Mao Trạch Đông: Sự điên khùng của một bạo chúa (2)


Sự điên khùng của một bạo chúa (2)

1958 – 1961: “Đại nhảy vọt”

Inline image 7

Để thực hiện Chủ nghĩa Cộng sản ở nông thôn, nhà nước quy gộp tất cả nông dân vào trong những công xả khổng lồ. Sỡ hữu đất đai và trâu bò tư nhân bị bãi bỏ, ngay đến xoong nồi nấu ăn cũng bị tịch thu. Người trưởng nhòm sản xuất quyết định về công việc làm của những người nông dân thuộc trong tổ của mình. Ảnh: GEO Epoche.

KHÔNG CHỈ TRÊN ĐỒNG RUỘNG là xảy ra cuộc đấu tranh vì tương lai của Trung Quốc. Ai muốn so mình với các quốc gia công nghiệp đều phải cần đến thép. Trong vòng 15 năm, sản xuất cần phải tăng lên gấp tám lần; trong đó, trước hết là giới nông dân phải làm sao cho ý muốn của Mao được thỏa mãn.

Những ai trong số đàn ông của Judong mà không làm việc ở đập nước thì phải đi lên núi để thu nhặt đá cho một lò thô sơ dùng luyện thép, những cái bây giờ thành hình ở khắp nơi trong Trung Quốc. Ở những nơi không có mỏ sắt, nông dân quẳng tất cả những gì mà họ tìm được vào trong lò như là nguyên liệu: xoong nồi, cày, xe đạp, sắt phế liệu. Năm 1958, tổng cộng có 140.000 tấn dụng cụ nông nghiệp đã bị nấu chảy ra trong tỉnh Hà Nam. Để giữ được ngọn lửa, người nông dân đốt cả bàn ghế và kèo nhà. Rừng rậm cũng trở thành nạn nhân của chiến dịch thép, từ đấy đất không còn gì để bảo vệ trước mưa gió nữa.

Nhưng trong nhiều tỉnh, hơn hai phần ba lượng thép được sản xuất như thế lại có chất lượng thấp: không thể sản xuất cả xe máy cày lẫn máy bơm hay cái cày từ đó.

Trong mùa Thu năm 1958, một năm của những chiến dịch không ngừng nghỉ mới chấm dứt. Bây giờ, các dự đoán phải được thực hiện. Thế nhưng nhiều thiết bị đã bị nấu chảy, nhiều người đàn ông vẫn còn ở trên các công trình xây dựng. Cây trồng đã chết vì chúng được trồng quá sâu hay quá gần nhau. Côn trùng tấn công đồng ruộng, vì những kẻ thù tự nhiên của chúng, chim sẻ, đã bị xua đuổi cho tới chết.

Thế nhưng Đảng cứ cương quyết buộc phải thực hiện những con số trong kế hoạch đã báo cáo. Và chính người nông dân Hà Nam thì lại hầu như không thể hy vọng được nhân nhượng.

Cả mùa Hè qua, họ đã nghe tuyên truyền chống lại người cựu lãnh đạo tỉnh Pan Fusheng. Người này ngay từ năm 1957 đã phê bình việc tập thể hóa là quá vội vã và yêu cầu trừng phạt những cán bộ nào đánh chết nông dân. Ông ấy cũng chỉ thực hiện có giới hạn một “Chiến dịch chống khuynh hữu”, vì ông ấy lo ngại cho mùa màng.

Giờ đây, Pan đã bị cho thôi chức vụ – và người kế nghiệp ông ấy Wu Zhipu muốn chứng tỏ lòng trung thành của mình, bằng cách thực hiện cuộc Đại Nhảy Vọt một cách hết sức cực đoan tại Hà Nam. Ông ấy hăm hở theo dõi những người được cho là “hữu khuynh” trong tỉnh của mình, qua đó dấy lên một bầu không khí của sự sợ hãi. Không ai còn dám nói đến việc cung cấp không tốt hay về các dự đoán quá mức. Trong lúc đó, không ai dối trá các thành tích sản xuất táo tợn như Wu Zhipu.

Qua đó, Hà Nam trở thành tỉnh gương mẫu, được báo chí ca ngợi, và chính quyền của nó được Mao ưa thích. Wu gắn kết số phận của mình với cuộc Đại Nhảy Vọt – với những hậu quả chết người cho nông dân tỉnh Hà Nam.

