Cái chết trên ruộng lúa – 10 – Trên đường đi tìm thời gian đã mất – “Hủy diệt để cứu thoát”


Trên đường đi tìm thời gian đã mất

Inline image 3
PLAINE DES JARRES, PHONSAVAN, LAOS

Lào, thu 1966

“Ở dưới đó là bắt đầu Cánh đồng Chum”, viên phi công nói và chỉ xuống một lòng chảo khổng lồ, được đồi núi viền quanh khắp các hướng. Không nên bay ngang qua Plaine des Jarres này. Người Bắc Việt, những người đã chiếm lấy vị trí chìa khóa chiến lược này ở phía bắc của Lào, mới đây đã có súng phòng không của Nga. “Mới tuần rồi họ đã bắn rơi một chiếc máy bay tư nhân ở gần Tchepone”, viên phi công nói thêm và quay chiếc Cessna của ông sang hướng tây bắc.

Ông có tên là Pierre Mounier và đã từng là hạ sĩ quan phục vụ trong Không quân Pháp. Cùng với một cựu chiến binh khác của cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, ông đã thành lập hãng hàng không bé tí hon này. Mounier hẳn là đã chở tất cả những loại hàng lậu mà người ta có thể nghĩ ra, kể cả thuốc phiện. Chúng tôi mướn chiếc Cessna của ông cho đội quay phim truyền hình của chúng tôi với một giá rẻ tới mức buồn cười, và trong lúc đó có cảm giác là chúng tôi đã tạo cho ông công việc làm thật thà đầu tiên kể từ lâu lắm rồi, và qua đó cũng tạo chứng cớ ngoại phạm cho ông đối với các cơ quan nhà nước. Mounier là một người trầm lặng, đáng tin cậy. Ông sống với một phụ nữ Lào và biết rõ đất nước này như lòng bàn tay của ông.

Chúng tôi đáp xuống trên một cao nguyên đầy cỏ giữa rừng núi. Ở xung quanh là những lán nhà vững chắc bằng tôn, có ăng ten cao. Ở trên đường băng, chúng tôi ngay tức khắc bị các chiến binh Á châu bao xung quanh. Loại chủng tộc này trông quen thuộc đối với tôi. Đó là người Mèo. Thành viên của dân tộc miền núi này trong thời của cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất đã là đồng minh trung thành của người Pháp. Họ đã đến với người Mỹ khi người Bắc Việt trong liên minh với các đơn vị tượng trưng của người cộng sản Lào, cái được gọi là “Pathet Lào”, vượt qua đường phân giới được thỏa thuận năm 1954 và chiếm lĩnh Cánh đồng Chum. Đã có một sự biến đổi đáng kể ở tại các chiến binh Mèo này. Họ mặc quân phục đồng nhất, và đã đổi những khẩu súng kíp của họ để lấy súng tiểu liên mới tinh kiểu M 16. Họ nhận được tiền lương khá nhiều. Lo cung cấp lương thực và đạn dược thường xuyên cho các tiền đồn nằm trên núi hay vị trí cố thủ này là những chiếc máy bay của một công ty được cho là mang tính thương mại và tư nhân, được gọi là “Air America”, cái trên thực tế là công cụ đắc lực của mật vụ Mỹ CIA. Phụ nữ Mèo vẫn còn mặc trang phục đẹp như tranh vẽ của họ. Những vòng bạc nặng quanh cổ và mắt cá thể hiện sự thịnh vượng. “Người Mèo chưa từng bao giờ hạnh phúc như vậy”, Mounier nói. “Từ khi họ chiến đấu bên cạnh người Mỹ, họ không thiếu thứ gì cả. Mỗi người có hai khẩu súng dưới tấm đệm rơm và họ được phép tiến hành chiến tranh tùy thích.” Một nhóm nhỏ người Mỹ mặc thường phục quản lý vị trí chỉ huy trung tâm này của kháng chiến Mèo. Đứng đầu là một người đàn ông cường tráng trong một chiếc áo Hawaii sặc sỡ, biết nói tiếng Lào trôi chảy. “Tên tôi là John”, ông tự giới thiệu một cách đơn giản và nói rằng ông làm việc cho một tổ chức giúp đỡ nhân đạo, hoạt động trước hết là quanh vấn đề dinh dưỡng của các dân tộc miền núi. Ông biết là ông không thể giả vờ điều gì với chúng tôi được. Bên cạnh một chuyên viên vô tuyến và một vài chuyên gia, những người tự biểu lộ mình là thành viên của Special Forces qua kiểu hớt tóc, Crew Cut, cũng có ba phụ nữ Mỹ sống ở vùng đất đầy bí mật này. Một người dạy học cho trẻ em Mèo, người kia giám sát việc phân phát lương thực, người thứ ba quản lý bệnh viện, nơi có một vài chiến binh Mèo bị thương nặng đang nằm ngủ gà gật hết sức bình thản để chờ bình phục hay chờ cái chết đến. Người cô giáo gặp khó khăn nhiều nhất, vì chậm nhất là khi lên mười hai, con trai Mèo mặc quân phục xanh vào, cầm lấy một khẩu súng M 16 và theo cha lên đường chiến đấu.

