Cái chết trên ruộng lúa – 07 – Vị linh mục dũng cảm


Vị linh mục dũng cảm

Inline image 1
Giám Mục Lê Hữu Từ. Cholon 3-1950 Chinese nationalist flags flying side by side with French colors in city of Cholon, French Indo China
Phát Diệm, 1951

Nhà thờ đè nặng lên các mái nhà bằng tranh của ngôi làng như những thành trì đồ sộ. Dấu hiệu đặc biệt của tỉnh Phát Diệm là cây thánh giá. Nó là thành trì của Công giáo ở rìa của vịnh Bắc Bộ. Nhóm tháp tùng từ dân quân, có nhiệm vụ bảo vệ chúng tôi trước những cuộc tập kích của Việt Minh, thở phào rõ ràng khi chúng tôi rời khỏi vùng nguy hiểm. Cho tới chừng nào mà lá cờ mới của Việt Nam quốc gia, chống cộng sản, bay trên các thị trấn trong vùng đồng bằng của sông Hồng, và chính phủ của nó vẫn còn hưởng ân sủng của nước Pháp – một lá cờ vàng với ba sọc đỏ nằm ngang – thì người ta phải luôn luôn chuẩn bị tinh thần cho tất cả mọi việc. Lúc trời tối, lá cờ của vua Bảo Đại, người mà người Pháp lại đặt ra đứng đầu nhà nước và cố gắng xây dựng để chống lại Hồ Chí Minh, sẽ được lấy xuống. Vào ban đêm sự thống trị của các chính ủy đỏ bắt đầu. Lần nào cũng vậy, khi có một cử động nào đó trên những con đê thấp thì những người lính gác của chúng tôi đều mở khóa an toàn súng và hồi hộp nhìn vào làn sương mù. Tiếng đại bác dội về từ xa xa.

Nhưng bây giờ thì chúng tôi ở nơi an toàn, từ khi lá cờ vàng-trắng của Vatican bay trên ngôi nhà to lớn của Chúa. Đức Giám mục Lê Hữu Từ của Phát Diệm, mà chúng tôi vừa tới được vùng của ông, là một người đàn ông dũng cảm. Người cộng sản cũng biết điều đó, từ khi người cựu cố vấn của Hồ Chí Minh này rời bỏ những người Mác-xít vô thần. Monseigneur Lê Hữu Từ, thuộc dòng Xi-tô Khổ tu, cũng giữ khoảng cách với người Pháp. Ông là một người Việt yêu nước hoạt động tích cực, luôn cảm nhận một sự ngờ vực sâu sắc đối với các đại diện của chính quyền thuộc địa trước kia. Ông đã có trải nghiệm với các nhân viên của Đệ Tam Cộng hòa, và đầu tiên thì bất cứ một người Pháp nào cũng bị ông nghi ngờ là một người của hội Tam Điểm giả dạng.

