Mao Trạch Đông: Khởi hành vào một kỷ nguyên mới: 1940 – 1954: cải tạo Xã hội Chủ nghĩa (2)


Khởi hành vào một kỷ nguyên mới

1940 – 1954: cải tạo Xã hội Chủ nghĩa (2)

Năm 1950, công nhân hứa với Mao trong một bức thư rằng họ sẵn sàng sản xuất nhiều hàng hóa hơn nữa trong nhà máy của họ. Ảnh: GEO EPOCHE

Năm 1950, công nhân hứa với Mao trong một bức thư rằng họ sẵn sàng sản xuất nhiều hàng hóa hơn nữa trong nhà máy của họ. Ảnh: GEO EPOCHE

Gesa Gottschalk

Phan Ba dịch từ chuyên san lịch sử “Trung Quốc của Mao Trạch Đông” do GEO EPOCHE xuất bản

TRONG TOÀN TRUNG QUỐC, trong vòng ba năm sau khi chiến thắng cuộc nội chiến, chế độ mới đã cung cấp cho 1,2 triệu người dân qua giúp đỡ từ thiện, tạo khoảng 680.000 việc làm mới cho những người thất nghiệp, ăn xin, cựu mãi dâm và tội phạm, chu cấp cho 110.000 người khuyết tật, người nghèo và trẻ mồ côi: toàn những người mà hầu như không một chính phủ nào trước đây đã quan tâm đến.

Ngoài ra, Đảng còn kêu gọi một nhóm dân cư to lớn mà cho tới nay lúc nào cũng bị phớt lờ đi trong lịch sử của Trung Quốc: những người phụ nữ. Ngay sau khi thành lập nước Cộng  hòa Nhân dân, họ đã nhận được những quyền chưa từng bao giờ biết đến trước đây. Bây giờ, họ bình quyền với những người đàn ông, họ được phép ly dị, hôn nhân cưỡng ép bị cấm. Từ bây giờ trở đi, phụ nữ không những được phép làm việc – họ còn được kêu gọi một cách rõ ràng nữa.

Nhưng muốn mang những người phụ nữ nội trợ đi vào nhà máy thì phải lấy bớt những gánh nặng truyền thống của họ. Và vì vậy mà đã thành hình, được nhà nước chi tiền, nhà trẻ và căng tin. Cho tới năm 1952, tỷ lệ phụ nữ trong số công nhân viên của các nhà máy quốc doanh tăng lên đến khoảng 12%, thêm 41% phụ nữ nữa đã đăng ký tìm việc làm.

Dần dần, chính phủ thành lập một bảo hiểm sức khỏe và hưu trí rộng khắp, cái lần đầu tiên  mang lại một sự bảo vệ về vật chất cho hàng triệu người công nhân trong các doanh nghiệp của nhà nước.

Nhưng ở Thiên Tân, sếp của các phường hội – bây giờ thường bị cảnh sát phê bình, giảng dạy và cảnh cáo, nhưng vẫn chưa bị bắt – không dễ dàng chịu mất quyền lực của họ. Họ cho người đánh đập những người phu dám gia nhập công đoàn, cố làm cho các cán bộ sợ hãi bằng cách đe dọa dùng bạo lực và còn cho người quẳng lựu đạn vào một gian sảnh của những người thuộc công đoàn nữa.

Đồng thời họ tiến hành một cuộc chiến tranh giá cả chống công ty vận tải và sử dụng những quan hệ cũ với các nhân viên nhà nước để phá rối các kế hoạch của chính phủ bằng thông tin sai lầm. Nhưng công ty này có ưu thế hơn: công ty có thể chào mời giá thấp hơn là giá của phường hội và tuy vậy vẫn trả tiền nhiều hơn cho những người làm phu.

Cuối cùng, nhiều sếp phường hội quyết định thâm nhập vào trong công đoàn mới. Họ mặc quần áo cũ, ngụy trang như công nhân bình thường, rồi xin được phép gian nhập.

Và quả thật: sau một vài tháng, họ đã giành lại được quyền lực cũ và lại moi tiền chủ nhà máy và thương gia. Nhóm gangster này chiếm giữ các vị trí có trách nhiệm trong những nhóm tại chỗ của công đoàn cũng như trong công ty vận tải, họ lại tôn trọng các lãnh địa cũ. Những người cảnh sát đi tuần cũng là những người trước khi người Cộng sản tiếp nhận quyền lực, và họ vẫn còn nhận đút lót như trước đó.

“THỜI KỲ VÀNG SON”, có những sử gia nào đó sẽ gọi thời kỳ này như thế, thời kỳ – ít nhất là trong các thành phố: ôn hòa – đầu tiên sau chiến thắng của những người Cộng sản mà trong đó các cán bộ của Mao nhờ vào những cải cách xã hội của họ đã thành công trong việc tranh thủ được sự tin tưởng của nhiều phần lớn người dân.

Và điều đó không chỉ trong các thành phố lớn như Thiên Tân, Bắc Kinh hay Thượng Hải. Ở thôn quê, nơi sinh sống của tròn 90% người dân, tình cảnh không thay đổi từ nhiều thế kỷ nay đã bị đảo lộn trong thời gian ngắn nhất.