“Tôi còn phải thanh tra một tiền đồn”, John nói. “Nhưng máy bay của anh và phi công của anh không thể đáp xuống đó được đâu”. Tôi bước vào một chiếc máy bay thể thao bé tí với ông, rồi chúng tôi lượn tròn trên những vực thẳm đen tối vào trong một bức tường sương mù che mất chân trời, mặc dù lúc đó là mùa khô. Chúng tôi hẳn phải ở tại một độ cao trên 2000 mét, khi chiếc máy bay hướng đến những ngôi nhà bằng đất sét của một ngôi làng thật đáng thương. Bây giờ tôi cũng phát hiện ra đường băng sơ khai, được xây giống như một đường dốc để nhảy ski. Lúc đáp xuống, chiếc máy bay hạ cánh thật mạnh và được hãm lại bởi dộ dốc. Khi bay lên, chiếc máy bay lấy tốc độ trên sườn dốc và bắn vào khoảng không như một người nhảy ski. Không phải là hoàn toàn không nguy hiểm.

“Tại đây, chúng tôi ở rìa của Plaine des Jarres và bị Pathet Lào đỏ với chính quy Bắc Việt bao quanh”, John bảo đảm với một nụ cười thật rộng. “Một chủng tộc khác với người Mèo sẽ không chịu đựng được trò chơi mèo với chuột này, vì khả năng hoạt động hàng không của chúng tôi rất có giới hạn trong vùng đất hỗn độn nguyên thủy này.” Tôi phát hiện ra những cánh đồng cây anh túc quen thuộc ở rìa làng. Người Mèo đã không thôi khai thác và bán thuốc phiện. Tin đồn được khăng khăng truyền đi, rằng hãng hàng không “Air America” thuộc vào trong số những nhà chuyên chở đặc quyền của loại ma túy này. Có nhu cầu rất lớn và thật tham lam từ lính Mỹ ở Việt Nam. Tiêu thụ bạch phiến ở đó đã có quy mô của một trận đại dịch. John không muốn nói về đề tài này. “Cuối cùng thì người Mèo cần phải sống”, ông nói ngắn gọn, “còn lúa thì không mọc được ở độ cao này.”

Cuộc chiến ở Lào là một cuộc phiêu lưu lớn. Tuy Mounier nói rằng ở đây chỉ có đánh nhau bằng Thái Cực Quyền thôi. Người Lào không thích hợp để làm lính vì quá chậm chạp và hiền lành. Nhưng hoạt động chiến đấu được những người khác lo cho: từ các chuyên gia của Central Intelligence Agency cùng với đồng minh Mèo của họ ở một bên, từ các trung đoàn đã thâm nhập vào của người Bắc Việt ở phía bên kia, những người cũng tuyển mộ du kích quân trên núi cho các đơn vị của Pathet Lào đỏ. Chủng tộc người Kha, như tên này thố lộ, đã bị người Lào của đồng bằng Mekong đối xử như là nô lệ nhiều thế kỷ liền. Bây giờ thì họ tình nguyện liên kết với các chính ủy từ Hà Nội, những người đã hứa hẹn với họ sự bình đẳng và những điều kiện sống tốt hơn trong một nhà nước Lào xã hội chủ nghĩa của ngày mai.

