VIỆT NAM CỘNG HOÀ 10 NGÀY CUỐI CÙNG (Trần Đông Phong): Một vài suy ngẫm (P2) Người Mỹ Đến, Người Mỹ Ra Đi


Một vài suy ngẫm (P2)

Posted on April 21, 2013 by Lê Thy

Người Mỹ Đến, Người Mỹ Ra Đi

Trong thời Đệ Nhị Thế Chiến, Tổng Thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt không để cho người Pháp trở lại Đông Dương một khi cuộc chiến tranh kết thúc và ông chủ trương phải đặt Đông Dương dưới “sự giám hộ quốc tế” (intemational trusteeship) của một quốc gia nào đó, cũng có thể là nước Pháp, nhưng sự giám hộ này phải đưa đến việc trao trả độc lập cho nhân dân cả ba nước Đông Dương. Tổng Thống Roosevelt đã ra lệnh cho Bộ Chiến Tranh và Quân Đội Hoa Kỳ chỉ giúp cho người Pháp trong công cuộc chiến đấu chống lại Nhật Bản nhưng tuyệt đối không được phép giúp cho người Pháp để tái chiếm Đông Dương làm thuộc địa như cũ.

Tổng Thống Roosevelt đã nói với hai nhà lãnh đạo Trung Hoa và Liên Xô một cách sơ lược về đề nghị “giám hộ quốc tế” cho Đông Dương của ông như sau: ‘Hội đồng giám hộ này sẽ có một người Pháp một hay hai người Đông Dương, một người Trung Hoa, một người Nga và có thể là thêm một người Mỹ và một người Phi Luật Tân. Hội đồng này có nhiệm vụ “giáo dục” (educate) cho người Đông Dương biết cách để tiến đến tự trị (selfgovemment) rồi độc lập.” Tổng Thống Roosevelt nói rằng Thống Chế Tưởng Giới Thạch và Thống Chế Stalin cả hai người đều tỏ ra rất thích đề nghị này, tuy nhiên có một vấn đề rắc rối là khi nghe nói về đề nghị này, người Anh lại không thích”.[ Samuel I. Rosenman: “The Public Papers and Addresses of Franklin D. Roosevelt, Victory and the Threshold of Peace”, Harper & Brothers, New York, 1950. Trang 556-557].

Đầu năm 1945, sau khi dự Hội Nghị Yalta trở về, Tổng Thống Roosevelt đã chỉ thị cho một trong số những vị Cố Vấn của ông rằng “phải lấy Đông Dương thuộc Pháp (French Indochina) ra khỏi tay người Pháp và phải đặt Đông Dương dưới một sự giám hộ quốc tế”. Sau một vài giây lưỡng lự Tổng Thống Roosevelt nói tiếp “được rồi, nếu mà chúng ta có được một sự cam kết đàng hoàng của người Pháp rằng họ sẽ đảm nhận cái trách nhiệm “giám hộ” thì tôi sẽ đồng ý để cho người Pháp ở lại Đông Dương, tuy nhiên phải có ghi rõ một điều khoản trong sự cam kết là mục tiêu tối hậu của giám hộ là nền độc lập của Đông Dương”. [Diplomatic Papers: “General: The United Nations,” GPO 1945, trang 124]

Lập trường của Tổng Thống Hoa Kỳ Roosevelt về vấn đề Đông Dương như vậy quả thật là rõ ràng. Và trước sau như một, ông chủ trương Đông Dương phải được đặt dưới quyền “giám hộ quốc tế” chứ không được trao lại cho người Pháp. Ý kiến này đã được đưa ra tại các Hội Nghị ở Cairo, Teheran và Yalta và đã được Chủ Tịch Stalin cũng như là Thống Chế Tưởng Giới Thạch ủng hộ, chỉ có Thủ Tướng Churchill là chống đối vì quyền lợi của đế quốc Anh.

Tiếc thay Tổng Thống Roosevelt đột ngột từ trần vào ngày 12 tháng 4 năm 1945, chỉ 4 tháng trước khi Nhật Bản đầu hàng và 5 tháng trước khi người Pháp mang quân trở lại Việt Nam.

Tổng Thống Harry S. Truman lên thay Tổng Thống Roosevelt đã không được biết gì về chính sách Đông Dương của vị Tổng Thống tiền nhiệm và vì phải đối đầu với phong trào cộng sản đang lan tràn ảnh hưởng ở các nước Đông Âu Châu và một vài nước Tây Âu như Ý, Hy Lạp và Pháp, do đó ông đã phải nhượng bộ người Pháp và không chống lại việc họ trở lại Việt Nam. Sau đó, khi chiến tranh xảy ra giữa người Việt Nam và Pháp, để đánh đổi việc Pháp không ủng hộ Liên Xô Tổng Thống Truman phải viện trợ quân sự cho người Pháp để họ theo đuổi cuộc chiến tranh tại Đông Dương.

Hiệp Định Genève đánh dấu sự kết thúc sự ủng hộ của Hoa Kỳ dành cho người Pháp tại Đông Dương. Theo Tiến Sĩ Chester Cooper thì kể từ khi Hoa Kỳ thừa nhận chính phủ Bảo Đại vào đầu năm 1950 cho đến khi Hiệp Định Genève được ký kết vào ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hoa Kỳ đã viện trợ cho người Pháp tổng số lên tới 2.600 triệu Mỹ kim về viện trợ quân sự tức là vào khoảng 80 phần trăm quân phí dành cho cuộc chiến tranh tại Đông Dương của người Pháp. Trong khi đó, tổng số viện trợ về quân sự, kinh tế cũng như là kỹ thuật dành cho chính phủ Quốc Gia Việt Nam của ông Bảo Đại trong thời gian này chỉ có 126 triệu Mỹ kim, tức là chưa tới một phần hai mươi trong tổng số tiền viện trợ cho người Pháp. Một nhà quan sát Hoa Kỳ đã chua chát phê bình về chính sách của người Mỹ như sau: “Hoa Thịnh Đốn đang cố gắng ôm giữ lấy bàn tay của “chủ nghĩa thực dân Pháp” đang bị cuốn trôi xuống cống rãnh…” [John F. Cady: The Historical Background of U.S. Policy in South East Asia, M.I.T. Press. 1963. Trang 21]

Vì viện trợ cho người Pháp cho nên người Mỹ đã dính dáng đến cuộc tranh chấp tại Việt Nam, trước hết là giữa người Pháp với Việt Minh và sau khi người Pháp ra đi thì là sự tranh chấp giữa người Việt Nam cộng sản với người Việt Nam không cộng sản.

