Thế trận đối đầu giữa “bảy chị em” và TQ


12:55:pm 03/05/15 | Tác giả: 

bd-1

I.Giới Thiệu Khái Quát:

Sự an toàn phát triển kinh tế, cũng như về quốc phòng và về chính trị cho đảng Cộng Sản đang cầm quyền tại Trung Quốc hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng tranh giành sự kiểm soát trữ lượng dầu hỏa của thế giới nhằm đảm bảo thỏa mãn mức tăng vọt về nhu cầu tiêu thụ xăng dầu trong xã hội cũng như khả năng gia tăng mức lượng dự trữ xăng dầu của quốc gia phòng khi khốn khó, khi bị cấm vận, hay chiến tranh thiên tai.

Nỗ lực này của Trung Quốc đụng chạm và đe dọa đến quyền kiểm soát dầu hỏa của giới “BẢY CHỊ EM,” mà tiếng Anh còn gọi là “Seven Sisters,” vốn là tiếng lóng để chỉ các tập đoàn tư bản dầu hỏa hàng đầu của thế giới do chính phủ Hoa Kỳ hậu thuẫn đàng sau, hiện đang âm thầm sở hữu tối thiểu 85% lượng dự trữ dầu hỏa của toàn thế giới.

Việt Nam một nước có dầu hỏa nằm trên huyết lộ vận chuyển dầu nên bị lôi cuốn mạnh vào cuộc đối đầu giữa “BẢY CHỊ EM” và Trung Quốc khiến cho mọi hoạch định kế sách chính trị, kinh tế an sinh trong tương lai trở thành là hệ quả của cuộc đối đầu này

II . Năng Lượng Là Tử Huyệt của Trung Quốc

Bản đồ cung-cầu về dầu hỏa của Trung Quốc cho thấy nền kinh tế của Trung Quốc hoàn toàn phụ thuộc vào sự nhập khẩu dầu hỏa để duy trì mức tăng trưởng kinh tế hiện nay của mình vì khả năng sản xuất (production) dầu hỏa của Trung Quốc chỉ cáng đáng nổi gần phần nửa nhu cầu về dầu hỏa của nền kinh tế tức là khoảng trên 4 triệu thùng/ ngày trong khi nhu cầu (consumption) lên đến gần 12 triệu thùng/ ngày.

Dựa trên bản đồ cung cầu trên, Trung Quốc cần phải nhập ít nhất trên 6 triệu thùng một ngày để đảm bảo nhu cầu dầu hỏa của nền kinh tế không bị thiếu hụt (phần chú thích gạch đỏ trên bản đồ). Cho nên, các chiến lược gia từ hai quốc gia Trung Quốc lẫn Hoa Kỳ, khi nhìn vào bản đồ cung cầu về dầu hỏa này của Trung Quốc đều dễ dàng nhận thấy rõ nếu vì bất cứ lý do gì mà Trung Quốc không thể duy trì khả năng nhập khẩu dầu hỏa thì cả nền kinh tế Trung Quốc đột nhiện tê liệt, sụp đổ xáo trộn dẫn đến những an nguy khó lường về quốc phòng và an toàn chính trị đối với đảng Cộng Sản đang cầm quyền tại Bắc Kinh.

Các lý do khiến Trung Quốc không thể nhập khẩu dầu hỏa có thể là do bị cấm vận, hoặc các nước bán dầu cho Trung Quốc bị thiên tai chiến tranh, hoặc các nước này đơn phương ngưng bán dầu cho Trung Quốc vì bất đồng về chính trị , về thỏa thuận giá cả , hoặc là con đường vận chuyển dầu hỏa tới Trung Quốc bị cắt đứt phong tỏa, vân vân…

Từ đó, để đối phó với những hiểm họa tiềm ẩn có thể dẫn đến thiếu hụt lượng nhập khẩu dầu hỏa cho nền kinh tế dẫn đến những nguy hại khôn lường về quốc phòng và an ninh kinh tế chính trị, một mặt, Trung Quốc phải gia tăng lượng dự trữ dầu của quốc gia để tiếp ứng dự phòng tạm thời nếu có bế tắt về nhập khẩu dầu xảy ra; mặt khác, Trung Quốc cần phải thi hành những đối sách nhằm đảm bảo sự kiểm soát của mình lên các nguồn dầu hỏa từ các quốc gia mà mình nhập khẩu.

