Cái chết trên ruộng lúa – 03 – Phật trên lưng cọp


Phật trên lưng cọp

Special Forces của Mỹ chuẩn bị tấn công núi Bà Đen, 1964

Special Forces của Mỹ chuẩn bị tấn công núi Bà Đen, 1964

Nam Kỳ đầu 1946

Ngay khi đoàn xe vừa rời khỏi Sài Gòn và tới những đồn điền cao su của tỉnh láng giềng ở phía tây-bắc, những dấu vết của cuộc chiến tranh du kích đã có thể nhận thấy rõ. Đường trải nhựa bị đào nát bởi những con hào sâu, những con hào mà người nông dân thường xuyên phải đào chúng vào ban đêm dưới sự chỉ huy của các chính ủy đỏ.

Những cái hố đó đều đặn cho tới mức chúng được người Pháp gọi là “phím dương cầm”. Bầu trời ban mai có màu xanh vàng ở hướng Đông. Chúng tôi đi xe về hướng Tây Ninh, và chẳng mấy chốc, ở bên kia của những lá dừa và những cánh đồng lúa vô tận, chúng tôi khám phá ra một ngọn núi đen, đe dọa nhô lên từ đồng bằng bằng phẳng. Ngọn núi đó có tên là “Bà Đen”, và báo hiệu biên giới của Campuchia. Thời đó đã có ai mà đoán trước được rằng đến một ngày nào đó, các lính Mỹ sẽ ngước lên nhìn ngọn “Black Virgin” này như ngước lên nhìn một nữ thần trả thù.

Chúng tôi bỏ xe và con đường lại ở phía sau. Hàng bầy khỉ chạy vút qua trong rừng tre. Mặt trời lên đến đỉnh quá nhanh. Tiếng chim hót chết dần với độ nóng tăng lên. Màu xanh của cây cỏ trở thành đen. Không khí lung linh. Đối với đội Commando, đây là một cuộc hành quân thông thường. Những người lính đi như những hình bóng có thể nhận thấy rõ ràng trên các con đê chia cắt ruộng lúa trần trụi, cho tới khi người ta nhắm bắn họ từ ở đâu đó. Có rất ít nguy hiểm, các du kích quân Việt Nam thời đầu được trang bị vũ khí rất nghèo nàn và được đào tạo còn tồi tệ hơn nữa. Người Pháp chỉ có tổn thất khi thành viên của “Kempeitai”, hiến binh Nhật, những người bị truy lùng ở Sài Gòn như những kẻ phạm tội chiến tranh, tiếp sức và chỉ huy quân nổi dậy. Cuộc hành quân đã kéo dài nhiều giờ rồi, di chuyển trong một vòng cung bán nguyệt quanh “Núi Bà Đen” đến biên giới Campuchia. Ruộng lúa đã bị mặt trời đốt thành gạch cứng như đá. Như trong cơn sốt mê man, những người đàn ông trong đội Commando nhìn xuống các đường nứt trong đất bùn và mẫu hình không đều đặn của gốc cây khô. Mồ hôi chảy vào mắt gây xót. Vài tiếng súng phát ra từ một ngôi nhà nằm ẩn trong tre. Những người Pháp xác định phương hướng, cắm lưỡi lê lên những khẩu tiểu liên Sten loại đã được rút ngắn để đánh giáp lá cà, rồi vừa bắn từ ngang hông vừa xung phong về phía bụi rậm đó. Vài bóng người chạy vụt qua ruộng lúa, sa vào trong loạt đạn của khẩu liên thanh hạng nhẹ đã vào vị trí, và ngã xuống.

Chúng tôi tiến đến gần người chết. Đó là một hình ảnh thật đáng thương: những con búp bê vàng nhỏ bé với tứ chi vặn vẹo. Những khẩu súng Lebel đã lỗi thời của họ nằm bên cạnh họ giống như những món đồ chơi. Những đôi chân gân guốc gầy còm lòi ra từ chiếc quần ngắn. Không thể nói là đồng phục, nhưng trên chiếc áo màu đen của mình, họ đã may mảnh vải đỏ với ngôi sao vàng đó lên, biểu tượng cho cuộc cách mạng Đông Dương. Tức là những người đã tử trận này không phải là thành viên của giáo phái Cao Đài kỳ lạ đó, những người sở hữu ngôi đền thánh khoa trương của họ ở Tây Ninh và cũng chiến đấu chống lại người Pháp, mà là du kích quân của Việt Minh, mặt trận giải phóng Việt Nam đó của cộng sản mà từ bây giờ trở đi dưới những tên gọi thay đổi sẽ làm cho công chúng thế giới ngẹt thở ba mươi năm dài.

