QLVNCH: Giang Đoàn Xung Phong


Giang Đoàn Xung Phong

Quá trình  hình thành Giang Đoàn Xung Phong

Nguyễn Văn Ơn

        Mùa Thu năm 1945, sau khi tái chiếm Saigon và Tây-Ninh, Pháp dự trù lấy lại các tỉnh lỵ nằm trong vùng đồng bằng miền Tây, trước hết là thành phố Mỹ-Tho sát ven thủ đô.
Lúc đó, trở ngại lớn của Pháp trong kế-hoạch bình định vùng này là quốc-lộ độc nhất số 4 đã bị cắt đứt làm nhiều đoạn, do VMCS phá hoại hệ-thống cầu đường trước khi rút ra bưng, khiến cho trục giao thông giữa Saigon và Mỹ-Tho chỉ còn đường thủy mà thôi.

Đại-tướng Philippe Leclerc, Tư-lệnh Lục-quân Pháp tại Đông-Dương thấy rằng muốn chiếm lại các tỉnh vùng châu-thổ sông Cửu-Long, đầy sông ngòi chằng-chịt như mạng nhện dài đến 5.550 Km # 3.000 Hải-lý, thì chỉ có ‘Hải-quân Nước-Ngọt” (Brown Water Navy) mới đủ khả-năng làm được việc này. Mặc dầu đến Việt-Nam chỉ mới có mấy tháng, nhưng Leclerc với viễn-kiến về địa-hình đặc biệt của miền Nam, đã đi đến quyết-định là phải sử-dụng Hải-quân trong sông mới chiến thắng được. Điều này, theo Đại-tá Thủy-quân Lục-chiến (TQLC) Victor Croizat, chứng tỏ tài ba của Leclerc vượt trội hơn tướng kế-nhiệm của ông ta là Jean Étienne Valuy rất nhiều.

1- LÝ-THUYẾT VỀ HẢI-ĐOÀN XUNG-PHONG (HĐXP) PHÁP.
Ngày 02 tháng 10 năm 1945, với tư cách tướng-lãnh thâm-niên hiện-diện (according to seniority), Leclerc ủy-nhiệm cho Phó Đề-đốc (Commondore=Naval Brigadier General) Francois Jaubert thiết-kế hành-quân bình định các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Cửu-Long mà lực-lượng Hải-quân Pháp trong sông sẽ chỉ-huy tất cả các cuộc hàng-quân thủy-bộ (amphibious operation).
Để thành công trong công-tác được giao phó, Phó Đề-đốc Jaubert đề ra quan-niệm hành-quân thật mới mẻ cho các cuộc hành-quân thủy-bộ là ‘ Lực-lượng trong sông phải phối hợp ăn khớp với nhau để khai thông và làm chủ mọi thủy-trình từ cửa sông đến thượng nguồn’(Jaubert’s concept of combined armes riverine units capable of operating even in small creeks and estuaries)’ (01).
Ngoài ra, Jaubert cũng dựa vào lý-thuyết quân-sự của danh-tướng Phổ Carl Von Clausewitz đầu thế-kỷ 19, trong quyển ON WAR là ‘Phải có chiến-cụ rồi mới xác quyết được chiến-thuật ’ (02).
Vì vậy trên phương diện tân tạo chiến-cụ, Jaubert cố gắng ghép các sà-lan, các xuồng (chaland, barge) lại với nhau thành bè rồi dung Tiểu-vận-đĩnh (LCVP) hoặc Trung-vận-đĩnh (LCM) đẩy bè chở chiến-xa và bộ-binh của Trung-tá Ponchardier đến tận nơi đổ quân. Sau khi tạo được chiến-cụ tạm thời rồi, Jaubert theo phương-pháp quân-sự cổ-điển mà đặt ra bình-phong chiến-thuật (Tactical screen) cho đội-hình di chuyển trong sông của đơn vị Thủy-bộ này. Cũng theo Jaubert, việc bảo vệ an toàn cho cánh quân đổ bộ được đặt lên hàng đầu, cho nên các tổ của bình-phong có nhiệm vụ liên-hoàn là phải yểm trợ lẫn nhau cho đến khi bộ-binh rời chiến đĩnh để xung-phong chiếm mục-tiêu trên bờ. Điển-hình, trong cuộc hành-quân Moussac chiếm lại Mỹ-Tho ngày 25 tháng 10 năm 1945 và Vĩnh-Long ngày 29 tháng 10 năm 1945, lần đầu Jaubert điều động đơn vị phối hợp này đúng theo từng giai đoạn thiết-kế và phát-huy được năng lực thủy-bộ (Promote amphibian ability). Sau cùng, ông ta đặt tên cho đơn vị tân lập này là DINASSAUT= Divisions Navales D’Assaut mà Chính-phủ Quốc-gia Việt-Nam gọi là Hải-đoàn Xung-Phong (HĐXP) Pháp, cũng là tiền thân của Giang-đoàn Xung-Phong (GĐXP hay RAG= Riverine Assault Group), một đơn vị tác-chiến quan trọng trong sông của Hải-quân VNCH được bộ Tổng-tham-mưu Quân-lực VNCH ban hành bảng cấp-số vào năm 1965.