Về đối sách dự trữ dầu hỏa phòng khi có biến, hiện tại, Trung Quốc thừa nhận đã có khả năng dự trữ được 101.9 triệu thùng và đang cố nỗ lực gia tăng mức dự trữ lên 475.9 triệu thùng vào năm 2020. Ngoài ra, các công ty dầu hỏa do nhà nước làm chủ của Trung Quốc cũng hứa hẹn với chính phủ sẽ dự trữ thêm khoảng 200 triệu thùng nâng tổng số dự trữ của Trung Quốc lên gần 675 triệu thùng vào năm 2020 .

Giả sử Trung Quốc đạt được mức dự trữ như tính toán, có tổng số dự trữ lên đến 675 triệu thùng khi cấp biến có thể đem ra dùng để duy trì sự ổn định kinh tế, thay thế vào 6 triệu thùng nhập khẩu mỗi ngày bị đứt đoạn không nhập khẩu được thì cũng chỉ duy trì được tình trạng tạm thời trong vòng 112 ngày tức là chỉ quá BA THÁNG mà thôi!

Thực tế này là MỘT ĐE DỌA THUỜNG TRỰC cho nền quốc phòng, sức phát triển kinh tế và an toàn chính trị cho đảng Cộng Sản cầm quyền tại Trung Quốc. Cho nên, Trung Quốc cần phải bung ra có mặt ở mọi quốc gia sản xuất dầu, tìm đủ mọi đối sách từ ngoại giao, quân sự, ảnh huởng chính trị đến đầu tư nhằm đảm bảo lượng dầu hỏa nhập khẩu được ổn định và nguy cơ gián đoạn trong nhập khẩu dầu hỏa của Trung Quốc giảm thiểu tối đa.

Từ đó, cuộc đối đầu tuy ngấm ngầm nhưng khốc liệt giữa Trung Quốc và giới BẢY CHỊ EM bắt đầu xảy ra.

Đơn giản, BẢY CHỊ EM không thể để quyền kiểm soát dầu hỏa trên toàn thế giới mà mình có bấy lâu nay lọt vào tay của Trung Quốc. Và đương nhiên, chính phủ Hoa Kỳ cũng không muốn nhìn thấy sự kiểm soát dầu hỏa trên thế giới của mình phải bị chia sẻ vào tay Trung Quốc.

III. Trung Quốc nhập khẩu dầu hỏa từ những quốc gia nào?

Đây là một câu hỏi vô cùng quan trọng cho giới “BẢY CHỊ EM” vì Trung Quốc mua dầu ở nơi nào thì Trung Quốc sẽ tìm cách lung lạc, gia tăng ảnh huởng hay khả năng khống chế lên quốc gia đó. Cho nên, giới “BẢY CHỊ EM” cần phải thúc giục Hoa Kỳ từng bước xúc tiến làm đồng minh với những quốc gia đó hoặc đẩy những quốc gia đó vào thế bị Liên Hiệp Quốc cấm vận hay chiến tranh rối loạn để khả năng cung cấp dầu hỏa cho Trung Quốc có nguy cơ bị sút giảm.

bd-2

Chỉ cần nhìn vào biểu đồ 2 thì rõ ràng Trung Quốc đã phải nhập khẩu gần 43% tổng số dầu hỏa từ những đồng minh thuờng trực của Hoa Kỳ (blue mark). Dĩ nhiên, những kỹ nghệ khai thác dầu hỏa của những quốc gia đồng minh này có sự hiện diện từ kỹ thuật, vốn liếng đầu tư ban đầu, sở hữu dự trữ khi công khai, khi thầm lặng từ giới “BẢY CHỊ EM.”