Người dân các làng lân cận đã bỏ trốn khi những người lính xa lạ kia đến gần. Đó là những căn nhà khiêm tốn hình chữ nhật. Trang bị đồ đạc chỉ gồm một cái giường gỗ rộng và một vài chiếc chiếu. Nhưng không ở đâu lại thiếu bàn thờ tổ tiên. Những ngôi nhà nhỏ nghèo nàn này hết sức ngăn nắp và sạch sẽ. Một người châu Âu cũng có thể sống ở đây. Những người lính đổ đầy bi đông nước của họ từ những vại sành to mà trước nhà nào cũng có. Nước có bùn và âm ấm. Thật không có gì đáng phải ngạc nhiên khi ngày càng có nhiều người mắc bệnh lỵ amíp. Người ta châm lửa đốt trước khi tiếp tục hành quân. Một que diêm là đã đủ, mái nhà bằng rơm cháy rực lửa. Những con trâu mà nông dân bỏ lại lúc chạy trốn bị bắn chết. Cả một đền thờ Cao Đài nhỏ cũng bị đốt cháy. Tôi còn có thể nhìn lần cuối xuyên qua làn khói vào đến cái bàn đơn sơ, nơi các thánh của tôn giáo pha trộn lộn xộn này được đặt thành hàng ở trên đó. Tôi để ý đến một ông phật nhỏ bằng đất, bụng to, giơ bàn tay nhỏ bé lên với một nụ cười tinh ranh và cưỡi trên một con cọp trong lúc đó.

Trong lần tập kích kế tiếp, đội Commando bị tổn thất một chết và hai bị thương. Đổi lại, xác chết của mười du kích quân đỏ trôi trong làn nước hôi thối của con kênh nước tưới ruộng. Cuộc họp bàn về tình hình được tiến hành trong một ngôi nhà tương đối lớn. Đại tá Ponchardier, được những người lính của ông gọi là “Pasha”, bực tức. Đây không phải là một cuộc chiến tranh được ông ưa thích. Người đàn ông thấp người chắc nịch, có dáng như một người bắt bóng chày, đã có lần cùng với đội đặc biệt của mình thực tập nhảy dù xuống Singapore chung với Special Air Service của Anh. Cuộc chiến chống du kích quân ở Nam Kỳ không phải là một việc có thể thay thế được cho chuyện đó. Người ta không thể phân biệt được Ponchardier với những người lính của ông ấy, khi ông ở trần ngồi trên chiếc nón dã chiến của ông, khẩu tiểu liên bao giờ cũng nằm trong tầm tay. Ông đeo một cái kèn ô tô cũ kỹ ở thắt lưng, cái mà ông thỉnh thoảng lại để cho nó kêu thé lên trong lúc hành quân, giống như những người khác thổi kèn tập họp. “Pasha” với đơn vị nhỏ bao gồm 150 người của ông đứng trực tiếp dưới quyền của tổng chỉ huy Pháp ở Đông Dương. Lính của ông chỉ chào sĩ quan riêng của mình và nhìn ít nhiều khinh thường xuống các trung đoàn còn lại của quân đoàn viễn chinh, những người đã theo họ đến Sài Gòn.

Là sĩ quan trẻ, Ponchadier đã gia nhập “Người Pháp Tự do” của de Gaulle ngay từ năm 1940 và trong thời gian bị chiếm đóng đã cùng với người anh em Dominique của ông, người trông hết sức giống ông, thành lập tổ chức kháng chiến “Sosias” trong bí mật. Nhờ một lần ném bom có chủ định trước củaRoyal Air Force mà ông đã giải phóng được những người của Résistance bị bắt giam trong nhà tù của Gestapo ở Amiens. Người anh em Dominique đã ghi chép lại các hoạt động nửa anh hùng nửa bất lương của cặp đôi kỳ lạ này trong quyển sách “Đá lót đường của địa ngục”, và đã mô tả lại cảm giác kỳ lạ mà người sếp của một nhóm bí mật đã trải qua khi lần đầu tiên phải dùng tay không bóp cổ cho tới chết một kẻ phản bội ở ngay trong hàng ngũ của mình. Vài năm sau khi chiến dịch Algeria kết thúc, Pierre Ponchardier, là đô đốc – vì xuất thân từ phi công của hải quân –, đã tử nạn vì rơi máy bay trên Senegal. Dominique ngược lại thăng tiến lên đến chức đại sứ ở Bolivia và cao ủy ở Djibouti. Nhưng cái mà ông ấy xem như là thành công lớn nhất của mình thì lại là lần xuất bản loạt sách gián điệp về những cuộc phiêu lưu của “Khỉ Đột”. Con “Khỉ Đột”, có lần de Gaulle đã nói như thế khi ông ấy tiếp đãi người đại sứ của mình, hẳn chính là Dominique.