2- CHỨC NĂNG VÀ TRANG BỊ
    Mặc dầu thành công trong hạn hẹp, nhưng với mớ kinh-nghiệm quan trọng vừa thu-hoạch, cuối năm 1945, Phó Đề-đốc Jaubert mạnh dạn phúc-trình lên Toàn-quyền Đông-Dương kết quả ứng-dụng lý-thuyết vào thực tiễn và các đề nghị khả thi kèm theo họa-đồ kiến-trúc (Blue Print) cho các loại chiến-đĩnh mới để HĐXP – một đơn vị chiến-thuật trong sông của Hải-quân Pháp – có cơ hội được chấp thuận ra đời.
Nội-dung phúc-trình Jaubert (03) bao gồm 3 phần cơ-bản cho việc thành lập HĐXP có cấp số 95 nhân-viên kể cả nhân-lực của hậu-cứ.
a)- Nhiệm-vụ tổng-quát của HĐXP trên phương diện hành-quân là tuần tiểu bảo vệ thủy-trình, giải tỏa sông rạch có thủy-mìn; hộ tống, chuyển quân, tiếp tế, tản thương và yểm trợ hải-pháo cho các đồn bót hẻo lánh ven sông; tự tổ chức hành-quân thủy-bộ biệt lập trong tư thế mũi nhọn tấn công hay phối hợp hành-quân với các đơn vị trách nhiệm lãnh-thổ.
b)- Cấp số chiến-cụ (04) cho mỗi HĐXP Pháp gồm:
* 1 Quân-vận-đĩnh LCT (Landing craft tank giống như LCU của Mỹ), không có khả-năng yểm trợ hải-pháo.
* 1 Giang-đĩnh chỉ-huy (Commandement Monitor LCM), thiết trí pháo-tháp (tank turret lấy từ các chiến-xa của Ý-Đại-Lợi sau Đệ-nhị Thế-chiến), gắn đại-bác Oerlikon 20 ly, đại-liên 50, bích-kích-pháo 81 ly và hệ-thống truyền-tin siêu-tần-số để Hải-đoàn-trưởng dùng làm BCH/Hành-quân. (hình 1)
* 1 Chiến-đấu-đĩnh (Combat Monitor LCM), thiết trí pháo-tháp gắn đại-bác Bofors 40 ly trước mũi, đại-bác 20 ly, đại-liên 50, đại-liên 30 xung quanh và bích-kích-pháo 81 ly. Đây là loại giang-đĩnh trang bị vũ-khí rất hùng-hậu thể hiện tính xung-kích của HĐXP để đàn áp tinh-thần chiến-đấu và hỏa-lực địch mỗi khi đụng trận . Theo các vị ‘kỳ lão áo trắng’ thâm-niên chiến-trận trên sông nước thì CSBV/Việt-Cộng sợ và né trao đổi hỏa-lực với Chiến-đấu-đĩnh mà họ gọi là ‘cái đầu lân (unicorn head) khắc-tinh ’. Bởi vì chỉ bắn nó vài ba viên, nó đáp ứng lại ngon lành cả trăm viên. Tránh voi chẳng xấu mặt nào, đỡ phải hy-sinh bộ-đội. Thông thường mỗi khi nhập vùng hành-quân, Hải-đoàn-phó hiện-diện trên Chiến-đấu-đĩnh. (hình 2)