Những người Cộng sản biết rõ tất cả các vấn đề hàng ngày của người dân làng từ những thập niên của cuộc nội chiến: ruộng đất của họ thường là quá nhỏ và thường rất khó tiếp cận, các phương pháp trồng trọt lạc hậu – sản lượng trên một hecta của nông dân trồng lúa ở Nam Trung Quốc từ thế kỷ 17 chỉ tăng thêm có 7%.

Thêm vào đó, nhiều nông dân bị đè nặng bởi tiền tô thuế cao. Vì ruộng đất được phân chia không đồng đều: tròn 40% diện tích được sử dụng nằm trong tay của một tầng lớp địa chủ nhỏ và nông dân “giàu”, chưa tới 10% dân số ở nông thôn.

Ngay từ những năm cuối cùng của cuộc nội chiến, ĐCS đã bắt đầu chia lại ruộng đất trong ranh giới của những vùng đất là căn cứ của họ.

Bây giờ, với lần ban hành một đạo luật cải cách đất đai, cuộc cải cách ruộng đất được mở rộng ra phần Trung Quốc còn lại bắt đầu từ tháng 6 năm 1950.

Trước hết là những người nông dân nghèo, cho tới nay không có ruộng đất, được hưởng lợi từ việc này – lần đầu tiên, họ trở thành ông chủ của các thủa ruộng mà họ đang cày.

Tuy vậy, ở nông thôn Đảng Cộng sản đã tiến hành một cách khắc nghiệt và tàn bạo hơn là ở thành thị nhiều. Vì đối với các cán bộ, cuộc cải cách ruộng đất mang tầm quan trọng hơn đơn thuần là một trật tự sở hữu mới rất nhiều. Ngay từ đầu, Mao cũng đã nhìn mục đích của nó ở cả trong lần đập tan giới tinh hoa truyền thống ở nông thôn.

Và lần tước quyền lực của những người đấy chẳng bao lâu sau đó đã trở nên một sự việc ồn ào đẫm máu: ở khắp nơi trong Trung Quốc, người dân tụ họp lại trên các khán đài – thường bị xúi giục bởi những người Cộng sản khích động –, để phán xét về những “kẻ đàn áp” lúc trước.

Trong lúc đó, thường người ta không dừng lại ở lần tước quyền sở hữu: những người nông dân đáng đập, tra tấn, giết chết các địa chủ. Hàng loạt những người vô sản trước kia đã trở thành những kẻ đồng phạm của Mao trong “Trung Quốc mới”: con số những người địa chủ đã chết được ước lượng ở khoảng 5 triệu người.

Thế nhưng công cuộc xây dựng Chủ nghĩa Xã hội thật sự thì Đảng Cộng sản lại cũng tạm thời hoãn lại ở nông thôn – cũng như trong thành phố, chờ xem: những người nông dân nhận được giấy chứng nhận sở hữu chính thức từ ủy ban hành chính làng, họ quyết định và tự chịu trách nhiệm về việc trồng trọt trên các cánh đồng của họ, được phép cho thuê và bán đất.

Nhưng thời gian mà trong đó nền kinh tế tư nhân được hỗ trợ kéo dài không lâu. Giới lãnh đạo Đảng, những người vào lúc đầu còn cho rằng doanh nghiệp nhà nước sẽ đẩy lùi dần dần kinh tế tư nhân theo một cách tự nhiên, buộc phải khẳng định rằng sự phát triển đó đã không xảy ra: nhiều doanh nghiệp tự do hưởng lợi từ tăng trưởng nhiều hơn là các nhà máy quốc doanh do các cán bộ lãnh đạo. Vì các nhà máy này thường làm việc không kinh tế, phung phí nguyên liệu và có quá nhiều công nhân.

Vì thế mà đã có nhiều chiến dịch để tăng năng suất trong khu vực nhà nước và đồng thời kìm hãm khu vực tư nhân.

Các luật lệ do tân chính phủ ban hành hầu như không được ghi lại nên quan tòa này phải giải thích tường tận phán xét của ông ấy. Ảnh: GEO EPOCHE

Các luật lệ do tân chính phủ ban hành hầu như không được ghi lại nên quan tòa này phải giải thích tường tận phán xét của ông ấy. Ảnh: GEO EPOCHE

Cuối năm 1951, Đảng phát động “Chiến dịch ba chống”, đầu 1952 một “Chiến dịch năm chống”: chiến dịch đầu hướng đến tham nhũng, phung phí và lạm dụng quyền hạn của những kẻ quan liêu; chiến dịch thứ nhì chống hối lộ, trốn thuế, trộm cắp tài sản nhà nước, thực hiện sai lầm các nhiệm vụ của nhà nước cũng như lạm dụng dữ liệu nhà nước cho các mục đích tư nhân bời các doanh nhân.