Đội Commando của Ponchardier bị xem như là một nhóm thô lỗ của những kẻ thích phiêu lưu mạo hiểm và dân du côn. Nhưng trong số đó cũng có cả những đứa con trai ngoan ngoãn từ những gia đình được cho là tốt, những người muốn chạy trốn sự chật hẹp của môi trường trung lưu của họ. Không thiếu những người độc đáo: một chuyên gia về Trung Quốc với một con đại bàng khổng lồ xăm trên ngực, kẻ biết kể những mẩu chuyện thú vị nhất về các thiên tử; hai tên ranh mãnh từ Paris, có vẻ như xuất phát từ giới ma cô và là những người mà người ta tin rằng họ sẽ thực thi quyền được cướp của, người ta cho rằng đội Comando có quyền đó trong những vùng đang có giao tranh; một vài chiến sĩ đơn độc của cơ quan tình báo DGER, sau khi Nhật đầu hàng, họ đã nhảy dù xuống những vùng đồi núi của Bắc Kỳ và đã tìm thấy ở đó những đống đổ nát mất tinh thần của đạo quân Đông Dương cũ của Pháp, cái mà trong Đệ nhị thế chiến đã tuyên bố theo Pétain và trong tháng 3 năm 1945, khi họ vào giờ chót lại muốn liên kết với phe Đồng Minh, đã bị lính Nhật Hoàng đánh tan mà chẳng khó nhọc gì. Các tỉnh ở ngoài rìa và các sắc tộc thiểu số của Grande Nation có nhiều đại diện: người Alsace và Corse, người Breton và Basque. Người ta khó lòng mà tưởng tượng được, rằng sau khi hết động viên, những người đàn ông này sẽ tìm về cuộc sống dân sự bình thường như thế nào. Ngay đối với “Pasha”, họ cũng đáng nghi ngại phần nào. “Lần tới đây nếu như tôi thành lập một đội lính”, có lần ông ấy đã lầm bầm nói như thế, “thì tôi sẽ chọn những đứa ngoan ngoãn và đáng tin cậy. Về lâu dài thì chúng can đảm hơn và dẻo dai hơn là những thằng lưu manh hay nhanh chóng mất tinh thần.”

Các sĩ quan của Commando đã có những số phận hết sức khác nhau. Tôi gặp lại đại úy Quilici, người trông giống như một Bandit d’honneur người Corse, hai mươi năm sau đó ở Tchad như là đại tá nhảy dù của Thủy Quân Lục Chiến [Parachutistes d’Infanterie de Marien – lực lượng đặc nhiệm của Pháp], nơi ông đang thanh tra các ốc đảo ở phía bắc trong sa mạc Tibesti và Ennedi. Trung úy Augustin, người ngay thời đó đã là hiện thân của một nhà tu, như thường hay gặp trong giới sĩ quan Pháp – ở đây, thanh kiếm với bình đựng nước thánh có thể ngoái nhìn lại những liên kết hết sức xưa cũ –, sau thảm họa Algérie đã quay lưng lại với quân đội và đã từ bỏ ánh hào quang của vũ khí để làm một thầy dòng trong một tu viện dòng Đa Minh. Đại úy Trinquier có con đường sự nghiệp bất ngờ nhất, người đã phục vụ trong bộ binh thuộc địa ở nhượng địa Pháp tại Thượng Hải, trước khi đến với nhóm lính của Ponchardier. “Pasha” ít có cảm tình với người đàn ông điển trai kiểu Địa Trung Hải, quá thanh lịch này, người ngay trong rừng rậm Đông Dương cũng đi lại với một cái khăn lụa quàng cổ và nổi bật với cách ăn nói lịch sự. Thời đó, không ai nghĩ rằng trong giai đoạn cuối của cuộc Chiến tranh Viễn Đông của Pháp, Trinquier đã tổ chức các tổ kháng chiến của nhóm người dân tộc Mèo theo Pháp ở phía sau chiến tuyến của Việt Minh hay trong Chiến dịch Bắc Phi ông ấy đã nhận nhiệm vụ triệt tiêu khủng bố không thương xót trong Kasbah của Algier. Cuối cùng, sau cú đảo chính của các tướng lĩnh chống lại de Gaulle và sau khi rời khỏi quân đội, có một thời gian ngắn ông ấy còn là tổng chỉ huy của quân đội Kantaga, phục vụ cho tổng thống Moise Tshombe.