                 * 6 Trung-vân-đĩnh LCM (Landing craft medium) có gắn bửng chống đạn (blindage) cho tất cả vũ-khí cộng-đồng như đại-bác 20 ly, đại-liên 50 và 30. (Hình 3)
* 2 Tiểu-vận-đĩnh LCVP (Landing craft vehicle personnel), trang bị đại-bác 20 ly trước mũi, 2 đại-liên 30 trên mui và 2 đại-liên 30 hai bên hông, tất cả đều có gắn bửng chống đạn, mang theo dụng-cụ rà mìn sau lái. (Hình 4)
* 2 Xung-kích-đĩnh STCAN/FOM (Sevices techniques des constructions et armes navales France outré mer = built overseas) (05), trang bị đại-liên 50 trước nũi, 2 đại-liên 30 trên mui và 2 đại-liên 30 hai bên hông đều có bửng chống đạn. Lần đầu tiên đóng tại thủy-xưởng Tân-Gia-Ba, Xung-kích-đĩnh FOM có kiến-trúc rất đặc biệt với đáy tàu hình chữ V lài, dài 11 thước, 1 thủy-động-cơ; toàn bộ nặng đến 13 tấn khiến sàn tàu lúc nào cũng là đà sát mặt nước. Có lẽ nhờ đặc-thù này mà FOM ít khi bị chìm nếu chạm phải thủy-mìn. Do đó FOM còn được trang bị thêm dụng-cụ rà mìn phía sau lái để giải tỏa thủy-lộ, trong chức năng xung-kích mở đường. (hình 5 và hình 6)

Tóm lại, kể từ đầu năm 1951, HĐXP được Thống-tướng De Lattre chấp thuận bành-trướng, nâng cấp lên thành Binh-đoàn cơ-động trong sông (Group Mobile) với 125 nhân-viên hải-quân thuần-túy, có đủ khả-năng chuyển vận và đổ bộ 1 tiểu-đoàn Bộ-binh. (06)

3- TIẾN TRÌNH THÀNH LẬP.
    Phúc-trình Jaubert đến tay thượng cấp Pháp không đúng thời điểm may mắn, bởi lẽ tình trạng kinh-tế Paris đang hồi suy-sụp nặng. Trong khi kho dự trữ chiến-cụ hải-ngoại lại trống trơn, mà phúc-trình đề nghị là phải có các loại chiến-đĩnh mới để giải quyết cấp bách nhu-cầu cho chiến-trường sông. Việc đóng mới Xung-kích-đĩnh FOM và mua Trung-vận-đĩnh LCM của Mỹ để biến cải thành Giang-đĩnh Chỉ-huy và Chiến-đấu-đĩnh đòi hỏi ngân-sách dành cho Quân-đội Viễn-chinh quá lớn, khiến nền kinh-tế èo-uột hiện tại của Pháp không kham nổi. Còn về nhân-lực, hơn phân nửa lực-lượng tác-chiến của Pháp đang bị chôn chân trên chiến-trường sôi động Bắc-Việt thì Pháp đâu còn đủ binh-sĩ để thuyên chuyển đến các HĐXP tân lập.
Trong một cố gắng tối đa, Toàn-quyền Đông-Dương, Đô-đốc D’Argenlieu phải tận dụng tài-nguyên hải-ngoại còn lại để thành lập HĐXP1 và Đại-đội Commandos tùng-đĩnh Bergerol tại Nhà-Bè vào tháng 8 năm 1947, và giao cho HQ/Thiếu-tá Léost làm Hải-đoàn-trưởng. Trong những ngày đầu, HĐXP1 hoạt-động từ Nhà-Bè đến Ngã-Bảy trên sông Lòng-Tào thuộc Đặc-khu Rừng-Sát. Vào tháng 6 năm 1948, Trung-tướng Nguyễn-Bình, Trưởng Khu- bộ 7 sai phạm lớn khi ra lệnh cho bộ-đội VMCS tấn công vào bản-doanh Bình-Xuyên tại Đặc-khu Rừng-Sát khiến lãnh-tụ Lê-Văn-Viễn (Bảy Viễn) ngả theo Pháp. Kế đó, Pháp giao cho Bình-Xuyên giữ an ninh thủy-lộ Saigon Vũng-Tàu và HĐXP1 chuyển vùng hoạt-động sang khu-vực Tiền-Giang. Mặt khác, để giảm bớt gánh nặng hành-quân trong sông, Toàn-quyền Đông-Dương đành ép lòng đi đến thỏa-hiệp với hai giáo-phái có vũ-trang đương thời là Cao-Đài (4.500 quân) và Hòa-Hảo (3.000 quân) để cho họ chịu trách nhiệm an ninh lãnh-thổ vùng mà họ đang kiểm soát.
Trong lúc HĐXP trong Nam ra đời khó-khăn như vậy, thì ở ngoài Bắc, vì nhu-cầu tu sửa cầu đường mà các đội Tuần-giang thuộc Lục-quân lại được thành lập thật sớm vào đầu năm 1947.
Mãi cho đến tháng 2 năm 1951, De Lattre nắm cả quyền hành-chánh lẫn quân-sự tại Đông-Dương, nên mới quyết định thành lập HĐXP2 tại Nam-Định và giao cho HQ/Đại-úy Garnier rất thâm-niên hải-nghiệp làm Hải-đoàn-trưởng đầu-tiên. Hơn nữa, trước đó nhờ Mỹ viện-trợ một cơ-xưởng nổi (Floating drydock facilities) và 20 chiếc Trung-vận-đĩnh LCM6, giao lần đầu tại quân-cảng Hải-Phòng vào cuối năm 1950 mà Pháp mới có đủ tài-nguyên để biến-cải các Trung-vận-đĩnh này thành chiến-cụ mới, thích nghi cho các HĐXP tân lập. (hình 7)