Riêng về Venezuela, thì sự quốc hữu hóa (cướp bóc tài sản) giới BẢY CHỊ EM của tổng thống Hugo Chavez đã không được suôn sẻ vì giới BẢY CHỊ EM liên tục phá hoại ý đồ của ông.

Việc Tổng Thống Hugo Chavez đi chữa trị bệnh ung thư đột nhiên có biến chứng, càng chữa càng nặng lên rồi qua đời cùng với việc Cuba bỗng nhiên được chính phủ Obama nâng đỡ trìu mến khác thuờng và đột ngột đều có một mối dây liên hệ trước sau nhưng không ai dám bén mảng điều tra hay nghi vấn.

Vì thế cho nên, Venezuela sớm muộn gì cũng sẽ nằm trong quỹ đạo kinh tế đối ngoai mà giới “BẢY CHỊ EM” muốn nhìn thấy, trong đó thừa nhận quyền tư hữu và ảnh huởng của “BẢY CHỊ EM” quyền lợi kinh tế dầu hỏa của Venezuela.

Đối với Angola thì Chevron đã hiện diện tại nước này từ năm 1958 và không hề rút bỏ hay giảm sút đầu tư của mình vào nước này từ đó cho đến nay. Ngay cả ExxonMobil cũng gia tăng hiện diện mạnh 15 năm gần đây.

Lý do Angola không thể đánh dấu như là nằm trong ảnh huởng của “BẢY CHỊ EM” vì BẢY CHỊ EM phải chia sẽ ảnh huởng và quyền lợi của mình ở Angola với các quốc gia Âu Châu trong đó có Bồ Đào Nha, Đức và Pháp đối trong việc khai thác và sở hữu dự trữ dầu hỏa. Tuy nhiên, Âu Châu vẫn là bạn bè đồng minh của Hoa Kỳ và trong chừng mực nào đó, vẫn có thể thúc giục Angola cấm vận dầu hỏa lên Trung Quốc để chiều theo ý Hoa Kỳ nếu cần thiết.

Còn về phần Cộng Hòa Liên Bang Nga thì Trung Quốc không cách gì hạ thấp được sự bất ổn về cung cấp dầu hỏa theo đường dài vì nền chính trị và quận sự của Nga hoàn toàn ngang ngửa và mạnh hơn Trung Quốc.

Hoa Kỳ đang dồn Nga vào thế cấm vận thông qua vụ Ucraine ngày một nghiệt ngã khiến sự giao thiệp buôn bán dầu hỏa giữa hai nước Trung-Nga luôn nằm trong sự chỉ trích và đầy bất ổn. Hơn nữa, Trung Quốc cũng không thể nào phụ thuộc hay dựa dẫm vào nguồn nhập khẩu từ Nga vì Nga vẫn là một quốc gia luôn tìm cách không chế Trung Quốc trực diện từ kinh tế đến quốc phòng và lãnh thỗ bấy lâu nay.

Tuy nhiên, các chiến lược gia ở Bắc Kinh cũng đã cố gắng thuơng thảo những hợp đồng dài lâu với Nga từ đây cho đến năm 2020 nhằm duy trì sự ổn định nhập khẩu xăng dầu cho Trung Quốc dù rằng những hợp đồng này, Trung Quốc phải chịu một tổn phí cao hơn giá cả thị trường. Trung Quốc dù sao cũng cần Nga hậu thuẫn về đối ngoại tại Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc để giãm bớt áp lực ngoại giao lên chính sách vi phạm nhân quyèn của đảng Cộng Sản Trung Quốc.

Iran cũng nằm trong những thuơng thảo thuận lợi cho Trung Quốc dù hai nước vẫn có những thù hằn về tôn giáo do chính sách triệt tiêu Hồi giáo của Bắc Kinh. Tuy nhiên, Iran sẽ sớm muộn gì cũng lại lọt vào ảnh huởng của “BẢY CHỊ EM” trước những nỗ lực vừa ve vãn, vừa cứng rắn về ngoại giao đang thấy xảy ra giữa hai nước Hoa Kỳ – Iran dạo gần đây do chính phủ Obama đang nỗ lực thi hành.