Và đó cũng là nguyên nhân khiến cho người Mỹ nhiều lần tìm cách đưa quân vào Việt Nam những năm đầu của thập niên 1960.

Tổng Thống Ngô Đình Diệm Chống Việc Người Mỹ Đưa Quân Vào Việt Nam

Sau khi ông Ngô Đình Diệm thành lập Nền Đệ Nhất Cộng Hòa, người Mỹ đã bắt đầu trực tiếp viện trợ cho Việt Nam và họ đã cung cấp viện trợ quân sự cũng như là Cố Vấn để huấn luyện cho Quân Đội Việt Nam. Dưới thời Tổng Thống Dwight D. Eisenhower, chỉ có Cố Vấn quân sự phụ trách về huấn luyện và tiếp vận nhưng không có tham gia tác chiến và khi Tổng Thống Eisenhower hết nhiệm kỳ vào năm 1961 thì tổng số Cố Vấn Hoa Kỳ tại Việt Nam chỉ có 1.700 người.

Sau khi Tổng Thống John F. Kennedy lên nhậm chức, cộng sản Bắc Việt gia tăng khủng bố và phá hoại tại miền Nam khiến cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm phải gửi Quốc Thư yêu cầu chính phủ Hoa Kỳ trợ giúp. Căn cứ vào những phúc trình của các Tướng lãnh Hoa Kỳ, Tổng Thống Kennedy gia tăng viện trợ quân sự cũng như là Cố Vấn Hoa Kỳ tại Việt Nam. Vào năm 1963 khi cả hai ông Ngô Đình Diệm và Kennedy bị giết thì con số Cố Vấn Mỹ tại Việt Nam đã lên đến 17.000. Dưới thời Tổng Thống Kennedy, người Mỹ đã nhiều lần tỏ ý muốn đưa quân tác chiến Mỹ sang Việt Nam để có thể thanh toán được việt cộng một cách nhanh chóng hơn, tuy nhiên Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã cực lực chống lại điều đó.

Có lần Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã được Đại Sứ Nolting thông báo rằng “Hoa Kỳ chuẩn bị tham gia trong một nỗ lực gia tăng hơn giữa Hoa Kỳ và Việt Nam nhằm tránh một sự suy thoái trầm trọng trong tình hình hiện tại. Các Cố Vấn dân sự và quân sự Hoa Kỳ sẽ tham dự vào guồng máy chính quyền địa phương và những toán hỗn hợp Việt-Mỹ sẽ đi về tận các Tỉnh để thẩm định những yếu tố về xã hội, chính trị, tình báo và quân sự có liên quan đến chương trình chống nổi loạn.” Đại Sứ Frederick Nolting đã nhận được chỉ thị phải nói với Tổng Thống Diệm rằng “người Mỹ mong muốn mối liên lạc giữa Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ chặt chẽ hơn là chỉ đóng vai trò Cố Vấn như trong mối liên lạc hiện tại. Người Mỹ muốn chia xẻ sự quyết định trong những lãnh vực chính trị, kinh tế và quân sự có liên quan đền tình hình an ninh”. (Ghi chú của người viết: Có nghĩa là các Cố Vấn Mỹ sẽ chia xẻ sự cai trị cùng với các cấp chỉ huy người Việt Nam ở các địa phương chứ không đóng vai trò Cố Vấn như trước).

“Tổng Thống Ngô Đình Diệm lắng tai nghe với nhiều sự xúc động, ông ta không ngờ rằng người Mỹ lại có những đề nghị như vậy. Nghe xong, ông phản đối: “Việt Nam Cộng Hòa không muốn trở thành một xứ bảo hộ của người Mỹ” (Vietnam does not want to be a protectorate)[ Ellen Hammer: A Death in November, E.P. Dutton, New York 1987, trang 37].

Về căn cứ Cam Ranh, Tiến Sĩ Hammer còn cho biết: “Tổng Thống Diệm nói rằng người Mỹ đã nhiều lần yêu cầu ông cho phép được quyền thiết lập một căn cứ Hải và Không Quân thường trực (pemanent) tại Vịnh Cam Ranh và đến năm 1961 thì họ càng hối thúc mạnh hơn. Trong một cuộc kinh lý vào tháng 7 năm l962, Tổng Thống Diệm đã chỉ vào dãy núi Trường Sơn kề cận Vịnh Cam Ranh và nói rằng: “người Mỹ muốn lập một căn cứ ở đó nhưng mà tôi sẽ không bao giờ chấp thuận việc này”.[ Ellen J. Hammer: Sách đã dẫn. Trang 121].