Căn cứ vào quá trình hoạt-động hết sức tốt đẹp của HĐXP2, vào đầu tháng 11/1951, De Lattre quyết định bành trướng thêm đơn vị Hải-quân Nam-Định thành Liên-đoàn Hải-quân Xung-Phong 22 với HĐXP2 và HĐXP4 (xin đừng nhầm với Liên-đoàn 3 Tuần-giang thuộc Lục-quân, cũng đồn-trú tại Nam-Định).
HQ/Thiếu-tá Acloque được chỉ định nắm quyền chỉ-huy Liên-đoàn Hải-quân Xung-Phong 22 gồm cả các Đại-đội Commandos tùng-đĩnh (Groupement des Commandos du North Viet-Nam) như: Tempête, Tigre, Jaubert (tên của người sáng-kiến ra DINASSAUT), Romary, Sieffer và Orange. Tất cả đơn vị Hải-quân trong sông tại Nam-Định đang thao dượt, chuẩn bị tham dự chiến-dịch tái chiếm thị-xã Hòa-Bình.

4- THAM DỰ CÁC CUỘC HÀNH-QUÂN LỚN VÀ CHIẾN-DỊCH QUAN TRỌNG
Hải-đoàn Xung-Phong (HĐXP) kể từ khi thành lập vào tháng 8 năm 1947 cho đến năm 1965 được Bộ Tổng-tham-mưu QL/VNCH chấp thuận cải danh thành Giang-đoàn Xung-Phong (GĐXP) đã tham dự nhiều cuộc hành-quân Thủy-bộ then chốt trên khắp chiến-trường Việt-Nam. Cùng một quan-điểm chiến-lược với Bộ-trưởng Hải-ngoại của Pháp là Dupont, hầu hết các tướng lãnh trực tiếp chỉ-huy những cuộc hành-quân lưỡng-thế có GĐXP tham dự đều khẳng-định là “ nếu không có các đơn vị trong sông của Hải-quân như GĐXP thì cuộc hành-quân bị thất bại đến 70%  ”
Lịch-trình sau đây ghi lại những cuộc hành-quân lớn, có GĐXP tham dự, bất kể thành công hay thất bại.
Ngày 14/02/1948.
HĐXP1 tham dự hành-quân Véga vào vùng Đồng-Tháp-Mười với 7 Tiểu-đoàn Bộ-binh và 2 Đại-đội chiến-xa nhẹ Crabs (kiểu M.29 Weasel) do các Trung-vận-đĩnh LCM đổ lên bờ quận Hồng-Ngự, tỉnh Kiến-Phong. Hành-quân thất bại vì địch né chạm súng và cơ sở hậu-cần địch còn sơ sài.
Ngày 24/03/1951.
HĐXP2 tham dự hành-quân trên sông Đá-Bạc để giải tỏa Mạo-Khê. Đơn vị này được Thống-tướng De Lattre tuyên-dương công-trạng trước quân-kỳ Lực-lượng Viễn-Chinh là thi-hành công tác đổ quân và yểm trợ hải-pháo thật xuất sắc để bảo vệ Mạo-Khê-Phố.
Ngày 28/05/1951.
HĐXP2 tham dự hành-quân sông Đáy (Ninh-Bình), triệt được đường tiếp-tế của địch và hoàn toàn làm chủ thủy-trình chuyển vận lúa gạo.