Giây phút mà sự cấm vận được bãi bỏ là lúc mà giới “BẢY CHỊ EM” quay lại I-ran ồ ạt nhận lại những tài sản của mình vốn bị cướp đi sau Cách Mạng Hồi giáo xảy ra năm 1979.

Trung Quốc thừa hiểu sự nhích lại gần giữa hai nước I-ran va Hoa Kỳ cũng như những ve vãn ngoại giao của chính Phủ Obama về bình thuờng hóa chỉ là một phần trong kế sách khống chế nặng lượng của “BẢY CHỊ EM” lên Trung Quốc.

Riêng về Kazakhstan, tuy không thể đánh dấu là đồng minh thuờng trực của Hoa Kỳ nhưng giới lãnh đạo của Kazakhstan rất khôn ngoan và luôn giúp đỡ Hoa Kỳ khi cần thiết, trong đó có cả việc tình nguyện giúp đỡ Liện hiệp Quốc, cho phép không lực Hoa Kỳ và đồng minh sử dụng các sân bay chiến lược khi cần thiết. Điều này khiến Hoa Kỳ có một mối ân cảm sâu sắc đối với Kazakhstan.

Chevron, một thành viên quan trọng của giới “BẢY CHỊ EM” đã vào đất nước này khai thác, giúp đỡ tân tiến kỹ thuật dầu hỏa cho đất nước này từ năm 1993. Hoa Kỳ hoàn toàn tư tin là người bạn hiền lành này sẽ giúp đỡ Hoa Kỳ một lần nữa nếu cần thiết khi phải trực diện trói buộc Trung Quốc về dầu hỏa.

Đứng trước một nền dân chủ dân trí cao và lãnh đạo khôn ngoan, Trung Quốc không có cơ hội để mưu kế khống chế nỗi Kazakhstan.

Như vậy , sau khi điểm qua từng quốc gia chủ yếu xuất khẩu dầu hỏa sang Trung Quốc, các chiến lược phái Bắc Kinh hoàn toàn nhìn thấy “BẢY CHỊ EM” đang từng bước siết chặt lên sự an toàn về phát triển kinh tế, quốc phòng và chính trị của Trung Quốc.

Nền kinh tế bộc phát lệ thuộc vào sự ổn định nhập khẩu dầu hỏa của Trung Quốc có thể bị bóp chết bất cứ lúc nào không hay khi mà gần như toàn bộ nguồn cùng cấp dầu cho Trung Quốc nhập khẩu đều năm trực tiếp hay gián tiếp trong vòng ảnh huởng của giới BẢY CHỊ EM.

Không có đủ lượng dầu hỏa nhập khẩu, xã hội và kinh tế Trung Quốc sẽ bị đình trệ, đổ vỡ với lượng dự trữ dầu hỏa của Trung Quốc (101.9 triệu thùng hiện nay và 675 triệu thùng năm 2020) không đủ cứu vãn tình thế về lâu về dài.

Cho nên, nỗ lực bung ra, gia tăng ảnh huởng chính trị băng mọi giá lên mọi quốc gia có dầu hỏa của Trung Quốc là một điều Trung Quốc cần phải làm trong thế đối đầu này.

IV. Vị trí của Việt Nam trong cuộc đối đầu cam go giữa Trung Quốc và “BẢY CHỊ EM”

Nếu Trung Quốc cần nhập khẩu dầu hỏa cho sự phát triển và an toàn kinh tế quốc phòng của mình thì hai câu hỏi sau đây VÔ CÙNG QUAN TRỌNG được các chiến lược gia của các bên đối đầu nêu ra:

1. Tuyến đường nào là đường Trung Quốc vận chuyển dầu nhập khẩu về xứ?

2. Việt Nam tại sao không nằm trong biểu đồ các quốc gia xuất khẩu dầu hỏa cho Trung Quốc?

Lý do có câu hỏi thứ nhất là vì giả sử rằng nếu Trung Quốc thật sự bằng cách này hay cách khác mà kiểm soát và gia tăng ảnh huởng thành công lên mọi quốc gia bán dầu hỏa cho Trung Quốc khiến lượng dầu nhập của Trung Quốc được ổn định, nếu đường vận chuyển dầu hỏa về Trung Quốc bị chính phủ Hoa Kỳ làm cho gián đoạn, bế tắt thì mọi nỗ lực bung ra tranh giành ảnh huởng của Trung Quốc cũng xôi hỏng bỏng không- tức là có dầu mà không đem về được.

bd-3

Lý do của câu hỏi thứ hai là dữ liệu data đã cho thấy rõ trữ lượng dầu hỏa của Việt Nam chiếm gần một phần ba tổng số dự trữ dầu ở Đông Nam Á(tức là khoảng 3 tỷ thùng), sát ngay bên Trung Quốc. Vậy thì việc Việt Nam không có tên như là những quốc gia hàng đầu xuất khẩu dầu hỏa sang Trung Quốc trong biểu đồ 2 là một điều khó hiểu đến ngạc nhiên.

bd-4

Nếu thực sự khối lượng dầu hỏa dự trữ của Việt Nam hoàn toàn do Trung Quốc chi phối thì Trung Quốc thắng chắc trong cuộc đối đầu để thoát khỏi sự không chế của “BẢY CHỊ EM” về mặt năng lượng dầu hỏa vì không phải mệt mỏi nhọc công bung toàn lực để tranh dành ảnh huởng của mình lên mọi quốc gia dầu hỏa khắp nơi trên thế giới.

Việt Nam lại nằm sát cạnh Trung Quốc nên ngăn cản con dường máu vận chuyển dầu hỏa từ Việt Nam sang Trung Quốc trong điều kiện Việt Nam hoàn toàn nằm dưới sự chi phối về chính trị của Trung Quốc thì lại càng không thể làm được.

Do đó, việc cả “BẢY CHỊ EM” lẫn Trung Quồc dồn toàn lực tìm cách chi phối nền chính trị Việt Nam bằng mọi giá là một điều hoàn toàn cần phải có, phải xảy ra, đang xảy ra và chỉ chấm đứt khi cuộc đối đầu này chấm dứt.

V. Những hành động giải cứu Việt Nam của giới BẢY CHỊ EM

Trung Quốc cần phải khống chế Việt Nam để đảm bảo con đường vận chuyển dầu hỏa ngang qua hải phận Việt Nam và khối lượng dầu dự trữ của Việt Nam không bị hoàn toàn nằm vào sự kiểm soát của “BẢY CHỊ EM.”

Mặc dù Cộng Sản Hà Nội đã cố gắng trấn an nỗi lo lắng của Trung Quốc bằng cách đưa tướng Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng Bộ Quốc Phòng ra tuyên bố chính sách BA KHÔNG trong đó có đoạn là “Việt Nam sẽ không dùng nước này, liên kết với nước này để chống nước kia” nhưng Trung Quốc không thể mạo hiểm lơ là, nên vẫn tiếp tục gia tăng áp lực từ kinh tế, chính trị đến quân sự lên Việt Nam.

Về kinh tế, Trung Quốc tung vốn thiệt mạnh đầu tư để THÂU TÓM tất cả các công trình xây dựng quan trọng của Việt Nam nhằm đẩy mạnh nợ nần của Cộng Sản Hà Nội vào Trung Quốc. Đó là chưa kể Trung Quốc đang từng bước gia tăng đầu tư để thâu tóm luôn cả những công ty Việt Nam. Trung Quốc hy vọng thông qua nỗ lực này, Hà Nội sẽ hết đường cựa quậy vì bị trói chặt tay chân trong nợ nần và đã để mất kiểm soát các dự án kinh tế quốc gia vào tay Trung Quốc.