Tổng Thống Ngô Đình Diệm chủ trương Hoa Kỳ nên gia tăng viện trợ kinh tế và quân sự cho Việt Nam để cho người Việt Nam có đủ sức mạnh chống lại cộng sản và ông đã yêu cầu như trên với Phó Tổng Thống Lyndon B. Johnson khi ông sang viếng thăm Việt Nam:

“Trong một chuyến thị sát Vịnh Cam Ranh có Kiến Trúc Sư Ngô Viết Thụ, khôi nguyên giải La Mã tháp tùng, Tổng Thống Diệm đã cầm “can” (gậy) chỉ xuống Hải Cảng mà nói rằng: “Người Mỹ muốn lấy Vịnh Cam Ranh này làm căn cứ, nhưng nếu cứ để họ lấy thì đương nhiên ta đưa ngọn cờ chính nghĩa cho Hà Nội, cho nên tôi có đề nghị với Phó Tổng Thống Lyndon Jobnson là cần tăng viện trợ kinh tế và quân sự để miền Nam Việt Nam hùng mạnh hơn. Hơn nữa, người lính Việt Nam được trang bị đơn giản và ít tổn phí, tiền chi phí cho một Quân Nhân Mỹ có thể dùng cho 5 Quân Nhân Việt Nam hay nhiều hơn, vả lại ngoài sự tổn phí, diệu vợi trong sự chuyển quân sang Việt Nam, sinh mạng của người lính Hoa Kỳ sẽ làm cho dư luận và dân chúng Mỹ lo lắng, phiền muộn thêm” [Hoàng Lạc và Hà Mai Việt: “Nam Việt Nam 1954-1975: Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới”. Tác giả xuất bản, Texas, USA 1990. Trang 227-228].

Tổng Thống Ngô Đình Diệm không bằng lòng khi thấy có quá nhiều Cố Vấn quân sự người Mỹ tại Việt Nam. Có lần ông đã nói với Đại Sứ Pháp Roger Lalouette về sự tràn ngập của các Cố Vấn quân sự Mỹ tại miền Nam như sau: “tất cả những Quân Nhân đó, tôi không hề yêu cầu họ đến nước tôi. Họ đến nước tôi mà không hề có một tấm giấy thông hành!”về phần ông Ngô Đình Nhu, Cố Vấn Chính Trị tại Phủ Tổng Thống thì trong một cuộc hội thảo về Ấp Chiến Lược tại Suối Lồ Ô, Thủ Đức, vào cuối mùa Hè năm 1963 chỉ chừng vài tháng trước ngày bị giết, ông đã giải thích cho các hội thảo viên, đa số thuộc giới trí thức, về lý do tại sao chính phủ Việt Nam của Tổng Thống Ngô Đình Diệm chống lại việc người Mỹ đề nghị đưa quân sang tham chiến tại Việt Nam. Ông Ngô Đình Nhu nói rằng:

“Nếu người Mỹ đưa quân sang Việt Nam thì trước hết miền Nam chúng ta sẽ mất hết chính nghĩa vì đa số nhân dân miền Nam sẽ xem Quân Đội Mỹ như là lính thực dân Pháp trước kia, họ sẽ xem chính quyền cũng như Quân Đội Việt Nam là “bù nhìn” của Mỹ và họ sẽ không thèm hợp tác với chính phủ, người Mỹ càng đưa quân vào thì việt cộng lại có cớ để gia tăng xâm nhập binh sĩ và cán bộ vào miền Nam để “chống Mỹ cứu nước” , người Mỹ có Quân Đội được trang bị với những vũ khí vô cùng tối tân, nhưng khi phải đương đầu với một cuộc “chiến tranh nhân dân, chiến tranh cách mạng” như tại chiến trường Việt Nam thì yếu tố vũ khí không quan trọng bằng yếu tố chính trị, sau một thời gian thì người Mỹ sẽ thấy là họ sẽ không đạt được thắng lợi một cách dễ dàng, họ sẽ bị sa lầy và họ sẽ dần dần mất kiên nhẫn, khi họ không còn kiên nhẫn nữa cả thế giới ai cũng biết rằng đối với người Mỹ thì kiên nhẫn không phải là một “đức tính” thì họ sẽ bị áp lực của dân chúng Hoa Kỳ rồi sẽ bỏ rơi chúng ta, và khi họ đã bỏ chúng ta rồi thì lúc đó hàng trăm ngàn quân lính của cộng sản từ Bắc Việt xâm nhập vào miền Nam để “chống Mỹ cứu nước” vấn đề sẽ còn đó và khi đó thì chúng ta không tài nào có đủ khả năng để chống lại một lực lượng cộng sản chính quy lớn lao như vậy.

Chính phủ Việt Nam chỉ muốn đương đầu với một cuộc chiến tranh du kích, một cuộc chiến tranh cục bộ trên bình diện quân sự và đồng thời hy vọng sẽ tìm mọi phương thức trên những bình diện khác như ngoại giao, chính trị, kinh tế v.v…để có thể đi đến một sự giàn xếp nhằm mang lại hòa bình cho nước Việt Nam, nhằm giúp cho người dân Việt Nam ở cả hai miền Nam và Bắc tránh được một cuộc chiến thương tàn có thể gây ra chết chóc cho cả hàng triệu người”. [Theo lời Bác Sĩ Trần Văn Đỗ, cựu Ngoại Trưởng, nói lại với người viết vào năm 1969].

Cũng trong một buổi hội thảo về Ấp Chiến Lược vào năm 1963 ông Ngô Đình Nhu có nói đến một “binh thư binh pháp” mới để đương đầu với hình thái chiến tranh đang tiến dần đến chiến tranh đại quy mô mà miền Nam Việt Nam sẽ không thể nào đương đầu nổi:

“Quốc sách Ấp Chiến Lược được hình thành và đang được áp dụng sẽ biến một số lực lượng của chúng ta qua thế du kích. Chúng ta cũng đang học tập để soát xét lại vấn đề ngoại viện, chính là nhằm để hạ cái mức độ chiến tranh xuống.

Tôi xin nhắc lại: Cả chính sách, cả đường lối của chúng ta là đưa ra một binh thư, binh pháp mới Binh Thư Binh Pháp đó là mình buộc địch phải đánh trong điều kiện chiến tranh của mình. Tức là không để cho cường độ chiến tranh tăng lên vì ngoại viện theo mức độ viện trợ tư bên ngoài”. [Nguyễn Văn Minh: Sách đã dẫn. Trang 292].

Tiến Sĩ Hammer cho biết thêm ông Ngô Đình Nhu đã nói như thế này: “Nếu chúng ta không tìm cách để nói chuyện hòa bình, nếu chúng ta cứ để cho cuộc chiến tranh tiếp diễn thì đó sẽ là một mối nguy cho chế độ Việt Nam Cộng Hòa“. [Ellen J. Hammer: Sách đã dẫn, trang 121].