Vào cuối mùa Hè 1958, Mao dự định rằng Trung Quốc sẽ có được một vụ thu hoạch kỷ lục. Trong những chuyến đi xuyên qua đất nước, ông ấy đã nhìn thấy những đống ngũ cốc ở cạnh đường, những cánh đồng lúa xanh tươi, xa ngút tầm mắt. Có lẽ ông ấy đã không nhận ra, rằng nông dân đã tuân theo mệnh lệnh của cán bộ mà trồng lại cây dọc theo tuyến đường đi của ông ấy, rằng vì ông mà họ đã đổ đống lúa mì ở ven đường – chứ không phải vì kho chứa đã đầy. Ông chủ tịch dường như hạnh phúc. Ông ấy phấn khởi khuyên nông dân nên ăn năm lần trong ngày và trong tương lai nên trồng trọt ít đi. Giới lãnh đạo Đảng đã thật sự bỏ hoang đồng ruộng trong những năm sau đó ở khắp nơi, để giảm tải cho các kho dự trữ.

Thế nhưng vụ thu hoạch kỷ lục đã không đến.

Người nông dân phải đưa cho nhà nước phần ngũ cốc thừa. Nhưng Đảng đã tính toán phần thừa này dựa trên những con số sai lầm. Và không nơi nào khác trong Trung Quốc mà chúng lại không đúng nhiều như ở Hà Nam, thay vì 35 triệu tấn ngũ cốc theo dự đoán chỉ thu hoạch được có 12,5 triệu tấn.

Inline image 6

Các công xã nông nghiệp của Trung Quốc phải đạt được những chỉ tiêu sản xuất ngày càng cao hơn. Vì sợ bị trừng phạt nên các trưởng nhóm thường báo cáo vượt chỉ tiêu, trong khi người dân thực ra là đói ăn. Ảnh: GEO Epoche.

Judong không thể hoàn thành kế hoạch. Hầu như không còn ngũ cốc trong làng nữa. Người nông dân phải tự bào chữa hàng giờ liền trước các cán bộ trong những buổi “họp kiểm điểm”, ngày này qua ngày khác. Họ bị trói lại và bị đe dọa. Có lần Wu Tiancheng đã phải đứng bảy ngày liên tục, cho tới khi ông ấy nhận rằng có ngũ cốc được dấu ở trong làng của ông ấy. Thế nhưng những cái bây giờ được giao đi từ Judong như là “phần thừa” lại là hạt giống cũng như lương thực cho người dân làng.

Người nông dân học cách thuật lại cho các cán bộ những lời nói dối mà họ muốn nghe: chúng tôi sống tốt, chúng tôi có đủ ăn và đủ uống. Thật sự thì Wu Tiancheng phải hạn chế phần ăn trong căn bếp nhân dân. Những ngày dư thừa đã qua rồi. Chẳng bao lâu sau đó, nhà ăn chỉ còn phát cháo – nếu như nói chung là còn chia cái gì đấy – với một cục bột hấp bé tí ở trong đấy.

Để nuôi dưỡng gia đình mình, Wu lấy cắp từ kho dự trữ hay lén ra đồng, đào khoai lang, đốt lửa trong một cái lỗ, nướng những thứ có được và ăn chúng ngay tại chỗ. Những người khác lấy đậu chưa chín từ đồng ruộng, giã nát chúng ra và nấu chúng thành một món xúp bột.

Họ chỉ bí mật nấu những bữa ăn đó: vì khi cán bộ phát hiện ra khói ở đâu đó thì họ sẽ xông vào ngôi nhà đó và tịch thu tất cả những thứ có thể ăn được.

Trong khi nạn đói lan ra trong các làng mạc, giới lãnh đạo Đảng nhìn các con số thu hoạch không đạt được như là một vấn đề về ý thức hệ: người nông dân dấu ngũ cốc vì họ sợ nhận được quá ít lương thực. Sau đấy, tuy Mao đã phê bình những cán bộ quá sốt sắng và ca ngợi tính tinh khôn của nông dân. Nhưng đồng thời ông ấy cũng yêu cầu các cán bộ phải trưng thu cho đến một phần ba vụ mùa. Lại chính là bây giờ, lúc họ ít khi có ít như thế này thì những người nông dân phải giao ra nhiều như chưa từng có. Mao muốn nuôi dưỡng con người trong thành phố và làm tròn các hợp đồng quốc tế của Trung Quốc.