Trên đường tiếp tục hành quân, chúng tôi bất ngờ bắt gặp một nhóm nông dân người Camphuchia. Họ nối đuôi nhau tiến đến. Có thể nhận ra họ là người Khmer qua làn da sẫm màu, ở mái tóc xoăn và ở xà rông mà họ quấn quanh hông. Khi nhìn thấy lính Pháp, họ quỳ xuống và chắp tay lại với nhau theo một cử chỉ khuất phục xưa cũ. Chúng tôi đã đến vùng làng mạc Campuchia. Nhà dọc theo các dòng nước được dựng trên cột. Cả phong cảnh ở đây cũng thay đổi. Đồng ruộng ở đây được thống trị bởi những cây báng đứng đơn độc, bị gió thổi rối tung. Ở làng kế đến, nhiều người Campuchia khỏe mạnh được tuyển mộ làm phu khuân vác. Họ thích làm việc cho người Pháp khi vấn đề là giết những kẻ thù lâu đời của họ, người Việt. Trong trận đánh, họ nhanh chóng vượt qua được nỗi hoảng sợ đầu tiên của họ và lúc nào có bắn nhau thì cũng đều mừng rỡ như trẻ con.

Lực lượng Commando Parachutiste Ponchardier trên Rue Catinat, Sài Gòn, ngày 30 tháng 19 năm 1945Lực lượng Commando Parachutiste Ponchardier trên Rue Catinat, Sài Gòn, ngày 30 tháng 19 năm 1945

Với những lỗ châu mai, thành lũy và tháp của nó, pháo đài cũ của Pháp ở Tây Ninh nằm – nhìn từ xa – giống như một món đồ chơi trong mặt trời về chiều. Nó xuất phát từ thời đầu của cuộc thuộc địa hóa, khi những người Pháp đầu tiên xâm chiếm ở Nam Kỳ còn phải chống lại cướp sông. Màn chống muỗi được giăng ra trên những cái giường xếp. Bóng tối đến bất chợt, và màn đêm oi bức dính da. Những người lính ăn khẩu phần của họ. Rượu vang đỏ được lấy ra từ ở đâu đó. Người ta ồn ào trong những công sự của cái pháo đài xưa cũ. Vào buổi chiều đã có một nhóm cảnh sát chính trị đặc biệt từ Sài Gòn đến, phần nhiều là người Âu Á. Họ đã hỏi cung tù binh. Đã có tra tấn trong lúc đó, như chúng tôi nghe được lúc đến pháo đài. Người ta nhúng đầu của các nghi phạm vào trong một cái thùng nước cho tới khi họ chịu cung khai. Đó được gọi là la baignoire – bồn tắm. La gégène, cực hình bằng điện nhờ vào một cái máy phát điện nhỏ, thời đó vẫn còn chưa thông dụng ở Đông Dương. Nhưng những người Á, người ta nói thế, có những biện pháp tinh xảo và đáng sợ để bắt những kẻ cứng đầu cũng phải nói. Đau khổ cho những người Âu nào còn sống mà lọt vào tay của du kích quân! Chúng tôi đã nhiều lần thấy xác chết người Pháp trôi nổi trên sông nước của Nam Kỳ mà tinh hoàn của họ bị nhét vào mồm và đã bị đóng cọc xuyên qua người bằng một cây tre. Trong khi nhóm lính làm ồn ào và đòi gái Campuchia, những nhóm tiền đồn hai người hay ba người đóng ở rìa của khu rừng. Trong sự đơn độc nguy hiểm này, sự hoang dã dường như đầy những tiếng ồn của thế giới động vật. Một con côn trùng càng nhỏ thì lại càng gây ra nhiều tiếng động. Trong lúc đó có những cái gì đó chạy vụt qua và kêu sột soạt. Một cuộc săn đuổi và giết nhau không thương xót đang diễn ra trong thiên nhiên về đêm. Chỉ có nỗi lo sợ phải xấu hổ là ngăn chận những người lính đang đóng ở bên ngoài bắn bừa vào cái thế giới xung quanh đang kêu lách cách, rì rì và ken két đó, thế giới mà người ta không nghe thấy được những người do thám của quân địch có thể đang bò tới trong sự che chở của nó.