Nhà thờ Phát Diệm là một công trình xây dựng cao và đồ sộ cũng như những nhà thờ còn lại của vùng đồng bằng. Nhưng nó được xây hoàn toàn bằng gỗ và được trang trí với nhiều nguyên tố có phong cách Trung Quốc. Người cố vấn cho Lê Hữu Từ, một linh mục  người Bỉ, đang chờ chúng tôi. “Các anh đến đây đúng vào một thời điểm rất lý thú”, đức cha người vùng Flanders nói. “Các anh trải nghiệm ở đây một sự việc giống như một cuộc tranh cãi giữa đạo và đời. Thủ hiến Bắc Kỳ, Nguyễn Hữu Trí thuộc đảng Đại Việt thủ cựu, muốn ép buộc đức giám mục của chúng ta tự giới hạn mình ở những nhiệm vụ tôn giáo của ông và rút lui ra khỏi chính trị.” Một đám đông khổng lồ đứng nghẽn lại trước nhà thờ. Từ ở trên cao, những con người đó với loại nón rơm tròn của họ trông giống như những cây nấm đang tụ tập lại.  Trời mưa từ nhiều ngày nay. Người Công giáo Phát Diệm đứng trong bùn lầy lạnh sâu cho tới mắt cá chân. Lối vào quảng trường lớn trước nhà thờ được những người lính của đức giám mục chận lại. Lê Hữu Từ có lực lượng quân đội nhỏ, riêng của ông, do chính ông chỉ huy và luyện tập theo các quy tắc của Việt Minh dưới lá cờ của Tòa Thánh. Các biện pháp phòng ngừa này là không thừa, vì tại lần rước lễ Mình Máu Thánh Chúa cuối cùng, du kích quân đỏ đã trà trộn vào trong số các tín đồ và đã bất ngờ gây ra một vụ bắn nhau kinh hoàng. Để cứu vãn tình thế, Lê Hữu Từ buộc phải yêu cầu đơn vị Pháp ở kế cận giúp đỡ. Bay phấp phới trên mái nhà của nhà thờ, ở phía dưới lá cờ vàng-trắng với những chiếc chìa khóa của Thánh Phêrô, là màu sắc của nước Việt Nam quốc gia, của Pháp, Hoa Kỳ và Liên hiệp Anh. Người Pháp buồn rầu ghi nhận sự hiện diện của Anglo-Saxon, nhất là khi các chủng sinh trẻ con Việt đều chào mừng mọi người Âu đến đây với một nụ cười tinh ranh trong một thứ tiếng Anh hổ lốn thật kinh khủng. Đứng trước sự suy tàn của nước Pháp, cái mà Lê Hữu Từ cho rằng không thể tránh khỏi, thậm chí còn cảm nhận đó là ý muốn của Chúa Trời nữa, những người Công giáo ở Bắc Kỳ đã nhìn Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ như là những người bảo hộ bất bại của họ trong tương lai.

Lê Hữu Từ bước lên bục ở lối vào giáo đường trong chiếc áo choàng màu trắng của dòng tu. Ông là một người gầy gò và khổ hạnh, có một ngọn lửa thiêng trong đôi mắt. Trong loại hình, ông rất giống người đứng đầu chính phủ sau này của nước Việt Nam cộng sản Phạm Văn Đồng. Các lễ sinh đứng trước ông, giơ cao huy hiệu, mũ tế và rồng. Đức giám mục ban phước cho đám đông đang quỳ xuống bùn. Rồi ông bắt tay các chức sắc và khách. Khi một thiếu tá kỵ binh người Pháp, người đóng vai trò sĩ quan liên lạc ở Phát Diệm, hôn chiếc nhẫn của đức giám mục, thì Julien, người xuất thân từ một gia đình xã hội chủ nghĩa chống giới chức sắc nhà thờ, đã phát sặc vì phẫn nộ. Bên cạnh các linh mục công giáo quay quanh Lê Hữu Từ cũng có một vài chức sắc Phật giáo xuất hiện trong áo màu xám. Họ hòa hợp hết sức tự nhiên vào hình ảnh này. Đức giám mục bước ra trước micro. Những người dân quân ở hai bên cầu thang, đã cầm súng chào dưới chiếc mũ mềm rộng vành, đặt vũ khí xuống. Đám đông người đứng dậy và căng biểu ngữ ra, như họ đã từng học được tại những cuộc biểu tình của Việt Minh.

Ông người Bỉ phiên dịch cho chúng tôi những gì xảy ra tiếp theo sau đó. Monseigneur Lê Hữu Từ giải thích cho giáo phận của ông về tình hình chính trị mới ở Bắc Kỳ. Ông không che dấu sự khinh thường của mình đối với hoàng đế Bảo Đại dã được tái cử vào chức vụ đứng đầu nhà nước. Bảo Đại luôn luôn cúi mình xuống trước kẻ mạnh hơn, dù đó là người Pháp, người Nhật hay người cộng sản thì cũng vậy. Cuối cùng thì ông đã chạy trốn Hồ Chí Minh bằng cách sang Hongkong, đã trở thành một doanh nhân thành đạt và lẽ ra tốt nhất thì cứ ở lại đó. Người chăn chiên của Phát Diệm ngược lại vẫn ở bên cạnh người của ông, ông đã tạm thời liên kết với Hồ Chí Minh từ những lý do về chiến thuật, nhưng luôn luôn lên án tư tưởng Mác-xít. Năm 1949, khi Việt Minh cũng muốn thực hiện chiến lược tiêu thổ kháng chiến của họ ở các tỉnh Công giáo Phát Diệm và Bùi Chu trước người Pháp đang tiến tới, người Công giáo dưới sự lãnh đạo của những người chăn dắt họ đã cầm lấy vũ khí và chấm dứt cơn ác mộng đỏ đó. Nhưng bây giờ thì có những mối nguy hiểm mới đang tiến tới gần họ.