Inline image 5

Tấm áp phích năm 1958 này yêu cầu hãy học tập tấm gương Liên bang Xô viết. Trong năm trước đó, Liên bang Xô viết đã phóng thành công vệ tinh đầu tiên vào vũ trụ, và sếp ĐCS Krrushchev khoe khoang rằng không bao lâu nữa sẽ vượt qua mặt Hoa Kỳ. Sau đấy Mao tuyên bố một cuộc chạy đua để bắt kịp của nước Trung Quốc lạc hậu. Ảnh: GEO Epoche.

Vì nước Cộng hòa Nhân dân đã mua, trước hết là từ nước ngoài xã hội chủ nghĩa: cần cẩu, xe tải, động cơ, máy bơm, máy gặt đập, cả toàn bộ nhà máy thép, nhà máy xi măng, nhà máy lọc dầu, nhà máy điện,

Thế nhưng những người Cộng sản hầu như không có ngoại tệ để trả tiền cho hàng hóa. Thay vào đó, họ tiến hành kinh doanh trao đổi – trước hết là với lương thực thực phẩm: như thịt cho Liên bang Xô viết, gạo và dầu ăn cho Đông Đức.

Giới lãnh đạo quanh Mao cương quyết thực hiện các cam kết của họ, ngay cả khi người dân của chính họ phải trả giá. Nhận định tình hình hoàn toàn sai lầm, các quan chức cao cấp trong Đảng đề nghị giải quyết vấn đề xuất khẩu bằng cách mỗi một người Trung Quốc từ bỏ một vài quả trứng, nửa cân thịt và một ít ngũ cốc.

Bây giờ, có hàng triệu người từ các ngôi làng của những người đang đói ăn ở khắp nơi trong nước bỏ vào thành phố bất chấp lệnh cấm, nhiều người cố gắng bỏ trốn qua biên giới với Miến Điện hay Việt Nam hay chạy đến những tỉnh hẻo lánh. Nông dân vùng Tín Dương nhận được thư từ của họ hàng và bạn bè từ Thanh Hải và Cam Túc. Họ nhận được tiền và những chỉ dẫn cụ thể cho một chuyến bỏ trốn.

Có lẽ là một lá thư như thế đã khiến cho Wu Tiancheng quyết định bỏ Judong ra đi.

Bằng mưu mẹo và trộm cắp, người nông dân trẻ tuổi đó đã mang gia đình của anh ấy qua được mùa Đông. Nhưng anh ấy nhìn thấy sự khốn khó xung quanh mình ngày càng lớn hơn. Anh ấy cần phải làm gì?

Anh ấy có quen biết ở trong tỉnh Thanh Hải tương đối thưa thớt dân cư. Ai làm việc ở đấy sẽ nhận được phần ăn đều đặn. Tin tức đấy chắc hẳn phải giống như những tín hiệu cứu thoát cho Wu. Anh ấy bàn bạc với bạn bè của anh ấy. Thế rồi, trong mùa Xuân 1959, anh ấy dẫn những người đàn ông trẻ thuộc nhóm sản xuất của mình đến tuyến đường sắt.

Inline image 4

Cán bộ Đảng Cộng sản yêu cầu tiến hành những dự án xây dựng ở khắp nơi trong Trung Quốc, để xây đập nước, cung cấp điện hay cải thiện việc tưới nước. Nhưng kế hoạch cho những dự án này thường hay sai lầm, hay chúng tự chứng tỏ mình là vô dụng: đập vỡ, hồ chứa nước ngẽn bùn, tuốc bin bị ngẹt vì bùn. Ảnh: GEO Epoche.

BÂY GIỜ KHẮP NƠI Ở NÔNG THÔN Đảng đã thành lập hàng trăm trạm dân quân mà người chạy trốn bị chặn lại ở đấy, bị bắt giam và rồi thường là lại được chở trở về. Ở Tín Dương, người nông dân đặc biệt chịu nhiều rủi ro: họ gọi dân quân trong vùng cực đoan nhất của tỉnh cực đoan Hà Nam là “đội đánh đập”. Vào lúc nạn đói bắt đầu, giới lãnh đạo đã cho phong tỏa Tín Dương và để cho đánh đập hàng chục ngàn người tỵ nạn cho tới chết.

Nhưng những người đàn ông từ Judong đã thoát qua được và đến được một cao nguyên trong tỉnh Thanh Hải cách đó hơn 1000 kilômét. Ở đó, người ta cần dùng sức lao động của họ, họ khai khẩn đất hoang trong một nông trại nhà nước và nhận được 360 gram ngũ cốc trong ngày cho việc đó.