Trong một căn phòng trong tháp, các sĩ quan đánh giá thông tin do một nhân viên tình báo từ Sài Gòn vừa trình bày cho họ. Người chuyên viên của Phòng Nhì là một người lai người Hoa, với một khuôn mặt chim, rình rập. Ông đã đóng phần chính trong các cuộc tra tấn. Người Pháp đã đánh mất phần lớn những ảo tưởng mà họ đã quay trở lại Đông Dương cùng với chúng vào lúc ban đầu. Thời đó, các đặc phái viên của de Gaulle – một phần còn trước khi Nhật Bản đầu hàng – đã nhảy dù xuống những vùng nổi dậy của người dân bản xứ, vì ở Paris người ta tin rằng các du kích quân chống Nhật sẽ chào đón họ như bè bạn và người giải phóng. Phần lớn những con người liều lĩnh đó đã bị giết chết rất nhanh chóng dưới những cực hình đáng sợ. Những người sống sót – theo thủ tướng sau này Pierre Messmer – phải mừng là các du kích quân đỏ đã nhốt họ lại trong cũi tre, nơi họ phải chịu dựng sự phỉ nhổ của người dân và bị ném trứng thối.

Người đàn ông của Phòng Nhì nói về một thay đổi trong tình hình chính trị ở Tây Ninh. Vào lúc ban đầu, đạo quân viễn chinh còn tìm kẻ thù chính ở Đông Dương trong các giáo phái và các nhóm người thỏa hiệp với người Nhật và hy vọng được độc lập nhờ vào lòng khoan dung của Nhật Hoàng. Ở các tỉnh quanh Tây Ninh thì đó trước hết là giáo phái pha trộn Cao Đài với một triệu rưỡi người. Ở đồng bằng sông Cửu Long, ở rìa của những cánh đồng lau sậy, thì là phong trào của các chiến binh phật tử Hòa Hảo, có tròn 600.000 người theo đạo. Nhưng mới đây, những người tôn giáo quá khích rối rắm này, sở hữu lực lượng dân quân có khả năng chiến đấu, nhìn thấy họ bị đe dọa bởi lần trỗi dậy của mặt trận cách mạng đỏ của Việt Minh. Họ phản ứng với sự thù địch mang tính bản năng chống lại hệ tư tưởng duy vật của các cán bộ cộng sản, những người với sự nhiệt tình của một tông đồ đã xúi giục người nông dân nổi dậy, và ngay từ bây giờ đã tìm cách hòa hoãn với thế lực thuộc địa trước đây, dưới điều kiện là người Pháp sẽ tôn trọng quyền tự trị của Cao Đài và Hòa Hảo. Từ bây giờ thì đã rõ, rằng các giáo phái này có thể sẽ trở thành những đồng minh quý giá, vì dường như chỉ riêng họ mới sở hữu được động lực tinh thần không thể thiếu được để đứng vững trước làn sóng tấn công ý thức hệ của chủ nghĩa cộng sản.

Phe chống cộng sản của chủ nghĩa dân tộc Việt Nam vẫn còn nhìn thấy trước mắt mình cảnh tượng đáng thương hại của hoàng đế An Nam, Bảo Đại, nghĩa là “Người gìn giữ cái lớn”, người trong tháng 4 năm 1945 đã được người Nhật tuyên bố trở thành người đứng đầu của một vương quốc Việt Nam độc lập và trong lúc đó đã dựa trên đảng Đại Việt thân Nhật và các quan lại ở Huế. Bảo Đại, năm 1925 trở thành hoàng đế lúc mười hai tuổi, chỉ có thể tự khẳng định mình được một vài tuần trước người dẫn đầu du kích quân có chòm râu dê đó từ vùng Bắc Kỳ ở phương Bắc, người dưới cái tên Hồ Chí Minh đã tuyên bố thành lập nước “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Hồ Chí Minh không phải là kẻ xa lạ đối với các cơ quan mật vụ Pháp. Ông ấy đến Pháp như là một người thợ rửa ảnh trẻ tuổi và ngay từ năm 1920 đã có mặt trong lúc thành lập Đảng Cộng sản Pháp ở Tours như là một đồng chí từ Viễn Đông. Sau đó, ông đi qua trường lớp của Đệ Tam Quốc tế trước khi bắt đầu cuộc đấu tranh chống người Nhật trong Đệ nhị thế chiến từ ở biên giới Nam Trung Quốc với một nhóm nhỏ những người trung thành. Trong thời gian đó, điều ngược đời là Hồ Chí Minh còn hưởng được sự trợ giúp của mật vụ Mỹ OSS đóng ở tỉnh lỵ Trung Quốc Côn Minh và giúp đỡ Việt Minh, phong trào tập hợp quốc gia của những người cộng sản Việt Nam, với vũ khí và tiền bạc.