Nhận định của ông Ngô Đình Nhu, Cố Vấn Chính Trị của Tổng Thống Ngô Đình Diệm vào năm 1963 như là một sự tiên tri vì chỉ hai năm sau, vào năm 1965, người Mỹ ồ ạt đưa cả nửa triệu quân vào Việt Nam, rồi thì chỉ 4 năm sau đó, vào năm 1969, người Mỹ lại đơn phương triệt thoái ra khỏi Việt Nam và chỉ còn có khoảng trên hai chục ngàn người khi họ ký kết bản Hiệp Định Paris vào tháng Giêng năm 1973, trong khi đó họ không phản đối việc hàng trăm ngàn quân đội chính quy của cộng sản Bắc Việt đã ở lại miền Nam sau Hiệp Định Paris. Theo Trần văn Trà thì “sau khi ký kết Hiệp Định Paris, ta đã giữ được một nửa (1/2) số quân đội của chúng ta tại miền Nam”. Chỉ không đầy hai năm sau, cộng sản Bắc Việt không những đã sử dụng lực lượng quân sự này mà lại còn đưa hết toàn lực quân đội trừ bị của họ từ miền Bắc tổng cộng lên tới nửa triệu người tấn công vào miền Nam Việt Nam và miền Nam đã mất.

Sự ước tính tình báo của Bộ Tư Lệnh Viện Trợ Quân Sự Hoa Kỳ tại Việt Nam (MAC-V) cũng như là sự tiết lộ của Cựu Đại Tá Bùi Tín, Tổng Biên Tập báo Quân Đội Nhân Dân của cộng sản Bắc Việt sau này cho thấy rằng lời tiên đoán của ông Ngô Đình Nhu hồi năm 1963 là hoàn toàn đúng.

Bà Marguerite Higgins cho biết: “theo sự ước lượng của người Mỹ (MAC-V) căn cứ trên nhũng dữ kiện do các hồi chánh viên cung cấp thì trong hai năm 1959 và 1960, có khoảng 2.700 cán binh cộng sản từ Bắc Việt xâm nhấp vào miền Nam. Đến năm 1961, con số này gia tăng lên mức 4.000 người năm 1962, trên 6.000 người, năm 1963 khoảng gần 4.200 người nhưng qua đến năm 1964 thì lại tăng lên tới 10.000 người. Năm 1965, số quân Bắc Việt xâm nhập miền Nam tăng lên gấp 3 lần” [Marguerite Higgins: Sách đã dẫn. Trang 136].

Ông Bùi Tín cho biết rằng: “theo thống kê của Bộ Tổng Tham Mưu ở Hà Nội thì vào năm 1959 và 1960 khi Hoa Kỳ đưa vào miền Nam Việt Nam 1.800 Cố Vấn, cán bộ kỹ thuật quân sự thì trong thời gian ấy miền Bắc đưa vào miền Nam cũng chỉ gần 1.800 người, gần bằng con số ấy. Đến năm 1963, Mỹ đưa vào 4.200 Cố Vấn và nhân viên kỹ thuật, miền Bắc đưa vào hơn gấp đôi: 8.700 người.

Đến khi Mỹ đưa vào miền Nam 543 ngàn quân (hơn nửa triệu) vào cuối năm 1967, thì số quân miền Bắc có mặt ở miền Nam (chưa kể đường vận chuyển mang tên Hồ chí Minh là 21 vạn (210.000). Cho đến mùa Xuân năm 1975 khi chiến tranh sắp kết thúc, số quân Bắc Việt Nam chính cống, nghĩa là từ Bắc Việt Nam đưa vào là 26 vạn (260.000) cùng với một số quân vốn ở miền Nam (cả du kích vũ trang) là 150.0 000 (do tổn thất khá lớn trong những năm 1968, 1969 và 1970 qua các chiến dịch Phượng Hoàng, Bình Định cấp tốc)”

Như vậy, theo ông Bùi Tín thì vào năm 1975, tổng số quân công sản Bắc Việt ở miền Nam lên tới 410.000 người, chưa kể con số trên hai trăm ngàn người trên đường mòn Hồ chí Minh, trong khi đó thì không còn một Quân Nhân tác chiến Hoa Kỳ nào tại miền Nam Việt Nam vì Quân Đội Mỹ đã hoàn toàn triệt thoái ra khỏi miền Nam Việt Nam từ tháng Giêng năm 1973 và “lúc ấy Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa tuy đông (1.100.000 người) nhưng phải rải khắp các Tỉnh thành, làng xã để phòng thủ, còn quân đội Nhân Dân Việt Nam (cộng sản Bắc Việt) thì có thể tập trung cơ động bằng cơ giới, với tổ chức quân đội cao nhất lên đến cấp quân đoàn (gồm 3 sư đoàn bộ binh và một sư đoàn thiết giáp) trong khi tổ chức quân đội cao nhất của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa là cấp Sư Đoàn, còn huy động lớn nhất của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa cho một chiến dịch là một Chiến Đoàn (gồm 2 đến 4 Sư Đoàn) còn của quân đội nhân dân là một “tập đoàn quân” (gồm đến 5 quân đoàn, tức là chừng 20 sư đoàn như trong chiến dịch cuối cùng)”. [Bùi Tín: Mây Mù Thế Kỷ, trang 200-202].

Theo tài liệu chính thức của cộng sản Bắc Việt sau năm 1975 thì “các lực lượng của Chiến Dịch Hồ Chí Minh gồm có các quân đoàn 1, 2, 3, 4 và quân đoàn 232, tổng cộng là 17 sư đoàn bộ binh cùng với 6 trung đoàn và 4 tiểu đoàn đặc công, 3 lữ đoàn và 4 tiểu đoàn tăng/thiết giáp, 22 lữ đoàn và 8 tiểu đoàn pháo binh, cộng thêm các đơn vị binh chủng khác, các lực lượng địa phương gồm 2 trung đoàn bộ binh và 6 trung đoàn đặc công”. [Từ Điển Bách Khoa Quân Sự Việt Nam do Quân Đội Nhân Dân Hà Nội xuất bản năm 1996, trang 118-119].

