là một tổ chức phản động, đấu tranh đòi độc lập. Chính vì thế, Việt Nam quyết tâm phản đối và tuyên bố cho rằng nước Việt Nam không có dân tộc bản địa nhưng có nhiều dân tộc thiểu số khác nhau. Phải chăng chính quyền Việt Nam đã khôn khéo từ chối nhằm trốn tránh nghĩa vụ và trách nhiệm đối với các công dân bản địa của mình ? Vì rằng một khi đã công nhận dân tộc bản địa thì chính quyền Việt Nam cần thực thi những điều lệ đề ra trong hiến chương của Liên Hiệp Quốc về quyền của các dân tộc bản địa.

Ngày nay đã có rất nhiều quốc gia trên thế giới lần lượt công nhận những công dân bản địa của họ và đưa ra nhiều chính sách nâng đỡ để nâng cấp đời sống mà các công dân bản địa của họ đang gặp bao khó khăn. Chính quyền đã trao lại quyền tự do tín ngưỡng để họ tự bảo tồn bản sắc văn hóa, họ được miển phí bảo hiểm y tế và giáo dục… Có một số quốc gia lân cận như Nhật Bản, Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia và Úc, chưa kể đến các quốc gia Âu châu khác đã trao trọn quyền tự trị, tự quyết và tự quản cho các công dân bản địa của họ. Đây là những đặc ân và là gương tốt cho các quốc gia có người dân bản địa sinh sống. Việt Nam cần noi theo gương tốt này thay vì cứ mãi từ chối trước diễn đàn quốc tế cho rằng Việt Nam không có dân tộc bản địa nhưng có 54 nhóm dân tộc thiểu số hay còn gọi là dân tộc ít người. Đây là hành động thiếu nghiêm túc ! Vì rằng, giá trị của sự thừa nhận các dân tộc bản địa trên đất nước của mình là hình thức tạ ơn theo đúng thành ngữ “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Thực thi theo đúng hiến chương của Liên Hiệp Quốc về quyền của các dân tộc bản địa là tạo sự đoàn kết dân tộc, là cách thức giúp đỡ nâng cao đời sống công dân của mình chứ không phải là gánh nặng cho chính quyền. Vì rằng, một khi quốc gia có trình độ dân trí cao là dấu hiệu cho thấy quốc gia đó tiến bộ, phát triển và phồn thịnh, điển hình như các quốc gia lận cận là Đài Loan, Hàn Quốc và Nhật Bản, chưa kể đến các quốc gia Âu châu khác.

Thiếu nữ Chăm

Chúng tôi hy vọng một ngày gần đây toàn thể quân, dân, cán, chính trong chính quyền Việt Nam sẽ sớm am tường vấn để rồi thừa nhận các dân tộc bản địa của mình đang sinh sống chui rủi trong những ngôi làng hẻo lánh, trong những khu rừng hoang vu sớm trở về với thế kỷ thứ 21 – một thế kỷ tân tiến và hiện đại.

Mời quý độc giả tham khảo và đóng góp cho chuyên đề Champa :

■ Một cuộc hòa giải khác : 500 năm Việt – Chăm

■ Thiên tình sử Chế Mân – Huyền Trân : Đặt lại vấn đề

■ Phong trào Hồi giáo chống triều đình Huế

■ Ði tìm dấu vết lá cờ tự trị của dân tộc Chăm

■ Thất nghiệp – vấn nạn của sinh viên Chăm sau khi ra trường

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s