Trong những ngày đó, “Pasha” vẫn còn hy vọng rằng đội Commando của ông ấy có thể sẽ được triệu tập để thực hiện những hoạt động lớn lao. Trong nửa phần phía Nam của Đông Dương, qua một chiến dịch, quân đội viễn chinh Pháp đã có thể đứng vững được nhờ vào lòng rộng lượng của Anh quốc. Nhưng ở phía Bắc của vĩ tuyến 16 – ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và ở Bắc Lào –, theo như trong Hiệp định Potsdam quy định, được giao trách nhiệm tước vũ khí người Nhật là quân lính Trung Quốc của Tưởng Giới Thạch, các sư đoàn của Quốc Dân Đảng. Họ đã đứng vững như là thế lực chiếm đóng mới, và rõ ràng là hoàn toàn không hề nghĩ đến việc trao trả lần chinh phục bất ngờ này lại cho các ông chủ thuộc địa Pháp ngày xưa. Nếu như theo ý muốn của Roosevelt, người kiên quyết chống chính sách thuộc địa một cách mơ mộng, thì lẽ ra đã không còn có một người lính Pháp nào được phép quay trở lại Đông Dương. Nhưng Roosevelt đã chết khi Nhật hoàng đầu hàng, và người Anh rất muốn nhìn thấy người Pháp và người Hà Lam bấu chặt vào các sở hữu trước kia của họ, những cái mà người Nhật đã để lại trong loạn lạc và lộn xộn. Có lẽ họ cần phải hướng cơn bão của chủ nghĩa dân tộc châu Á đến một vùng đệm ở Đông Dương và Indonesia mà trong sự bảo vệ của vùng đệm này, Liên hiệp Anh – trong con mắt của người Pháp vẫn còn là “nước Anh xảo trá” – bắt đầu tiến hành chính sách Thịnh vượng Chung tự do và có tầm nhìn xa của mình trên tiểu lục địa Ấn Độ.