Như vậy thì theo cựu Đại Tá Bùi Tín cũng như là tài liệu chính thức của cộng sản, tổng số quân Bắc Việt tại miền Nam vào năm 1975 lên tới khoảng trên 25 sư đoàn, một lực lượng mà ngay cả khi Hoa Kỳ còn hơn nữa triệu quân tham chiến tại Việt Nam với tất cả những vũ khí tối tân của họ cũng không thể nào đương đầu nổi và đó là lý do tại sao mà vào năm 1963. Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu không muốn cho Hoa Kỳ đưa quân tác chiến vào Việt Nam vì cả hai người đều không muốn Việt Nam Cộng Hòa phải đương đầu với “hơn 25 sư đoàn quân chính quy cộng sản Bắc Việt” như vào năm 1975 sau này.

Hoa Kỳ Đưa Quân Vào Việt Nam

Hai năm sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu bị giết, vào ngày 8 tháng 3 năm 1965 thì những đơn vị quân tác chiến đầu tiên của Quân Lực Hoa Kỳ đổ bộ vào Việt Nam, lúc bấy giờ Bác Sĩ Phan Huy Quát đang giữ chức vụ Thủ Tướng.

Trong cuốn sách Gọng Kìm Lịch Sử, cựu Đại Sứ Bùi Diễm đã tiết lộ một số chi tiết về vấn đề này:

Sáng sớm ngày 8 tháng 3, 1965, tôi vừa mở mắt thì có điện thoại của Thủ Tướng Quát với giọng vội vàng, ông bảo tôi phải đến gặp ông ngay tại nhà riêng vì có việc cần. Vừa đến nơi, tôi đã thấy sứ thần Malfu tại đó. Tôi chưa kịp hỏi ông Manlfu câu nào thì Bác Sĩ Quát cho tôi biết là Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đang đổ bộ ở Đà Nẵng và yêu cầu tôi cùng với ông Malfu soạn thảo bản thông cáo chung loan báo việc này. Ông căn dặn tôi: “Cố làm sao càng ngắn càng hay, trình bày sự kiện như đã xẩy ra và xác nhận sự đồng ý của Chính Phủ Việt Nam”.

Sau khi Nhà Ngoại Giao Hoa Kỳ đi khỏi, Bác Sĩ Quát cho tôi biết trước đó ông và Đại Sứ Taylor có trao đổi ý kiến về vấn đề phải tăng cường khả năng phòng thủ cho Việt Nam. Trong cuộc trao đổi ý kiến sơ khởi này, Đại Sứ Taylor có đề cập tới đề nghị của Tướng Westmoreland muốn có thêm hai Tiểu Đoàn Thủy Quân Lục Chiến ở Đà Nẵng, tuy nhiên phần thảo luận chỉ có tính cách tổng quát và cũng không có lời yêu cầu chính thực nào từ phía Hoa Kỳ. Ngoài ra Bác Sĩ Quát cũng cho Đại Sứ Taylor biết rõ là ông rất ngần ngại, không muốn thấy Hoa Kỳ can thiệp trực tiếp vào chiến tranh Việt Nam, hay nói một cách khác, ông không muốn thấy cuộc chiến tranh “Mỹ hóa”. Ông cbo biết thêm là riêng về vấn đề này, Đại Sứ Taylor cũng chia xẻ quan điểm của ông. Bác Sĩ Quát nói rằng: “tôi nghĩ rằng có lẽ chính ông Taylor cũng ngạc nhiên về quyết định mau lẹ này của Hoa Thịnh Đốn và trong cuộc điện đàm với tôi sáng nay ông ta đã trình bày vấn đề như là một hành động quân sự có tính cách giới hạn và được thi hành chỉ vì tình bình an ninh xung quanh căn cứ Không Quân Đà Nẵng không đựơc vững.

Ông Bùi Diễm cho biết rằng theo tài liệu của ông Bundy và hồi ký của các ông Alexis Johnson, Taylor và Westmoreland thì hiển nhiên là Đại Sứ Taylor vô cùng ngần ngại về việc đưa quân bộ chiến vào Việt Nam. Trong một bức điện văn gửi về Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ngày 22 tháng 2, 1965, Đại Sứ Taylor đã trình bày thái độ hết sức “dè dặt” của Thủ Tướng Quát. Ông Bundy thì viết như sau: “Đại Sứ Taylor hoàn toàn gạt bỏ việc sử dụng những lực lương bộ chiến Hoa Kỳ và chỉ chấp nhận như một ngoại lệ việc sử dụng trong tương lai một số lực lương an ninh cho căn cứ Đà Nẵng” .

Cựu Đại Sứ Bùi Diễm lúc đó là Bộ Trưởng tại Phủ Thủ Tướng cho biết thêm rằng Đại Sứ Taylor phải miễn cưỡng chấp nhận việc gửi 3.500 Thủy Quân Lục Chiến vì Hoa Thịnh Đốn đã quyết định việc đó nhưng chính ông đã yêu cầu Hoa Kỳ không gửi thêm quân nữa và phải rút quân về khi nào Việt Nam có thề đảm trách được việc phòng thủ Đà Nẵng. Đại Sứ Taylor cũng yêu cầu nên gửi Quân Đội Hoa Kỳ sang một cách kín đáo để tránh những ảnh hưởng không tốt về chính trị đối với người Việt Nam, tuy nhiên Hoa Thịnh Đốn đã tổ chức cho “Thủy Quân Lục Chiến đổ bộ ào ạt lên bãi biển Đà Nẵng như ngày nào ở Iwo Jima trong chiến tranh Nhật-Mỹ hơn hai chục năm về trước”.