Người Pháp cuối cùng cũng đã chấm dứt trò chơi chia để trị của họ ở Nam Kỳ và bổ nhiệm một người đứng đầu chính phủ cho toàn Việt Nam. Họ chọn lựa người địa chủ Trần Văn Hữu từ Sài Gòn, người bên cạnh quốc tịch Việt Nam cũng sở hữu quốc tịch Pháp, và như là người đại diện đặc trưng cho giới tư sản Nam Kỳ đã gặp phải một sự chống đối quyết liệt ở Bắc Kỳ. Bảo Đại, người nhìn Trần Văn Hữu như là một công cụ của người Pháp, vì vậy mà cũng bổ nhiệm một thủ hiến Bắc Kỳ dường như cũng phù hợp với vùng đất khắc nghiệt này. Chính trị gia đảng Đại Việt Nguyễn Hữu Trí đã bị cảnh sát Pháp chú ý tới lúc trước chiến tranh như là một nhà quốc gia chủ nghĩa hiếu chiến và đã phải chạy trốn sang Trung Quốc. Mới đây, ông ủng hộ một giải pháp tách hoàn toàn Việt Nam ra khỏi Pháp và dựa vào lá bài Mỹ. Lẽ ra ông ấy đã có thể là đối tác lý tưởng của Phương Tây trong cuộc chiến chống chủ nghĩa cộng sản ở châu Á, nếu như đảng Đại Việt của ông là một phong trào quần chúng rộng khắp. Thế nhưng ông chỉ có ít người theo, và các quan lại lao vào những chức vụ béo bở của nền hành chánh mới thì đại đa số không có uy tín trong người dân. Không thể nghi ngờ lòng yêu nước của thủ hiến Trí. Nhưng để thực hiện đường lối độc lập quốc gia và tự khẳng định mình trước những người cộng sản thì ông lại phải dựa vào chính quân đội Pháp đó, quân đội mà ông thích nhất là muốn xua đuổi họ đi. Và bây giờ thì ông lại còn cố gắng sáp nhập giáo phận Phát Diệm vào trong vùng ảnh hưởng nhỏ hẹp của ông và nhân danh một chế độ tập trung quốc gia, cái trong hoàn cảnh này chỉ là một trò khôi hài mà thôi, để mà tước quyền lực của Monseigneur Lê Hữu Từ.

Đức giám mục đóng vai trò bị khuất phục của mình như một diễn viên giàu kinh nghiệm. “Cha sẵn sàng”, ông nói to trong tiếng nói kêu quang quác kỳ lạ của đất nước ông như thế, “tuân theo các chỉ thị của người thủ hiến Hà Nội. Cha sẵn sàng đặt xuống trách nhiệm thế tục cho giáo phận yêu mến của cha và chỉ chăm lo cho các nhiệm vụ chăn dắt các con chiên của cha.” Một làn sóng phản đối cất lên. Đám đông người đó lại quỳ xuống và đồng thanh hét to như đã chuẩn bị trước: “Chúng con không muốn có người cầm quyền xa lạ. Chúng con đi theo đức giám mục của chúng con và xếp mình dưới quyền hạn giám mục của ngài trong mọi việc!” Khi Lê Hữu Từ với gương mặt ửng đỏ giang hai tay ra và ban phước lành, chuông từ tất cả các nhà thờ của đồng bằng đều vang lên, và lực lượng dân quân Phát Diệm bước đi diễu hành trong sự pha trộn từ kèn hiệu của Pháp và cồng chiên Trung Quốc.