Nông dân từ khắp nơi trong Trung Quốc kéo đến đây. Ở dưới bầu trời bao la của vùng cao nguyên, họ trao đổi những câu chuyện, không cần phải sợ có cán bộ nghe lén. Wu Tiancheng nghe về nạn đói và sự khốn khó trong tất cả các miền của đất nước: về những người cha người mẹ đã nấu thịt các đứa con đã chết đói của họ, để mà có thể sống sót được.

Cùng lúc đó, giới lãnh đạo Cộng sản của vùng Tín Dương bắt đầu một chiến dịch tàn bạo: họ cho rằng các thành viên công xã đã dấu đi vụ thu hoạch thành công thật sự của họ, để có thể phân phát ngũ cốc nhiều hơn cho chính người của họ. Vì thế, nhiều làng đã đưa ra hạt giống cũng như những phần ngũ cốc cuối cùng của người nông dân.

Người dân ở Hà Nam bây giờ xay nát cùi bắp và làm từ đấy một “viên bột Đại Nhảy Vọt”. Họ ăn vỏ cây và lá cây. Ở một bờ sông, họ dùng đất sét và nghiền nát đá ra để làm “mì sợi” từ đấy.

Chẳng bao lâu sau đó, phần lớn người dân trong Judong đã yếu sức đến mức không thể ra đồng ruộng được nữa. Cơ thể của họ phù lên vì đói. Họ chết, vì đã nuốt những thứ không thể ăn được. Người thân dấu xác chết trong nhà, để nhận khẩu phần của người chết: một cục bột hấp, một cái bánh bằng đậu.

Người nông dân đã biết nạn đói từ những thời trước. Nhưng lần này thì họ không có lối thoát: không ai có dự trữ hay tiết kiệm, họ đã phải đưa ra tất cả cho các công xã nhân dân. Họ không có đất để bán. Họ hầu như không được phép trồng củ cải và khoai, vì ở Bắc Kinh chỉ lượng ngũ cốc là quan trọng. Đảng cấm đi ăn xin cũng như bỏ trốn. Người dân ở Judong chết vì yếu sức: họ quỵ xuống mà không kêu lên được một tiếng. Và đã có nhiều người chết: năm đứa con của bà Liu Xinghong, chồng của bà ấy đã chết vì hậu quả của một cuộc họp kiểm điểm, chết đói. Cả người vợ góa của một “đại địa chủ” cũng chết vì thiếu dinh dưỡng.

Và mặc dù vậy, năm 1959 tỉnh Hà Nam đã cung cấp cho Bắc Kinh hơn 400.000 tấn ngũ cốc. Hơn 1,2 triệu người có thể sống nhờ vào đấy cả một năm trời.

Inline image 3

Năm 1958 không có máy móc hạng nặng để làm việc. Thiếu xe ủi đất và xe xúc đất, người công dân dùng số lượng khổng lồ của họ để bù đắp vào đó: hàng triệu người dùng xẻng đào kênh dẫn nước, xây đập nước hay xúc đi cả một ngọn núi như ở Thiểm Tây. Ảnh: GEO Epoche.

Tháng 7 năm 1959 giới lãnh đạo Đảng họp lại. Vào thời điểm này đã có một triệu người Trung Quốc chết đói. Bây giờ thật ra là cơ hội để chấm dứt xuất khẩu và yêu cầu trợ giúp. Thế nhưng Mao không để cho người khác làm cho mình lúng túng: “Hoàn cảnh hết sức tốt đẹp. Còn nhiều vấn đề, nhưng tương lai của chúng ta xán lạn.”

Bây giờ, sai lầm đáng sợ của Mao trở thành tội phạm lớn nhất của ông ấy.

Chỉ có Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Bành Đức Hoài, được những người thân cận hỗ trợ, là dám nói chống lại người chủ tịch trong một bức thư – với hậu quả tai hại cho ông ấy và cho toàn Trung Quốc. Bành mất chức vụ bộ trưởng của ông ấy, các lãnh đạo ĐCS khác đi theo ý của Mao: ngoại trừ một vài khó khăn, cuộc Đại Nhảy Vọt là một thành công. Trong một nghị quyết, giới lãnh đạo Đảng lên án những người phê bình Mao như là những kẻ hữu khuynh.

Trong những tháng sau đó, hàng ngàn người Cộng sản bị khai trừ ra khỏi Đảng hay bị bắt giam như những “tiểu Bành Đức Hoài”. Cán bộ không còn dám báo cáo nạn đói và số thu hoạch thật sự lên cấp trên.