Ngày 24/08/1951.
HĐXP1 tham dự chiến-dịch Tổng càn quét Đồng-Tháp-Mười. Thủ-trưởng chiến-khu 8 là tướng VMCS Dương-Quốc-Chính phải rút chạy về vùng Mỏ-Vẹt. Tư-lệnh chiến-dịch, tướng Bondis tuyên bố trước Quân-đội Pháp là “nếu không có HĐXP vào tận vùng Tân-Thành và Cái-Cái thì Lục-quân Pháp không thể thành công được như vậy ”
Ngày 03/10/1951.
HĐXP2 tham dự hành-quân bình-định sông Đuống và Trà-Lý (Thái-Bình). Cuộc hành-quân thất bại vì không hổ trợ được công tác bình-định nông thôn của Thủ-hiến Bắc-Việt là Nguyễn-Hữu-Trí.
Ngày 09/11/1951.
Liên-đoàn Hải-quân Xung-Phong 22 tham dự hành-quân tái chiếm Hòa-Bình. Theo phúc-trình của tướng Salan, cuộc hành-quân thất bại 100%, riêng Liên-đoàn Hải-quân Xung-Phong 22 được tuyên-dương công trạng là giữ vững an ninh sông Đà cho đến phút chót để cuộc triệt thoái chiến-thuật 12 ngàn quân về Vĩnh-Yên được an toàn.
Ngày 04/07/1952.
HĐXP1 tham dự hành-quân Zéphir (Gió-Mát) trong tam-giác Giồng Riềng, Vị-Thanh và Thái-Lai thuộc khu vực Hậu-Giang. Một số nhân-viên của đơn vị sông được thưởng huy-chương, vì tịch thu được một số vũ khí quan trọng của Tiểu-đoàn 307 VMCS.
Ngày 05/11/1952.
Liên-đoàn Hải-quân Xung-Phong 22 tham dự hành-quân Loraine để tiêu diệt hậu-cần của VMCS trong vùng Phú-Thọ. Đây là cuộc hành-quân khá lớn do tướng De Linarès, Tư-lệnh quân Pháp tại Bắc-Việt, trực tiếp điều động 13 Tiểu-đoàn Bộ-binh, 3 Tiểu-đoàn Dù, 4 Tiểu-đoàn Pháo-binh và 2 Tiểu-đoàn Kỵ-binh cơ-giới. Theo thống-kê của Quân-đội Viễn-Chinh Pháp thì kết quả hành-quân được đánh giá là thành công ở mức trung bình.
Tháng 01/1963.
Hải-đoàn 22 Xung-Phong tân lập do HQ/Đại-úy Huỳnh-Duy-Thiệp (Khóa 7 SQHQ/NT) chỉ-huy, tham dự “ Chiến-dịch Sóng-Tình-Thương” tại Năm-Căn. Hoạt động thường trực trên sông Bồ-Đề, Cái-Lớn, Tam-Giang….Hải-đoàn 22 Xung-Phong đánh tan cuộc phục-kích của Việt-Cộng trên kinh Cái-Nháp, tịch thu một số vũ-khí. Lần đầu tiên Hải-đoàn 22 Xung-Phong đoạt được đại-bác 75 ly. Khi bàn giao các ấp Chiến-lược lại cho chính quyền địa phương, HQ/Đại-tá Hồ-Tấn-Quyền, Tư-lệnh chiến-dịch, ban hiểu-thị là chiến-dịch thành công tốt đẹp.