Chuyến đi về Hà Nội rất cực nhọc. Đường sá hầu như đã bị những “phím dương cầm” nổi tiếng làm cho hầu như không thể đi lại được. Những cái hố đó phải được xe xúc đất lấp lại vào mỗi buổi sáng. Nằm dưới ghế xe Jeep là những cái bao cát, vỉ Việt Minh đã bắt đầu cài mìn có hệ thống lên tất cả các con đường giao thông. Đó tất nhiên không phải là một cách thức bảo vệ hữu hiệu. Xung quanh vùng đồng bằng và tại tất cả các điểm kiểm soát đều được tích cực xây dựng và pha trộn bê tông. Tướng de Lattre đã ra lệnh thiết lập một chiến tuyến phòng thủ, để ngăn chận các cuộc tập kích của đối thủ đỏ. Các công sự này được xây dựng theo đúng phong cách của tuyến phòng thủ Maginot, việc đã gây ra nhiều lời bình luận mang tính mỉa mai. Các quân nhân bực tức nhất là về những lợi nhuận hết sức tai tiếng mà một số doanh nghiệp Pháp nhất định đã thu được trong vụ này. Các công sự màu xám ngay từ đầu đã có tác động như tín hiệu của một sự suy tàn. Chúng được bảo vệ bằng hàng rào kẽm gai. Việc bảo vệ công sự thường được giao cho các đơn vị thuộc địa da đen. Do người ta nghi ngại rằng “người da đen Senegal” sẽ chạy trốn về ban đêm vì sợ đêm tối và lính du kích nên cứ chiều tối là họ bị nhốt vào trong các công sự của họ. Mãi tới bình minh người ta mới thả họ ra.

Ở gần Hà Đông, chúng tôi gặp một tiểu đoàn của quân đội quốc gia Việt Nam vừa mới được thành lập. Người Pháp coi thường lực lượng này và cũng để cho những đồng minh da vàng biết điều đó. Điều này về phần nó thì lại có hậu quả là những người lính Á châu này phải tự hoài nghi chính mình và ít biểu lộ tính hăng hái chiến đấu. “Anh cứ nhìn đi”, viên đại úy tháp tùng tôi phàn nàn, “thay vì lùng sục đồng lúa, di chuyển trong bùn lầy nhẹ nhàng như những người củng quê của họ bên phía Việt Minh, những người lính quốc gia này luôn luôn đi dạo trên đường lộ và chất đầy vật liệu và vũ khí lên người cho tới mức họ hoàn toàn bất động. Họ nên đi chân trần thay vì mang giày ủng hành quân của chúng tôi.”

Tôi được de Lattre de Tassigny mời ăn tối. Vợ của ông đến Hà Nội, điều được đánh giá như là dấu hiệu cho tiến độ chứng bệnh của ông. Bernard con trai ông, một anh thiếu úy rất trẻ, cũng là khách mời. Vài ngày tới đây, Bernard sẽ hy sinh ở vùng núi Hòa Bình. Cũng có một đại tá người Mỹ hiện diện, to tiếng lan truyền sự lạc quan và tỏ lời khen Madame de Lattre một cách thô thiển, khiến cho vị tướng bực mình thấy rõ. De Lattre không được vui. Cuộc thử nghiệm với thủ hiến Trí đã chứng tỏ là không có lợi. Đặt một kẻ thù của nước Pháp làm thủ hiến Bắc Kỳ thì còn có thể được, nhưng khi người đàn ông này chứng tỏ mình không có khả năng đưa ra một lực lượng ủng hộ mình đáng kể, thì người ta đã đánh cược sai. Vào buổi chiều cùng ngày, Nguyễn Hữu Trí trong cơn mưa phùn quen thuộc của mùa này đã kêu gọi triệu tập một cuộc biểu tình lớn trước nhà hát. Đó là một sự kiện thật đáng để thương hại. Người địa chủ tóc bạc đó, mà gương mặt của ông tiết lộ một nguồn gốc Ấn Độ nào đó, cuối cùng cũng đã thất sủng ở viên cao ủy.