Tính đến ngày 5 tháng 12 năm 2014 thì 15 công trình nhiệt điện trong hai mươi công trình trọng yếu đã hoàn toàn do Trung Quốc đấu thầu thi công. Điều này cho thấy nếu giới BẢY CHỊ EM không hành động gấp rút, thì toàn bộ ngành điện của Việt Nam chẳng mấy chốc hoàn toàn do Trung Quốc khống chế. Nếu Trung Quốc khống chế về ngành điện thì coi như nền quốc phòng lẫn kinh tế của Việt Nam sẽ bị Trung Quốc thao túng kiểm soát và làm tê liệt dễ dàng nếu Hà Nội trái ý với Bắc Kinh.

ExxonMobil được cho là đã có phản ứng đáp trả để quân bình sự khống chế của Trung Quốc lên ngành điện Việt Nam bằng một số vốn đầu tư lên đến 20 tỷ Mỹ kim cho nhà máy nhiệt điện kỹ thuật hiện đại ở Quãng Ngãi. Chevron cũng theo bước ExxonMobil với gần 7 tỷ Mỹ kim cho dự án nhiệt điện của công ty mình tại Việt Nam
Inline image
Như vậy , hai công ty Chevron và ExonMobil , thành viên quan trọng của giới “BẢY CHỊ EM” đã có gần 27 tỷ Mỹ kim đầu về nhiệt điện tại Việt Nam. Điều này đã làm cho Trung Quốc bị đuối hơi hoàn toàn với tổng số vốn đầu tư chỉ lên đến …2,3 tỷ Mỹ kim vào năm 2013. Chính Hà Nội cũng choáng váng trước sức mạnh tài chánh của giới “BẢY CHỊ EM.”

Việc Hoa Kỳ liên tục khẳng định mình sẽ là quốc gia đầu tư nhiều nhất tại Việt Nam trong 20 năm tới, thậm chí gia tăng quỹ viện trợ hiện đại hóa cơ sở hạ tầng cho Việt Nam thông qua World Bank, đã cứu Hà Nội ra khỏi sự khống chế về kinh tế của Trung Quốc. Lần hồi, sức mạnh tư bản của Hoa Kỳ và nhất là của giới “BẢY CHỊ EM” sẽ đánh gục sức ép kinh tế của Trung Quốc lên Việt Nam.

Không những vậy, Hoa Kỳ đang gia tăng sự bảo vệ kinh tế cho Việt Nam trước ảnh huởng kinh tế của Tung Quốc bằng cách thúc đẩy những cuộc đối thoại tiến đến việc Việt Nam có cơ hội tham gia hiệp ước Đối Tác Thuong Mại Châu Á Thái Bình Dương Trans- Pacific- Partnership ( TPP)

Đi bằng ngả kinh tế không xong, về mặt chính trị, Trung Quốc thuờng xuyên gia tăng thuyết phục Cộng Sản Hà Nội về tính an toàn chính trị vì rõ ràng dân tộc Hoa Kỳ áp đặt những giá trị căn bản về nhân quyền lên giới “BẢY CHỊ EM” rất mạnh. Sự thuyết phục này có tác dụng vô cùng hữu hiệu khiến Cộng Sản Hà Nội đã lưỡng lự rất lâu tạo điều kiện thuận lợi cho Trung Quốc cũng cố sức mạnh quân sự của mình tại biển Đông tại biển Đông cũng như có khả năng tìm thêm đồng minh để chống chọi lại áp lực của “BẢY CHỊ EM.”

Giới “BẢY CHỊ EM” đã phải đối phó sự thuyết phục này từ Trung Quốc bằng hàng loạt các chuyến ngoại giao con thoi mềm dẻo của các vị chức sắc trong Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và đặc biệt, là mời ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng sang thăm Hoa Kỳ để nghe Hoa Kỳ lý giải về những hậu quả dành cho Đảng Cộng Sản Hà Nội nếu làm Hoa Kỳ thất vọng trong tiến trình ngoại giao song phương.