Đồng thời, dân quân kéo qua làng mạc, đập phá tường, đào hầm lên, đập nát sàn nhà để tìm những dự trữ cuối cùng. Bất cứ những gì tìm thấy được ở nông thôn đều được mang về Bắc Kinh hay Thượng Hải hay về tỉnh Liêu Ninh, trung tâm của công nghiệp nặng. Cán bộ nhận được thêm khẩu phần riêng.

ĐCS, tự gọi mình là đảng cho người nông dân, bảo vệ quyền lực của mình bằng cái chết của hàng triệu người ở nông thôn.

Mãi đến tháng 10 năm 1960, giới lãnh đạo Đảng mới biết đến cách tiến hành dã man của giới lãnh đạo ở Tín Dương và quy mô của nạn đói ở đó. Chỉ riêng trong huyện của công xã mẫu Sputnik, cứ mười người thì có một người chết. Trong toàn vùng có lẽ đã có hơn 2,4 triệu người chết kể từ 1959 – phần lớn chết đói, hàng chục ngàn người bị đánh chết.

Mao gửi 30.000 lính đến Tín Dương, để cho chiếm đóng vùng này, bắt giam giới lãnh đạo, cung cấp lương thực và thuốc men cho người nông dân. Thế nhưng ông ấy vẫn bám chặt vào cuộc Đại Nhảy Vọt: ông ấy quy các diễn tiến trong Tín Dương về cho các thế lực phong kiến, những cái, đầy căm thù Chủ nghĩa Xã hội, đã thâm nhập vào trong Đảng. Và vì thế mà cuộc hành quân của những người lính cũng không mang tên cứu hộ thảm họa mà là “giáo dục cách mạng dân chủ”.

Inline image 1

Trong khi bộ máy tuyên truyền đưa ra những con người hạnh phúc đứng xung quanh Mao thì nạn đói ghê gớm nhất từ trước tới nay đang hoành hành trong Trung Quốc. Và chính người chủ tịch này chịu trách nhiệm cho thảm họa đó: vì ngay khi ông ấy đã biết có người chết hàng loạt, ông ấy cũng vẫn không thay đổi các kế hoạch của mình. Ảnh: GEO Epoche.

TẠI SAO người Chủ tịch lại cứ khăng khăng giữ lấy chiến lược của ông ấy, khi nạn đói trong nước từ lâu đã quá rõ ràng? Cho tới chừng nào mà tài liệu lưu trữ của ĐCS vẫn còn khép kín thì sẽ không có câu trả lời thỏa đáng. Có lẽ ông ấy sợ bị lật đổ. Có lẽ ông ấy lo ngại cho chỗ đứng của ông ấy trong lịch sử Trung Quốc, năm 1956 ông ấy đã theo dõi việc những người Cộng sản Xô viết lên án đường lối của Stalin sau khi người này qua đời như thế nào.

Có lẽ ông ấy vẫn còn tin rằng những hy sinh đấy sẽ mang lại thành quả, rằng Trung Quốc thật sự đứng trước ngưỡng của một quốc gia công nghiệp. Cả một thời gian dài, ông ấy không muốn thừa nhận toàn bộ quy mô của nạn đói.

Chắc chắn rằng: chậm nhất là trong mùa Hè năm 1961, ông ấy cũng không còn có thể nhắm mắt trước thảm họa đấy được nữa. Thành viên của giới lãnh đạo Đảng đã đi xuyên qua đất nước và đã tự mình nhìn thấy lần chết hàng loạt đó. Họ báo cáo tỉ mỉ cho ông. Thêm vào đó, các dự trữ ở Thượng Hải và Bắc Kinh cũng hết dần. Đại Nhảy Vọt đã thất bại – ngay cả khi nó không bao giờ được chính thức tuyên bố chấm dứt.

Sau đấy, Mao lui về phía sau và để cho những người lãnh đạo khác cứu lấy người dân của ông ấy.

Bây giờ, Trung Quốc nhập khẩu ngũ cốc để cung cấp cho những người đang đói ăn. Một đạo luật khẩn cấp lại cho phép người nông dân mướn đất và có việc làm phụ. Được phép họp chợ ở địa phương. Hàng ngàn dự án công nghiệp không hiệu quả được đình chỉ. Bếp nhân dân được bãi bỏ, công xã được thu hẹp lại. Khoảng 25 triệu người Trung Quốc, những người đã trốn vào thành phố, phải trở về làng của họ.