Ngày 06/07/1964.
Hải-đoàn 22 Xung-Phong tham-dự hành-quân Đồng-Tháp/64 do Đại-tá Cao-Văn-Viên làm Tư-lệnh. Ngay khi được Hải-đoàn 22 XP đổ lên phía Bắc quân Hồng-Ngự, Chiến-đoàn Dù chạm địch dữ-dội và Đại-tá Viên bị thương tại mặt trận. Sau một tuần dằng co, Quân-lực VNCH đã đuổi được CSBV/Việt-Cộng chạy sang biên giới Miên.
Ngày 04/10/1965.
Giang-đoàn 23 XP và Trợ-chiến-hạm HQ226 cùng Tiểu-đoàn 41 Biệt-Động-Quân trên đường hành-quân giải vây đồn bót tỉnh Kiến-Hòa thì bị Việt-Cộng phục-kích dài 3 cây số dọc theo cù lao Ốc, sông Hàm-Luông. Cuộc hành-quân thất bại vì GĐ23 XP và Tiểu-đoàn 41 BĐQ bị tổn thất nặng, không đến được địa điểm tiếp viện.
Năm 1966.
Giang-đoàn 22 XP đảm trách an ninh thủy-trình sông Lòng-Tào, vì áp lực CSBV/Việt-Cộng trên thủy-trình huyết mạch nặng nề nhất trong lịch-sử Đặc-khu Rừng-Sát. Trọn năm, GĐ22 XP là nổ lực chính đem lại ổn định 100% cho lãnh-thổ độc nhất mà Hải-quân VNCH trách nhiệm. (Sắc-lệnh số 343/QL do Thủ-tướng Trần-Văn-Hương ký ngày 27 tháng 11 năm 1964 ấn định trách nhiệm lãnh-thổ của Hải-quân VNCH là Đặc-khu Rừng-Sát kể cả 2 con sông Lòng-Tào và Soi-Rạp).
Ngày 30/01/1968.
Liên Giang-đoàn 25 – 29 XP phối hợp ngăn chận thật hiệu quả và đẩy lui nhiều đợt quân CSBV/Việt-Cộng vượt qua sông Cái-Răng và sông Hậu-Giang để vào tổng-công-kích Thị-xã Cần-Thơ trong những ngày Tết Mậu-Thân.
Ngày 01/05/1968.
Liên Giang-đoàn 25 – 26 XP (GĐ 26 XP từ Long-Xuyên lên tăng phái) hành-quân độc lập khai thông kinh Mang-Thích và giải tỏa quận Bình-Minh. Trong kinh rạch hẹp, hỏa lực của Liên Giang-đoàn đánh trả rất ác liệt với DKZ, B40 và B41 của CSBV/Việt-Cộng. Đôi bên cùng tổn thất nặng. HQ/Thiếu-tá Nguyễn-Bá-Trang, Chỉ-huy-trưởng hành-quân bị thương, nhưng thành công trong công tác khai thông thủy-trình này.
Tháng 3 – 4/1973.
GĐ 26 XP phối hợp với Trung-đoàn 15 thuộc Sư-đoàn 9 BB hành-quân giải tỏa quân Hồng-Ngự và xã Thường-Phước, Cuộc hành-quân thắng lợi lớn vì bức rút được Trung-đoàn 174 thuộc Công-trường 5 Việt-Cộng chạy qua biên-giới Miên.________________________________