Không thể nào mà còn phi lý hơn là tình hình ở Lào được nữa. Đứng đầu các nhà cách mạng đỏ là nhân vật đầy ấn tượng của hoàng tử Souphanhouvong, người với cái đầu mèo và bộ râu mép to trông giống như một samurai Đông Nam Á. Với sự giúp đỡ của Nga, phong trào “Neo Lao Haksat” của ông đã xây dựng một mê cung hang động trong vùng núi Sam Neua và Vieng Xai, thậm chí có cả trường giảng dạy cho cán bộ và xưởng sửa chữa ở đó, và qua đó thoát được những trận ném bom của US-Air Force. Souphanouvong cũng được các đối thủ của ông kính trọng. Chỉ sau khi người cộng sản Lào nắm toàn quyền năm 1975 thì mới lộ ra rằng “ông hoàng tử đỏ” chỉ là một tấm bảng hiệu cho các chiến lược gia ở Hà Nội, và người sếp thật sự của Pathet Lào là một quan chức lai Việt, cho tới đó hoàn toàn không được biết tới, Kaysone Phomvihane, người đã biến quê hương của ông thành một nhà nước chư hầu của nước Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Trong lúc đó, Thủ tướng Souvanna Phouma ngự tại Vientiane, cả ông cũng là một hoàng tử và là anh em cùng cha khác mẹ với đối thủ đỏ của ông. Souvanna Phouma là một nhà quý tộc mập mạp có học thức cao và phong cách lịch sự. Vào lúc đầu, như là người của phe trung lập, ông được bổ nhiệm đứng đầu chính phủ và xem nước Pháp như là tổ quốc thứ hai của ông. Người Pháp, mà sau lần ngưng bắn năm 1954 đã được trao cho nhiệm vụ đào tạo quân đội Hoàng gia Lào, đã mất dần thế đứng mà không thể xoay chuyển được. Sau khi một nhóm nhỏ thuộc phe trung lập của Đại tá Kong Lê anh dũng tan rã tại những trận đánh quanh Cánh đồng Chum, hai trăm nhà hướng dẫn quân đội người Pháp chỉ còn đóng vai trò phụ. Trong trại của họ ở Vientiane, họ đã mời chúng tôi đến dự một buổi tiệc chiêu đãi kỷ niệm lần ngưng bắn năm 1918. Các sĩ quan Pháp đến dự trong quân phục trắng. Viên thiếu tướng chỉ huy chào mừng con số đông quan khách người Lào, trong đó tất nhiên là cũng có hoàng tử Souvanna Phouma. Đó là một sự kiện hoài cổ.

Các thỏa thuận ban đầu về việc trung lập hóa Lào, còn do Kennedy và Khrushchev thương lượng, đã vỡ tan như bong bóng xà phòng từ khi tình hình ở Việt Nam bắt đầu sôi sục thật sự. Souvanna Phouma đã hoài công cố gắng giữ vững đường lối một lực lượng thứ ba của ông. Nhưng ở Vientiane và trước hết là trong tình Champassak hết sức bảo thủ và phong kiến ở phía nam, ông phải tính trước với các âm mưu và cố gắng lật đổ của các lãnh chúa phong kiến đó, những người cấu kết với mật vụ Mỹ và với họ hàng Thái Lan của họ ở bên kia sông Mekong. Vì cả đảng đỏ đối nghịch cũng ngày càng không dung hòa và hung hãn hơn, Souvanna Phouma không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc về phần mình cũng dựa trên lá bài Mỹ, và qua nước cờ này mà đánh lừa được các đối thủ phản động của ông, đứng đầu là hoàng tử Boun Oum. Lộn xộn thành hình thêm vào đó ở biên giới với Vân Nam. Ở đó, các sứ giả của Mao Trạch Đông đã biến tỉnh cực bắc của Lào, Phong Saly, thành một vùng chịu ảnh hưởng thuần túy Trung Quốc, nơi mà cả người Việt cũng không được khoan dung. Trong các thỏa thuận chính thức với chính phủ Vientiane, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã được giao cho nhiệm vụ xây một hệ thống đường sá ở miền Bắc Lào, giữa Vân Nam, Điện Biên Phủ và cố đô Luang Prabang, cái về lâu dài sẽ lập thành kết nối đường bộ chiến lược giữa Trung Quốc và Vương quốc Thái Lan. Ở đó, nơi các công binh của Mao Trạch Đông làm việc, cả các chiến đấu cơ của Mỹ cũng nhận được chỉ thị nghiêm ngặt là phải tránh bầu trời đó.

Trong các sứ quán ở Vientiane, huyền thoại của tambours de bronze luôn được kể lại. Tiếng trống đồng này thuộc vào trong số các sản phẩm đẹp nhất của thủ công Lào từ thời Cổ đại xa xưa. Mặt tròn được trang trí với những dấu hiệu thiên văn học. Ở rìa có những nhóm ba con ếch đang giao cấu, và đường hàn được trang trí bằng những con voi bé tí. Những cái trống trong đền thờ này, huyền thoại kể như vậy, vào thời xa xưa đã được một lãnh chúa Lào thông minh sử dụng để đánh lừa kẻ địch trong chiến tranh. Khi một đạo quân Trung Quốc mạnh hơn rất nhiều tiến vào từ phương bắc, người hoàng tử đã cho lấy những cái trống đó từ trong chùa ra và đặt chúng dưới vô số những thác nước của đất nước này. Qua đó mà thành hình một tiếng ầm ào quái dị, khiến cho quân lính của hoàng đế Trung Quốc có ấn tượng rằng một đạo quân Lào hùng mạnh đang tiến đến. Các thiên tử, hoảng sợ vì tiếng ồn của tambours de bronze, thời đó đã rời “đất nước triệu voi” mà không buồn chiến đấu, huyền thoại chấm dứt như vậy.