Hai ngày trước đó, de Lattre đã gặp người đứng đầu nhà nước Bảo Đại trên chiếc du thuyền của ông ấy ở tại vịnh Bắc Bộ. Đã rất to tiếng trong lúc đó. Người cựu hoàng đế béo mập được cho là rất thông minh và hoàn toàn không có nét đặc sắc riêng. Ông là con cháu của Gia Long, người đã mang những người Pháp đầu tiên tới Huế, để làm giảm thiểu sự phụ thuộc của ông ấy vào Trung Quốc. De Lattre đã hoài công yêu cầu Bảo Đại hãy cố gắng hết sức mình vì sự thịnh vượng của tổ quốc ông ấy. Nhưng ông đã gặp phải một playboy uể oải, phản ứng với tất cả những lời đề nghị giống như một diva bị xúc phạm. Cuối cùng, theo một nhân chứng người Pháp, ông đã biểu lộ một gương mặt giống như một cu li xe kéo được trả công bằng một tờ tiền có mệnh giá lớn và không chịu đưa ra tiền thối lại.

Viên tướng đã không động đến thức ăn và chỉ uống một ly nước. “Mới đây”, ông bắt đầu như vậy, “tôi đã triệu tập sinh viên Sài Gòn quanh tôi. Tôi đã nói với họ, rằng chúng tôi muốn trao trả mọi quyền hành về quê hương của họ cho họ, nhưng tôi mong chờ ở giới trẻ của đất nước này, đặc biệt là giới tinh hoa trí thức Việt Nam, hãy hoạt động yêu nước. Những người con được hưởng đặc quyền của giới tư sản ở đây không thể cứ mãi mãi trông cậy vào những người con nông dân và công nhân Pháp đang chịu đựng rủi ro để ngăn chận chiến thắng của chủ nghĩa cộng sản châu Á. Tôi đã kêu gọi họ: Messieurs, tôi khinh thường các anh khi các anh cứ tiếp tục theo đuổi những trò tiêu khiển và giải trí của các anh, trong khi người dân của các anh phải chịu đựng khổ nhọc và đang chết dần. Nếu thế thì tôi sẽ kính trọng các anh nhiều hơn rất nhiều, nếu như các anh đi sang phía bên kia và cùng với Việt Minh chiến đấu chống chúng tôi.”

Viễn cảnh cuối cùng của cuộc chiến trong những ngày đó: Theo lời khuyên của de Lattre, tôi đi xe về tỉnh Thái Bình ở cạnh biển. Chiến dịch “Thủy Ngân” đang diễn ra ở đó. Hai trung đoàn thuộc Sư 320 của Việt Minh bị bao vây ở đó, theo các bộ tham mưu tại Hà Nội.

Mây treo nặng nề trên bầu trời xám như chì. Một làn gió lạnh cắt da thịt thổi từ hướng bắc. Các đứa bé, cưỡi trên những con trâu giống như nhân vật Mowgli, có đôi chân tím ngắt vì lạnh. Quân đội của “Liên hiệp Pháp” là một đám quân lính đủ loại. Người Maroc mặc những cái áo djellaba dài có kẻ sọc nâu bằng lông cừu thật dầy. Người Algeria thì có thể nhận được qua những chiếc khăn quấn đầu của họ. Thời đó có ai mà biết được rằng mầm mống cho cuộc cách mạng Algeria cũng đã được gieo xuống tại những cánh đồng lúa này. Người dân vùng Maghreb bị nhiễm virus chủ nghĩa dân tộc ở Đông Dương. Khi một chiếc xe tải được đánh dấu với huy hiệu đỏ-xanh của lực lượng lính lê dương, những câu nói tiếng Đức vẳng sang phía chúng tôi. Có những đơn vị nào đó của bộ binh thuộc địa Pháp đã gồm một phần ba là người Việt. Người ta gọi điều đó là le jaunissement – vàng hóa đạo quân viễn chinh. Người Pháp từ nước mẹ là thiểu số trong tập hợp đủ loại này.