Các chỉ thị mới lan truyền đi nhanh chóng. Trong tỉnh Thanh Hải, Wu Tiancheng và bạn bè của anh ấy nghe nói rằng đất đai được chia lại ở quê hương. Hai năm sau chuyến đi trốn, họ trở về Judong.

Họ về một ngôi làng không còn dân cư. Hẳn phân nửa người dân đã chết. Chỉ một ít trẻ em là sống sót qua cuộc Đại Nhảy Vọt. Và chết chóc vẫn còn chưa chấm dứt. Cứ hai người Trung Quốc chết năm 1963 thì có một người dưới mười tuổi: suy yếu vì đói ăn nhiều năm liền.

Trong tháng 1 năm 1962, 7000 cán bộ họp ở Bắc Kinh. Chủ tịch nước Lưu Thiếu Kỳ, người từng thân cận với Mao, đã dũng cảm nói về sự thất bại của giới lãnh đạo Đảng: “Phải nói rõ rằng trách nhiệm chính cho các khó khăn và lỗi lầm trong công việc của chúng ta trong những năm vừa qua là nằm tại Trung ương Đảng.”

Ông ấy đã tận mắt nhìn thấy sự khốn khó của người nông dân, và ông ấy không đồng ý với đánh giá của Mao, rằng tỷ lệ giữa thất bại và thành công tương ứng với “chỉ một của mười ngón tay.”

“Nói chung thì chắc đấy là ba”, Lưu nói, “và trong vài vùng còn nhiều hơn thế nữa, như trong vùng Tín Dương.” Nhưng Đảng giữ kín quy mô thật sự của nạn đói. Đảng gọi thời gian của cuộc Đại Nhảy Vọt là “ba năm cay đắng”, đổ lỗi, ngoài những điều khác, cho hạn hán và Liên bang Xô viết, nước được cho là cứ khăng khăng buộc Trung Quốc phải thực hiện các hợp đồng của mình ngay cả trong nạn đói.

Nhưng thật sự thì thảm họa này là do con người gây ra: bởi Mao, người đã đích thân quyết định về chiến lược của cuộc Đại Nhảy Vọt, và bởi những cán bộ khác mà trong số đó có nhiều người – từ những thành viên nhiều quyền lực của Ban Chấp hành Trung ương Đảng cho tới cán bộ Đảng đơn giản trong làng – sẵn sàng hy sinh con người cho viễn cảnh  của một Chủ nghĩa Cộng sản Trung Quốc.

Với lời hứa, không để cho người Trung Quốc nào còn phải đói nữa và dẫn dắt đất nước đến một tương lai xán lại, Đảng đã gửi không biết bao nhiêu là người Trung Quốc đi đến cái chết. Phần lớn không được nước ngoài Phương Tây nhận biết, trong vòng ba năm có lẽ đã có 30 triệu người chết trong các làng mạc Trung Quốc. Và không phải tất cả đều chết đói: hàng triệu người bị đánh chết, đâm chết, bắn chết. Không phải bởi một đạo quân thù địch, mà bởi chính người của họ.

Đại Nhảy Vọt là sai lầm lớn nhất của Mao Trạch Đông, tội phạm lớn nhất của ông ấy. Và ông ấy sẽ không quên rằng ai đã dám nói lên sự thật về thảm họa này: Lưu Thiếu Kỳ.

Người đấy, người mà cả một thời gian dài được xem là người thừa kế Mao, sẽ phải trả giá bằng mạng sống của mình cho những lời nói công khai đấy một vài năm sau này. Ông ấy là nạn nhân cuối cùng của 30 triệu nạn nhân mà nhân dân Trung Quốc phải gánh chịu vì sự điên rồ của mỗi một người: vì ý tưởng, rằng người ta có thể quất roi thúc một đất nước đang phát triển nhanh chóng đi vào hiện đại.

Gesa Gottschak

Phan Ba dịch

Giới thiệu tài liệu: Kimberley Ens Manning/Felix Wemheuer (xuất bản), “Eating Bitterness”, University of British Columbia Press: tập hợp những bài viết thể hiện một cách ngắn gọn và đầy đủ các kết quả nghiên cứu mới nhất về từng đề tài riêng lẻ một.

https://phanba.wordpress.com/trung-qu%E1%BB%91c-c%E1%BB%A7a-mao-tr%E1%BA%A1ch-dong/

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s