Vào sáng sớm có một cơn mưa đến bất ngờ. Độ ẩm đã được mặt trời hút lấy khi tôi đi đến thánh đường của những người Cao Đài, một tòa nhà màu vàng khổng lồ theo kiểu của một nhà thờ Pháp. Vào giờ này, rừng rậm trên sườn núi dốc của “Bà Đen” óng ánh trong màu xanh đậm. Việc bình thường hóa hẳn đã tiến xa hơn là chúng tôi dự đoán vào lúc ban đầu, vì thánh đường này đã đầy hơn nửa vào lúc làm lễ ban sáng. Giáo hoàng của giáo phái Cao Đài đã chạy trốn sang Thái Lan, nhưng phần lớn giáo sĩ của ông ấy – thuộc vào trong số đó là một hội đồng giáo chủ và nhiều giám mục – vẫn ở lại tại chỗ, không bị người Pháp gây khó dễ và đang tiến hành những nghi lễ kỳ lạ của mình trong gian chính khổng lồ, giống như một đại sảnh của thánh đường. Từ ở nơi đó, ở nơi mà trong một nhà thờ Công giáo là nơi của bệ thờ, có một con mắt khổng lồ nhìn từ một tam giác có hào quang bao quanh xuống cộng đồng tín ngưỡng. Các giáo sĩ tùy theo cấp bậc mà phủ kín người với quần áo lụa màu xanh, đỏ và vàng, những cái chấm dứt với cái mũ trùm đầu nhọn của Ku-Klux-Klan. Người theo đạo bình thường mặc quần áo màu trắng. Tiếng cầu kinh rì rầm làm cho người ta nhớ tới tiếng cầu nguyện của Kitô giáo và tiếng tụng kinh của Phật giáo. Những người theo đạo liên tục quỳ xuống và tiếng cồng chiêng vang lên không ngưng. Khói nhang bay lên đến tận con mắt huyền bí đó. Tôn giáo pha trộn kỳ lạ của Cao Đài không nhiều tuổi hơn là thế kỷ 20. Thuộc trong số các thánh của họ, những người được sùng kính đặc biệt, là Đức Phật, Khổng Tử, Giê-xu và … nhà thơ người Pháp Victor Hugo. Ở cổng vào thánh đường, các nhà tiên tri này của đạo Cao Đài được mô tả qua những bức tượng đắp nổi nhiều màu chất phác. Khách tham quan người Pháp đặc biệt buồn cười về tượng mô tả Victor Hugo, người rõ ràng vì thông điệp nhân đạo của mình như là tác giả của “Những Người Khốn Khổ” mà đã được nhận vào điện thờ các thần này. Tôi có xúc cảm nhiều nhất là ở việc cái đầu râu trong số ba người của Académicien này trông giống bức chân dung được lưu truyền lại của Karl Marx hết sức. Về cơ bản thì không có lý do gì để chế diễu cả. Những lần thành lập tôn giáo đều luôn gắn liền với những điều kỳ lạ. Đạo Cao Đài chắc chắn không phải là một hiện tượng dài lâu. Nhưng trong sự cống hiến cuồng tín của nó, trong sự tìm kiếm những mô hình xa lạ, trong hoạt động vì quốc gia của nó, trong mối liên quan nào đó, nó cũng tương tự như cái tôn giáo ý thức hệ bí mật và kiên quyết đó của những người cộng sản Việt Nam, đã giành lấy được một phần của quyền lực về cho họ ở Hà Nội, và môn đồ của nó ở đồng bằng sông Cửu Long đã ngày một nhiều hơn.

Bên trong Thánh đường của đạo Cao ĐàiBên trong Thánh đường của đạo Cao Đài

Người Pháp tin là đã hiểu được người An Nam của họ. Ở Nam Kỳ đã có cả một lớp tư sản địa phương thành hình, đã tiếp nhận ngôn ngữ và lối sống Pháp, còn nhận được cả quốc tịch Pháp nữa, bác sĩ, luật sư, chủ đồn điền. Nhưng sống dưới tầng lớp tinh hoa này là một dân tộc mà nhiều nhất là chỉ có những nhà dân tộc học của Ecole d’Extrême-Orient và những nhà truyền đạo nào đó hiểu biết. Các “nhà quê” này, những người nông dân trồng lúa này, như họ bị gọi một cách khinh rẻ, chỉ được sử dụng như là lính dẫn ngựa trong Đệ nhất thế chiến vì người ta cho rằng họ không có khả năng quân sự. Những kẻ được gọi là chuyên gia Đông Dương, các old hands, những kẻ ngu đần không chịu mở mắt của chủ nghĩa thực dân được gọi một cách kính nể bằng một từ anglo-saxon như thế, đã kể lại cho những người lính mới đến của đạo quân viễn chinh, rằng dân An Nam không bao giờ chiến đấu trong bóng đêm, vì sợ ma, “Ba Cui” và sợ cọp. Chẳng bao lâu sau đó, người ta nhận ra rằng sống ở Việt Nam là chủng tộc chiến binh kiên cường nhất châu Á, và rằng màn đêm thật ra mới chính là môi trường của họ.

Dấu ở dưới sự kỳ lạ của một giáo phái thường là một cốt lõi chính trị nghiêm chỉnh chết người. Sau này chúng tôi sẽ gặp gỡ giáo xứ kỳ lạ của “Thánh Cây Dừa” ở tại một nhánh của sông Cửu Long. Một doanh nhân gù người An Nam bất chợt có ý tưởng thành lập một tôn giáo mới do Thượng Đế giao phó. Ông thường ngồi thiền trên một cây dừa. Người gù này đã hết sức nhanh chóng tập họp được một cộng đồng tín ngưỡng quanh mình, tiến hành những nghi thức thờ cúng kỳ lạ, tuân theo các quy định khổ hạnh và mặc những chiếc áo choàng màu nâu. Vì nhà tiên tri của mình, người không thể nằm ngữa ngủ được vì thân thể tật nguyền của mình, nên các môn đồ đều nằm ngủ nghiên. Thánh địa chính của họ nằm trên khu nhà sàn trên dòng nước, nhưng chẳng bao lâu sau đó, các đền thờ được trang trí hoa mỹ của họ lan đến tận ngoại ô Sài Gòn.