Đừng sá chấm dứt ở bộ chỉ huy tiền phương của Groupe Mobile 10. Bên cạnh đó, một khẩu đội pháo bắn phá trong những khoảng thời gian thất thường. Bộ chỉ huy được đặt trong một ngôi đền thờ. Mặc cho khói thuốc lá dầy đặc, mùi nhang vẫn còn trong không khí. Ở ngoài kia, hai trung đội lính dù tiến đến tuyến đường làng cuối cùng trước biển. Cách xa nhau, họ lội qua nước và thường chìm xuống cho đến tận đầu gối ở giữa những cây lúa màu xanh nhạt. Chỉ có một hỏa lực yếu ớt chống trả lại họ ở rìa làng, cái hoàn toàn câm bặt khi họ tới được những ngôi nhà bằng đất đầu tiên. Lính dù chỉ cho chúng tôi xem những cái hố sâu dưới mặt đất do Việt Minh đào mà nhiều lắm thì chỉ có một đứa bé mười ba tuổi người Âu là có thể chui vào đó được. “Khi chúng tôi lục soát làng mạc thì họ kéo cỏ hay bụi rậm lên che đầu, và thế là chúng tôi có thể đi ngang qua họ hàng giờ liền”, những người lính nói.

Một vài người bị thương nhẹ bước tới chúng tôi từ con đường đất đắp cao. Họ lấm đầy bùn lầy. Ở tại một ngã tư, những người lính dù chỉa súng liên thanh kiểm soát một đoàn người tỵ nạn vô tận, bất thình lình xuất hiện cứ như là họ được dựng dậy từ bùn lầy. Bây giờ dân thường đổ từ khắp mọi hướng về đây. Việt Minh đã đẩy họ vào ô vuông cuối cùng của vòng vây dọc theo bờ biển, để có thể biến mất trong đám đông đó lúc khẩn cấp, và lén thoát được qua phòng tuyến của người Pháp. Các du kích quân của Sư đoàn 320 Việt Minh thế nào thì cũng đã mặc bộ quần áo màu đen của người nông dân trước khi họ thâm nhập vào vùng đồng bằng.

Người Pháp sàn lọc những người đàn ông trẻ tuổi ra. Chẳng bao lâu sau đó, họ tìm thấy các loại giấy tờ đầu tiên: thẻ quân đội, mệnh lệnh trung đoàn, những bài hát chiến đấu ý thức hệ, truyền đơn, hình Hồ Chí Minh, thậm chí một bức ảnh với thống chế Stalin nữa. Thế nhưng vũ khí nằm ở đâu đó trong ruộng lúa. Một chính ủy trung đoàn bị tình cờ phát hiện. Ông bị phát hiện ra trong cái hố dưới mặt đất của ông vì thiết bị dò mìn phản ứng với chiếc đồng hồ đeo tay của ông. Người đàn ông cứ lặng lẽ nhìn u uất ra phía trước và cự tuyệt không khai báo.

Mưa phùn rơi xuống hàng người tỵ nạn vô tận. Vùng Thái Bình là một trong những vùng quá tải dân số nhiều nhất trên toàn thế giới. Đó là một hình ảnh của sự khốn cùng. Khổ cực nhất là những người phụ nữ với con của họ, đã không có gì để ăn từ nhiều ngày nay. Trịnh trọng đi giữa những người phụ nữ nông dân còng lưng là các quan lại trong làng với chòm râu thưa và khăn quấn màu đen của giai cấp họ, các nhà sư Phật giáo trọc đầu và thỉnh thoảng có cả một vị linh mục Công giáo với chiếc mũ thuộc địa và áo linh mục, người dẫn đầu giáo xứ của ông như dẫn đầu một đại đội có kỷ luật. Những con trâu đồ sộ dẫm chân đi bên cạnh đó.

Vào buổi chiều, mặt trời xuyên qua các đám mây và phản chiếu trên đồng ruộng. Giữa những diện tích nước óng ánh và bầu không khí ẩm thấp, những cái dường như chỉ là một nguyên tố, chuỗi màu đen của những người tỵ nạn, bị dồn lại trước một cây cầu, nhìn từ xa trông giống như một chuyến bay tối tăm của những con chim di trú trong một bức họa Trung Hoa phi thực.

https://phanba.wordpress.com/cai-chet-tren-ruong-lua/

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s