Ông Bùi Diễm cho biết “Cũng như Đại Sứ Taylor, Thủ Tướng Phan Huy Quát cũng bị đặt vào tình trạng khó xử: Trong hoàn cảnh ấy, liệu ông có thể ngăn cản hoặc trì hoãn được việc Hoa Kỳ mang quân vào Việt Nam không? Hai tuần sau đó, Hoa Thịnh Đốn lại đòi gởi thêm 2 Sư Đoàn Hoa Kỳ và 1 Sư Đoàn Đại Hàn sang Việt Nam và một lần nữa Đại Sứ Taylor phản đối. Ông giữ vững quan điểm mà trước đây ông đã chia sẻ với Thủ Tướng Quát, nghĩa là chỉ chấp nhận 3.500 đã gửi sang nhưng phải hạn chế vai trò của số quân đó. Sau đó Đại Sứ Taylor về Mỹ để tham dự những cuộc thảo luận của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia với sự tham dự của Tổng Thống Johnson và các nhà lãnh đạo quân sự cũng như là dân sự trong chính phủ và mặc dù có sự chống đối của ông, Tổng Thống Johnson quyết định cho gửi thêm 2 Tiểu Đoàn chiến đầu nữa cùng với 20.000 quân phụ trách về yểm trợ và tiếp vận. Điều quan trọng nhất là có sự thay đổi về vai trò của 3.500 Thủy Quân Lục Chiến tại Đà Nẵng, thay vì chỉ có nhiệm vụ phòng thủ căn cư Không Quân Đà Nẵng thì bấy giờ các đơn vị này đươc phép mở rộng phạm vi hoạt động lên tới 80 cây số chung quanh căn cứ và trong trường hợp khẩn cấp, nếu có lời yêu cầu của Việt Nam, thì các cấp chỉ huy Hoa Kỳ có thể tùy cơ tiếp cứu. Khi về đến Sài Gòn, Đại Sứ Taylor thuyết phục Thủ Tướng Quát và yêu cầu chính phủ Việt Nam “đồng thuận” (concurrence) với Hoa Kỳ về những quyết định mới của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia.

Sau vụ đổ bộ quân lên Đà Nẵng vào đầu tháng 3, đây lại là một sự bất ngờ mới nữa đối với ông Quát và tất cả chúng tôi. Bác Sĩ Phan Huy Quát và tôi đã từ lâu không muốn thấy Hoa Kỳ can thiệp trực tiếp, nhưng làm thế nào để sử dụng được hữu hiệu sự giúp đỡ của một đồng minh lớn mà vẫn tránh đựơc những hậu quả chính trị bất lợi ? [Bùi Diễm: Gọng Kìm Lịch Sử, trang 222-228.]

Trong cuốn hồi ký của ông, Đại Tướng Taylor, cựu Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam nói rằng:

Tôi đã gửi một điện văn cho Tổng Thống Jobnson bày tỏ niềm hy vọng nhiệt thành của tôi về việc chính phủ Hoa Kỳ không vội vàng nhảy vào nắm lấy vai trò lãnh đạo cuộc chiến tranh trong tay người Việt Nam. Tôi nhấn mạnh rằng từ khi Tổng Thống Kennedy quyết định vào năm 1961 gia tăng viện trợ để giúp cho miền Nam Việt Nam và sự ủng hộ của chúng ta dựa trên nguyên tắc là chúng ta chỉ giúp cho người Việt Nam để thi hành điều tối cần thiết mà họ chưa thể tự mình làm được. Người Việt Nam trong lúc này chưa thể nào nhanh chóng tạo dựng được một lực lựơng khả dĩ đối phó được sự gia tăng tiềm lực quân sự của Bắc Việt và chúng ta đã thay đổi chính sách để giúp cho họ.

Khi mà chúng ta gia tăng các hoạt động quân sự trên không và trên bộ đã giúp cho Việt Nam thì trong ngắn bạn, cũng có điều lợi là tạo lập một sự thăng bằng lực lượng và nâng cao tinh thần của họ, tuy nhiên về lâu về dài thì việc đó có thể đưa đến vấn đề là người Việt Nam nghĩ rằng việc người Mỹ đã trực tiếp tham chiến thì người Việt Nam sẽ bớt trách nhiệm trong việc gia tăng nổ lực đối phó với cuộc chiến tranh.

Khi có những dấu hiệu cho thấy một số giới chức Hoa Kỳ muốn gấp rút gửi thêm quân tác chiến sang Việt Nam sau vụ việt cộng tấn pháo kích phi trường Biên Hòa và Pleiku, vào ngày 14 tháng 4.1965, tôi lại đánh điện về Washington nhắc lại thêm lần nữa về sự dè dặt của tôi đối với việc gia tăng quân bộ chiến tại Việt Nam cho đến kbi nào mà việc đó không thể nào chối cãi đợc nữa. [Maxwell D. Taylor: Swords and Plowshares, W.W. Norton & Company, Inc. New York, 1972, trang 338­342].

Trong cuốn hồi ký A Soldier Reports, Đại Tướng Willia C. Westmoreland cũng cho biết Đại Sứ Maxwell Taylor chống lại việc đưa quân bộ chiến Hoa Kỳ sang Việt Nam: Đại Sứ Taylor phản đối việc đưa quân tác chiến Hoa Kỳ lên đất Việt Nam. Mặc dù mấy năm trước tại Hoa Thịnh Đốn ông có đề nghị đưa Công Binh Hoa Kỳ sang để giúp cho việc cứu trợ nạn lụt thì đó cũng là một hình thức Quân Nhân Hoa Kỳ đã hiện diện tại Việt Nam, nhưng lần này Đại Sứ Taylor lập luận rằng nếu Hoa Kỳ đưa quân sang Việt Nam thì người Việt Nam sẽ ỷ lại rồi giao việc tác chiến cho Quân Đội Hoa Kỳ, ông Taylor cũng thấy rằng những Quân Nhân Mỹ da trắng sẽ gặp khó khăn sống trong vùng của dân Á Đông, rất khó mà hội nhập với môi trường và ứng phó với cộc chiến tranh du kích để rồi chuốc lấy thảm bại như người Pháp đã vấp phải. [W.C. Westmoreland: A Soldier Reports, bản dịch Việt ngữ, Thế Giới. San Jose, Califomia, trang 176-177].