Về quân sự, TQ liên tục gia tăng kiến tạo các tiền tồn không hải sát xuống quần đảo Trường Sa nhằm cũng cố sự hiện diên quân sự của mình để hộ tống sự vận chuyển dầu hỏa cũng như đe dọa trực tiếp lên giới “BẢY CHỊ EM” đang khai thác ngoài khơi Việt Nam, với hy vọng giới “BẢY CHỊ EM” thấy quá tốn kém khó khăn trở ngại trước mắt mà bỏ cuộc.

Inline image

Giới “BẢY CHỊ EM” đương nhiên là hiểu thấu mưu tính sâu xa của Trung Quốc, hơn nữa, đối thủ đang ra sức tướt quyền kiểm soát hay cố chia sẻ quyền kiểm soát dầu hỏa của giới “BẢY CHỊ EM” chính là Trung Quốc. Nếu để Trung Quốc cứ lấn từng chút một thì về lâu về dài, cuộc đối đầu sẽ càng cam go bất lợi cho giới “BẢY CHỊ EM” hơn là nếu hôm nay, giới “BẢY CHỊ EM” cương quyết siết chặt Trung Quốc ngay từ đầu khi mà khả năng dự trữ dầu hỏa của Trung Quốc chưa vượt quá 200 triệu thùng như hiện nay.

Vì vậy, Hoa Kỳ tiếp tục nỗ lực lôi kéo Hà Nội vào hợp tác chiến lược quân sự mà trong đó, có những chuyến bay bí mật của giới sĩ quan tướng lãnh của Cộng Sản Hà Nội ra ngoài khơi để thăm viếng Hàng Không Mẫu Hạm của Hoa Kỳ, đàm đạo về những chiến lược quân sự hợp tác giữa hai nước trong tương lai. Đó là chưa kể những lần viếng thăm Đà Nẳng Cam Ranh của Hải quân Hoa Kỳ nhằm khẳng định trước Trung Quốc quyết tâm cứng rắn của giới “BẢY CHỊ EM” trong cuộc đối đầu với Trung Quốc về tranh giành ảnh huởng và kiểm soát dầu hỏa.

VI. KẾT:

Sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc hoàn toản lệ thuộc vào sự ổn định nhập khẩu dầu hỏa. Vì vậy, dầu hỏa trở thành yếu huyệt của Trung Quốc nên Trung Quốc cần phải cố gắng có ảnh huởng đến các nước bán dầu cho Trung Quốc nhằm đảm bảo sự nhập khẩu dầu của Trung Quốc không bị gián đoạn.

Tuy nhiên, giới “BẢY CHỊ EM” coi hành động này của Trung Quốc nguy hại đến quyền kiểm soát dầu hỏa độc tôn của mình bấy lâu nay nên gia tăng các hoạt động chính trị quân sự siết chặt yếu huyệt về năng lượng dầu hỏa của Trung Quốc.

Quyết tâm siết chặt và đánh bại tham vọng chia sẻ quyền kiểm soát dầu hỏa thế giới của Trung Quốc là một mục tiêu chiến lược HÀNG ĐẦU của giới “BẢY CHỊ EM.” Mục tiêu này không hề thay đổi hay hủy bỏ cho đến khi Trung Quốc phải thúc thủ về chính trị, quân sự và đầu hàng tuyệt đối giới “BẢY CHỊ EM.”

Việt Nam trở thành tiền đồn ngăn cản trực diện Trung Quốc cho giới BẢY CHỊ EM vì nằm trên yếu lộ vận chuyển dầu hỏa và có trữ lượng dầu gần một phần ba của toàn vùng. Trung Quốc cũng vì thế cố tình gia tăng khống chế Cộng Sản Hà Nội về mọi mặt.

Sự giằng co giữa BẢY CHỊ EM và Trung Quốc trên lãnh thổ Việt Nam khiến tương lai chính trị và kinh tế của Việt Nam là hệ lụy của những ảnh huởng sâu rộng từ giới “BẢY CHỊ EM” nhằm giúp Việt Nam thoát khỏi sự kềm hãm thôn tính của Trung Quốc .

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s