Có một trái địa cầu khổng lồ gây sự chú ý của tôi, cái mà họ đã dựng lên trên một cái bệ ở giữa sông. Trên quả địa cầu đó, nước Việt Nam ngày nay được thể hiện quá khổ và trải dài ở rìa Thái Bình Dương từ Kamchatka cho tới Úc. Sự thể hiện đất nước quê hương như thế này có ý nghĩa gì, tôi hỏi một người già ngoan đạo, người với bảy chòm râu của mình trông giống như một ông thánh của đạo Lão. Ông thầy tu trả lời bằng tiếng Pháp trong trẻo đến mức đáng kinh ngạc: “Khi nào nước Việt Nam tái thống nhất và tự do – Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ dưới một quốc gia –, thì chúng tôi sẽ to lớn và hùng cường như quả địa cầu đó mô tả.” Rằng sự ấp ủ tôn giáo trong đất nước bị chia cắt này loan báo trước sự xuất hiện của một thời đại mới, một con người Việt Nam mới, việc đó thì không có một nhân viên hành chính hay một sĩ quan thuộc địa Pháp nào hiểu được kịp thời. Nhưng vào thời bắt đầu Công Nguyên, có một thống đốc hay một sĩ quan binh đoàn La Mã nào trong tỉnh Syria mà lại linh cảm rằng các sự kiện huyền bí trong dân tộc Do Thái sẽ khởi đầu cho sự chấm dứt đế chế của họ và thay đổi toàn bộ nhận thức của thế giới Cổ đại đâu.

Trước khi đội Commando trở về nơi thường trú của họ trong một ngôi nhà dòng họ của người Hoa trên Boulevard Galliéni [Đường Trần Hưng Đạo] ở nửa đường vào Chợ Lớn, đoàn xe bị kẹt lại bởi một dòng tuần hành bất thường. Trong hàng ba, nhưng không có vũ khí, một đoàn dài những người lính của tất cả các binh chủng – sĩ quan đi đầu – bước đều bước qua đường phố nội thành Sài Gòn. Chúng tôi hỏi người đứng xem là đang xảy ra việc gì. Một nhóm nhỏ người Pháp chống chiến tranh và những người phe tả chống chế độ thuộc địa, người ta nói thế, đã phân phát tài liệu yêu cầu nước Pháp rút khỏi Đông Dương và lên án đoàn quân viễn chinh, rằng thay vì honneur et patri, danh dự và tổ quốc, họ đã viếthonneur et profit, danh dự và lợi nhuận, lên lá cờ của họ. Hãng in nhỏ của “Nhóm Thất bại Chủ nghĩa” này đã bị những người biểu tình thuộc quân đội đập cho tan tành. Bây giờ người ta đồng thanh hô to trên Rue Catinat: “De Gaulle au pouvoir!” – “De Gaulle lên nắm quyền!” Trong tháng Giêng năm 1946, Tướng de Gaulle bất ngờ đã từ bỏ chức vụ của ông như là người đứng đầu chính phủ lâm thời của Pháp. Qua đó, ông muốn phản đối những cuộc tranh cãi đảng phái tái xuất hiện và phản đối sự tan rã nội bộ của Pháp, và đã bực tức lui về ngôi nhà nông thôn của ông ở Colombey-les-Deux-Eglises. Quân đội Đông Dương, mà nguyên tố de Gaulle hiện diện mạnh ở trong đó, bất chợt cảm thấy mình mồ côi, nhất là khi các đảng phái cánh tả của Pháp bắt đầu hoạt động chống lại chiến dịch ở Viễn Đông. Không chỉ những người có cảm tình với Đảng Cộng sản Pháp là đứng rõ ràng ở bên phía của những người Việt dân tộc chủ nghĩa. “De Gaulle lên nắm quyền!” còn vang lên thêm vài lần nữa. Rồi một đội quân cảnh cũng gửi được những người biểu tình đó trở về doanh trại của họ mà không cần phải tốn nhiều công sức. Còn phải mười hai năm nữa, trước khi cũng tiếng gọi đó –được một đám đông người nắm bắt lấy trên diễn đàn Algérie – sẽ khởi đầu cho lần lật đổ nền Đệ tứ Cộng hòa.

https://phanba.wordpress.com/cai-chet-tren-ruong-lua/

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s