Lời giải thích của Đại Sứ Bùi Diễm cũng như là của Dại sứTaylor cho thấy rằng cả Thủ Tướng Phan Huy Quát và ông Đại Sứ Hoa Kỳ đều không chủ trương việc đưa quân bộ chiến Mỹ sang tham chiến tại Việt Nam, đó là quyết định của Washington. Thế nhưng sau này tại Việt Nam có rất nhiều dư luận, nhiều lời đồn đại nói rằng chính Thủ Tướng Phan Huy Quát đã “cho phép” người Mỹ, đã “mời” người Mỹ, đã “ký kết mật ước” với người Mỹ để cho phép họ đưa quân vào Việt Nam.

Vào năm 1968, người viết có dịp hỏi cựu Thủ Tướng Phan Huy Quát rằng hồi năm 1965, ông có ký kết trên giấy tờ, bằng văn kiện hay là thỏa thuận bằng miệng với Hoa Kỳ cho phép họ đưa quân sang tham chiến tại Việt Nam hay không?

Bác Sĩ Phan Huy Quát trả lời rằng: “Không. Không có gì cả! Hoàn toàn không có gì cả”.

Bác Sĩ Phan Huy Quát cho người viết biết rõ thêm như sau:

“Sau khi một số vài phi trường bị pháo kích, Đại Sứ Maxwell Taylor đã hỏi tôi rằng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có thể bảo vệ an ninh vòng đai cho các phi trường mà Hoa Kỳ đang cho trú đóng một số phi cơ hay không? Tôi trả lời với Đại Sứ Talor rằng tôi không nắm vững vấn đề này tuy nhiên tôi sẽ tham khảo ý kiến với Bộ Quốc Phòng và Bộ Tổng Tham Mưu rồi sẽ trả lời cho ông Đại Sứ. Sau đó tôi mời Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Đệ Nhất Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Quốc Phòng đến để thảo luận vấn đề này và Trung Tướng Thiệu yêu cầu tôi cho ông về tham khảo với các Tướng lãnh về các khả năng bảo vệ phi trường cũng như là quân số. Mấy hôm sau, ông Thiệu cho tôi biết rằng các Tướng lãnh và Bộ Tổng Tham Mưu đã nghiên cứu vấn đề này và họ cho biết rằng với tổng số Quân Đội chỉ có 192 ngàn người, chia ra phụ trách 4 vùng chiến thuật còn chưa đủ, làm sao mà có thể bảo vệ chu vi vòng đai (perimeter defense) cho 3 phi trường Biên Hòa, Pleiku và Đà Nẵng, ít nhất cũng phải cần đến trên 10 Tiểu Đoàn.

Tôi hỏi Trung Tướng Thiệu: Như vậy thì tôi phải trả lời Đại Sứ Taylor làm sao?

Ông Thiệu nói: Thì xin Thủ Tướng cứ nói với ông Đại Sứ Mỹ rằng mình không đủ khả năng bảo vệ an ninh vòng đai. Nếu họ muốn thì họ có thể tự lo kiệu lấy”.

Bác Sĩ Quát nói rằng ông đã trả lời Đại Sứ Taylor như Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu đề nghị, tuy nhiên ông cũng có nói với ông Taylor là cả hai phía Việt-Mỹ nên cùng nghiên cứu để tìm giải pháp cho vấn đề này và ông nghĩ rằng một trong những giải pháp có thể thực hiện được là Hoa Kỳ gia tăng viện trợ để thành lập thêm một số đơn vị nhằm bảo vệ cho các căn cứ Không Quân này. Ông Quát nói rằng ông hoàn toàn phản đối việc người Mỹ đưa quân tác chiến sang Việt Nam vì sự hiện diện của quân đội ngoại quốc sẽ làm cho Miền Nam Việt Nam mất chính nghĩa và người dân sẽ mất cảm tình với chính phủ và Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa.

Ông nói rằng Đại Sứ Maxwell Taylor cũng đồng ý với ông về những điểm này. Bác Sĩ Quát cho biết khi Đại Sứ Taylor gọi điện thoại cho ông vào sáng sớm ngày 8 tháng 3 năm 1965 để thông báo cho ông việc 2 Tiểu Đoàn Thủy Quân Lục Chiến đang đổ bộ lên bờ biển Đà Nẵng thì ông ngạc nhiên và giận dữ vô cùng, tuy nhiên ông không thể nào trách Đại Sứ Taylor vì ông Taylor nói với ông rằng chính ông ta cũng không hề được hay biết gì về chuyện Thủy Quân Lục Chiến đổ bộ vào Đà Nẵng ngày hôm đó. Đó là quyết định từ Hoa Thịnh Đốn.

Bác Sĩ Quát nói rằng người Mỹ đã đặt chính phủ Việt Nam trước “một sự đã rồi” thì có phản đối cũng chẳng có gì lợi và cũng vô ích, cho nên theo đề nghị của Đại Sứ Taylor, tôi chỉ thị cho ông Bộ Trưởng Bùi Diễm cộng tác với người của Tòa Đại Sứ Mỹ thảo một bản thông cáo nói rằng việc đó có “sự đồng thuận” (concurrence), đồng thuận chứ không phải là thỏa thuận, của hai chính phủ để giữ thể diện một phần nào cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Ông Quát nói với người viết rằng “Tôi muốn nhấn mạnh đến chữ “đồng thuận” đó là một trò “chơi chữ” vì nếu thỏa thuận thì phải có sự thương lượng nhưng mà không hề có thương lượng cho nên tôi đã dùng chứ đồng thuận”. Ông cho biết thêm rằng ông đã nói với Đại Sứ Taylor là chính phủ Việt Nam chỉ đồng ý về việc Quân Đội Mỹ sang để bảo vệ vòng đai cho các căn cứ Hoa Kỳ mà thôi chứ không có có nhiệm vụ hành quân tác chiến trên lãnh thổ Việt Nam.