Chú Thích:
(01)- Tucker Spencer C. Encyclopedia of Vietnam war. London 1999, trang 103.
– Năm 1948, Dinassaut 1 (tiền-thân của GĐ 21 XP) ra đời ở Cochinchine (Nam-Việt).
– Năm 1951, Dinassaut 2 (tiền-thân của GĐ 22 XP) ra đời ở Tonkin (Bắc-Việt).
(02)- Carl Von Clausewitz (1780-1831) gia nhập Thiếu-sinh-quân Phổ (Prussian) năm 1792, thăng cấp tướng năm 1818. Với kinh nghiệm binh-nghiệp lâu dài được trình bày qua học-thuyết quân-sự “Chiến-tranh là một công-cụ của chính-sách” mà Clausewitz khẳng định trong quyển binh-pháp độc nhất của mình ON WAR (VOM KRIEGE) xuất bản năm 1833, sau khi ông chết được 2 năm. Các nước Âu-Châu bắt đầu nghiên cứu học-thuyết Clausewitz từ năm 1873, đến năm 1990 thì học-thuyết này được quảng-bá khắp các nước Mỹ, Nga và Nhật.
(03)- Salan Raoul. Tài liệu đã dẫn trang 185.
Dinassaut được các nhà quân-sử Pháp thẩm định và liệt vào « Sức mạnh trong sông » của Hải-quân Pháp vào thập niên 1950. Vì vậy mà Phúc-trình Jaubert về tổ-chức và chiến-thuật trong sông của Dinassaut trở thành chiến-thuật thành-văn của Quân-lực Pháp, đến năm 2004 tài liệu quan trọng này vẫn còn lưu trữ trong Trung-tâm Văn-khố Hải-ngoại tạiAix-en-Provence (CAOM=Centre des Archives Outre-Mer).
(04)- Tháng 2/1951, Bộ Tư-lệnh Viễn-Chinh tại Đông-Dương tái duyệt Phúc-trình Jaubert. Về chiến-cụ, De Lattre cho thay thế Quân-vận-hạm LCT bằng Trợ-chiến-hạm LSSL (Landing Ship Support Large) hay Giang-pháo-hạm LSIL (Landing Ship Infantry Large) có thủy-thủ-đoàn 40 người để tăng cường khả-năng yểm trợ hải-pháo chiến-thuật. Bởi vì cả hai loại chiến-hạm trên đây đều trang bị đại-bác 76.2 ly, 40 ly (đơn hoặc đôi), bích-kích-pháo 120 ly và 81 ly. Hơn nữa, chiến-hạm còn có hệ-thống truyền-tin viễn-liên và phòng mổ cấp-cứu tại chiến-trường rất thích ứng cho việc đặt BCH/ Hành-quân Liên-quân. (Ghi chú này trích dịch từ bản-phụ-đính kế-hoạch De Lattre’s short term plan of action, trong tập hồi-ký Salan).
(05)- Để danh xưng được đồng nhất, tên các chiến-đĩnh trong tập này trích từ « Tài liệu căn-bản về định danh chiến-đĩnh » do BTL/HQ/P3/P5/TC phổ biến vào tháng 6 năm 1971. (Xin xem thêm chương IX-ACTOV).
(06)- Song-hành với việc nâng cấp HĐXP, De Lattre bành-trướng Binh-đoàn cơ-động trên bộ lên tầm cở Lữ-đoàn (Brigade sized) gồm 3 Tiểu-đoàn Bộ-binh, 1 Tiểu-đoàn Pháo-binh chiến-thuật (Tactical Artillery hay Direct support), 2 Tiểu-đoàn Thiết-kỵ với hơn 100 xe cơ-giới và chiến xa nhẹ. Tầm nhìn xa về quân-sự của viên Tổng-chỉ-huy Quân-đội Pháp tại Đông-Dương khiến Trung-tướng Davidson, Đại-tá TQLC Croizat và Đại-tá Bộ-binh Summer Jr. đều ngưỡng-mộ và cho rằng ngoài ba trận thắng lớn để ổn định tinh-thần quân-đội và bình-định nông thôn, De Lattre còn có nhãn-quan chiến-lược về nâng cấp lực-lượng tác chiến để làm chủ chiến-trường du-kích không biên-giới. Nhưng tiếc một điều là ông ta qua đời quá sớm, không kịp viết hồi-ký về vai trò then chốt của mình tại Việt-Nam, giống như Salan hay Navarre đã làm. Dĩ nhiên quân-sử Pháp bị khiếm-khuyết phần nhân-chứng đầy hấp dẫn về chiến-trận Đông-Dương, nhất là những nhà nghiên cứu chiến-lược, chiến-thuật thì không thể nào hiểu hết được « người và việc » của một viên Toàn-quyền kiêm Tổng-Tư-lệnh Quân-đội Viễn-Chinh mà không có chút tư liệu gì để lại cho hậu-thế

Nguyễn Văn Ơn

One comment on “QLVNCH: Giang Đoàn Xung Phong

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s