Đối với những người dẫn đầu trong công nghiệp cũng như các tiểu thương, điều đấy có nghĩa là: bị phỉ báng công khai, thuế tăng rất cao và những món tiền phạt cao đến một cách vô lý. Chỉ trong vòng vài tháng, một vài ngành đã suy sụp. Bây giờ, nhiều doanh nghiệp phải dựa vào các hợp đồng với nhà nước và vì thế mà ít nhiều đã trở thành nhân viên của nhà nước.

Vào ngày 24 tháng 9 năm 1952, Mao Trạch Đông tuyên bố trong một bài diễn văn: 15 năm tới, kinh tế tư nhân sẽ không còn tồn tại trong hìnhh thức cũ nữa.

Nó trở thành “đường lối” mới, các thị trường cần phải được kiểm soát toàn bộ, sản xuất và thương mại do nhà nước chỉ đạo.

Năm 1953, kế hoạch năm năm đầu tiên thành hình: công cụ điều khiển kinh điển của những nền kinh tế Xã hội Chủ nghĩa.

Trên thực tế, đấy chính là sự kết thúc cho tất cả các doanh nhân tư, vì từ bây giờ trở đi không còn một ai có thể tự do quyết định bán hay mua cái gì, vào lúc nào và với giá nào – một phần, nhà nước ngày càng chiếm tỷ lệ nhiều hơn, một phần thì các nhà máy trở thành hợp tác xã. Cho tới năm 1956, kinh tế tư nhân gẩn như đã tan biến hoàn toàn. Chỉ còn 0,5% người dân ở thành thị là nhân viên của tư nhân.

Ở nông thôn, nông dân cũng được quy tụ lại trong các hợp tác xã ngày càng rộng lớn hơn trong nhiều bước. Họ mất đất của họ, trâu bò của họ và sự độc lập của họ.

Ở THIÊN TÂN, quyền lực của Thanh Bang đã bị phá vỡ từ lâu.

Ngay trong mùa Thu năm 1950, Đảng đã đưa ra chiến dịch đầu tiên của một loạt dài các chiến dịch chính trị: chống “những kẻ phản cách  mạng”. Cán bộ Đảng nhận chỉ thị từ Bắc Kinh, hãy “tử hình” một vài kẻ thù, “bắt giam một vài và quản thúc tại gia một vài”. Cần phải theo dõi các thành viên trước kia của Quốc Dân Đảng, “những kẻ tội phạm”, những người đứng đầu các giáo phái và “những kẻ phản bội”. Xếp ai vào các nhóm này, đó là công việc của các cán bộ tại địa phương.

Chỉ duy nhất một lời nhắc nhở từ Trung Ương: “Đừng sợ khi phải hành quyết. Chỉ sợ là hành quyết nhầm người.” Mục đích đã rõ: lay động và khủng bố. Qua đó, các cán bộ có thể tự do theo dõi mọi đối thủ.

Điều đấy đã tạo ra một làn sóng bắt bớ và hành quyết. Nhiều triệu người dân đã bị hỏi cung, nhiều người biến mất vào trong những trại giam mới được thiết lập ở những vùng biên cương của Trung Quốc mà trong đó họ cần phải được “giáo dục lại” qua cưỡng bức lao động và liên lục tuyên truyền hệ tư tưởng. Hơn 800.000 người (theo các ước đoán khác là hai triệu) cuối cùng đã đứng trước đao phủ của mình – nhiều hơn là nhà độc tài Xô viết Stalin đã cho hành quyết trong những năm 1930 rất nhiều, vào thời làn sóng truy nã lớn nhất của ông ấy.

Ở Thiên Tân, các cán bộ cũng chọn những người sếp của Thanh Bang để làm mục tiêu cho cuộc khủng bố của họ.

Vào ngày 29 tháng 3 năm 1951, hơn 15000 người đã tập họp lại: thành viên của các ủy ban tỉnh và thành phố mà trong đó tất cả các nhóm người xã hội đều có đại diện, đại diện của các đảng dân chủ, đại biểu từ nhà máy và trường học. Sự kiện này được truyền thanh qua radio.

Người dân từ khắp nơi trong thành phố lắng nghe viên bí thư Đảng Cộng sản và người thị trưởng của Thiên Tân mắng nhiếc các tổ chức bí mật. Những người trong buổi họp nhất trí thông qua một “quyết định cương quyết chống lại các phần tử phản cách mạng.”

Trước đó, người ta đã dẫn 193 của các “phần tử” này ra trước họ, trong số đó là các sếp cao cấp của Thanh Bang, đã bị bắt giam trong những tháng trước đó. Các cơ quan an ninh đã xây dựng một mạng lưới mật thám từ lâu, cái đã cung cấp cho họ nhiều thông tin hậu trường. Các nạn nhân trước đây trong đám đông lên án các hành động của những “kẻ phản cách mạng”.

Hai ngày sau đó, cảnh sát bắn chết tất cả 193 người đó. Thanh Bang không còn tồn tại nữa.

Gesa Gottschalk

Phan Ba dịch

https://phanba.wordpress.com/trung-qu%E1%BB%91c-c%E1%BB%A7a-mao-tr%E1%BA%A1ch-dong/

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s