Người viết có hỏi Bác Sĩ Quát rằng về phía các Tướng lãnh trong Hội Đồng Quân Lực lúc đó, có ai biết hay có ai chống lại việc người Mỹ đưa quân vào Đà Nẵng hay không thì sau một hồi suy nghĩ, ông nói rằng:

“Tôi có cảm tưởng rằng có lẽ phe Quân Đội dường như có biết về việc này vì sau đó thì tôi có được báo cáo rằng khi quân Mỹ đổ bộ, người ta đã có tổ chức đưa một số nữ sinh xuống bãi biển Nam Ô quàng vòng hoa cho Lính Mỹ. Tôi chỉ tiếp xúc với ông Đại Sứ Taylor còn các Tướng lãnh thì họ vẫn thường tiếp xúc với các Tướng lãnh Mỹ, do đó họ nói chuyện gì với nhau thì tôi cũng không biết được. Nên nhớ rằng khi người Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng thì tôi mới được Hội Đồng Ouân Lực mời ra làm Thủ Tướng chỉ có 3 tuần lễ, còn chuyện quyết định và chuẩn bị mọi kế hoạch để đưa Thủy Quân Lục Chiến đổ bộ vào Đà Nẵng thì có lẽ người Mỹ đã làm trong thời gian trước đó lâu lắm rồi chứ không thể chỉ có trong vòng một vài tuồn lễ ngắn ngủi như vậy được”.

Bác Sĩ Phan Huy Quát, Thủ Tướng Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa không hay biết gì về việc Hoa Kỳ mang quân bộ chiến vào Việt Nam cho đến khi Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đổ bộ lên Đà Nẵng, tuy nhiên giới quân sự thì dường như lại đã biết trước chuyện này. Nhà văn Huy Phương, vào năm 1965 chỉ là một Thiếu Úy phục vụ tại Nha Chiến Tranh Tâm Lý tọa lạc tại số 2 đường Hồng Thập Tự, chỉ cách Phủ Thủ Tướng ở Đại Lộ Thống Nhất không đầy 500 thước, có cho người viết biết rằng trước khi Quân Đội Mỹ đổ bộ, ông đã nhận được tin từ Phòng 5 Quân Đoàn I cho biết sẽ tổ chức cho các nữ sinh ở Đà Nẵng mang vòng hoa quàng cho các Thủy Quân Lục Chiến Mỹ khi họ đổ bộ xuống bờ biển Nam Ô.

Người viết có hỏi Bác Sĩ Phan Huy Quát là theo ý ông thì người Mỹ đã nghĩ đến việc đưa quân tác chiến vào bảo vệ cho các phi trường từ khi nào thì được ông cho biết:

Theo chỗ suy đoán của tôi thì có lẽ là sau vụ việt cộng pháo kích vào phi trường Biên Hòa vào tháng 12 năm 1964 và nhất là sau vụ pháo kích vào phi trường Pleiku mà người Mỹ gọi là “căn cứ Holloway” vào ngày 7 tháng 2 năm 1965, chỉ có khoảng 5 ngày trước khi tôi trình diện nội các. Tôi còn nhớ là Đại Sứ Taylor có đề cập đến vấn đề bảo vệ an ninh cho phi trường Biên Hòa không mà thôi thì cũng phải mất 4 hay 5 Tiểu Đoàn, còn nếu muốn bảo vệ cho tất cả các căn cứ Không Quân của Hoa Kỳ ở Việt Nam thì cần phải có khoảng 75.000 người.

Tưởng cũng nên nhắc lại sau khi Hội Đồng Quân Lực bất tín nhiệm Thủ Tướng Trần Văn Hương, ngày 16 tháng 2 năm 1965, Đại Tướng Nguyễn Khánh thừa ủy nhiệm Hội Đồng Quân Lực đã ký quyết định số QĐ 5/HDQL “tuyển nhiệm” ông Phan Khắc Sửu làm Quốc Trưởng Việt Nam Cộng Hòa và “bổ nhiệm” ông Phan Huy Quát làm Thủ Tướng. Như vậy thì tuy ông Phan Huy Quát làm Thủ Tướng nhưng quyền hành vẫn nằm trong tay Hội Đồng Quân Lực và sau khi Đại Tướng Nguyễn Khánh bị các Tướng lãnh “hạ bệ” và được cử làm “Đại Sứ Lưu Động” phải đi ra ngoại quốc thì Hội Đồng Quân Lực do một nhóm Tướng trẻ gọi là “Young Turks” nhắm ảnh hưởng mà những người nổi bật nhất là Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Thiếu Tướng Nguyễn Chánh Thi, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Thiếu Tướng Lê Nguyên Khang, Thiếu Tướng Cao Văn Viên, Thiếu Tướng Nguyễn Bảo Trị, Đề Đốc Chung Tấn Cang v.v…

Đến ngày tháng 6 năm 1965, vì có sự bất đồng ý kiến giữa Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ Tướng chính phủ, Thủ Tướng Phan Huy Quát đã xin từ chức và giao quyền lại cho Quân Đội. Đến ngày 19 tháng 6 năm 1965 thì Quân Đội thực sự lên nắm chính quyền với Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu giữ chức vụ Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia tức là Quốc Trưởng và Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ giữ chức vụ Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương tức là Thủ Tướng.

Dưới thời Quân Đội nắm chính quyền, Hoa Kỳ đã gia tăng quân số tham chiến tại Việt Nam lên đến trên nửa triệu người, con số cao nhất là 543 ngàn quân vào cuối năm 1967 và ngưng ở mức đó cho đến khi Tổng Thống Nixon tuyên bố rút bớt quân Mỹ về nước vào năm 1969.

(còn tiếp)

Bảo vệ Cờ Vàng

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s