Phản chiếu trong thủ đô Vientiane ngủ quên và xấu xí là những sự đối nghịch mà Vương quốc Lào đã tan vỡ ra vì chúng. Vươn lên cao ở cuối một con lộ rộng lớn, một khải hoàn môn màu xám xấu kinh khiếp, cái có nhiệm vụ tưởng nhớ đến những người anh hùng chiến tranh đã chết của Lào. Cái đài tưởng niệm đồ sộ này không bao giờ được xây xong, mặc dù giá xây dựng được thỏa thuận vào lúc ban đầu đã bị vượt quá đến gấp mười lần. Số tiền được cho là đã biến mất vào túi các chủ thầu Trung Quốc và một nền quan liêu tham nhũng toàn phần. Cách không xa sự ồn ào náo nhiệt của ngôi chợ trung tâm là tổ hợp được canh gác cẩn mật của tòa đại sứ Mỹ, được che chắn bởi những bức tường màu trắng. Đại sứ Mỹ không chỉ hoạt động như là thống đốc của Lào, ông ấy trên thực tế cũng là tổng chỉ huy. Ông đích thân điều động các phi vụ của US Air Force và quyết định các mục tiêu. Ở Lào, CIA có quyền lực vô hạn và đóng vai trò của mình – chỉ đánh giá thuần túy về kỹ thuật – cũng không tệ. Hàng đoàn những người thích phiêu lưu mạo hiểm và kẻ cướp từ Hoa Kỳ đã đi theo tiếng gọi của Air America. Họ bay những phi vụ hiểm nghèo, tự cho mình là những bản sao của “James Bond”, chuyên thực hiện những vụ kinh doanh mờ ám và sau khi màn đêm buôn xuống thì gây bất an cho các hộp đêm tai tiếng nhất của thủ đô đã từng hết sức buồn tẻ này. Hàng đoàn những cô gái bán dâm Thái Lan đã vượt qua biên giới Mekong và đi lại giữa Vientiane và thành phố Udorn nhỏ của Thái Lan. Một đám đông những người cải trang người khác giới cũng bay tới từ Bangkok. Họ trang điểm gợi dục và được phụ nữ hóa qua những thủ thuật giải phẫu cho tới mức những người lính đánh thuê say rượu của Air America thường chỉ phát hiện ra bản chất thật sự của họ khi đã quá muộn.

Cách đại sứ quán Mỹ không đầy ba trăm mét có hai người lính khác thường đứng gác trước một tòa biệt thự kín đáo. Họ đội mũ nồi với dấu hiệu xanh đỏ trên nón và những bộ quân phục quá rộng. Các gương mặt là của người nông dân. Họ được trang bị súng AK-47 Trung Quốc. Họ canh giữ trụ sở đại diện chính thức của Đảng Cộng sản Pathet Lào ngay trong thủ đô Lào. Pathet Lào đã đưa ra khoảng ba mươi người lính thường trực để bảo vệ cho ủy viên đặc biệt Soth Petrasy của họ. Họ hẳn phải hết sức là buồn chán, không được phép rời ra khỏi phạm vi biệt thự, chơi bóng chuyền và trồng rau cải trong ngôi vườn nơi ở của họ. Soth Petrasy là một người hòa đồng. Lần nào đến Lào, tôi cũng đến thăm ông và uống trà với ông. Mối liên lạc giữa sứ quán kỳ lạ này với các cơ quan chính quyền đỏ của Sam Neua, cũng như việc thỉnh thoảng thay thế nhân sự canh gác, được bảo đảm bởi một chiếc máy bay Aeroflot nhỏ mà phi công của nó chắc chắn là cũng không vô hại hơn các đồng nghiệp của họ ở bên kia, bên có hộp thư bưu điện quân đội Mỹ.

Người Lào về tính chất là một dân tộc vui vẻ, không lo nghĩ, thích vui đùa. Họ dường như chịu dấu ấn từ học thuyết bao dung của Gautama. Trong khi CIA và người Bắc Việt tiến hành cuộc chiến tranh nhỏ của họ trên vùng đồi núi vì những vị trí chìa khóa quyết định của cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai này, và US Air Force cố gắng làm tê liệt con Đường mòn Hồ Chí Minh với lượng bom khổng lồ cũng như với những mưu mẹo điện tử hiện đại nhất, người dân Vientiane tiến hành các lễ hội Phật giáo của họ một cách hết sức vô tư. Vào buổi chiều, toàn thể chính phủ, đứng đầu là hoàng tử Souvanna Phouma, đã hành hương trong đám rước long trọng về đến thánh đường sơn trắng Tat Luang ở phía đông của thủ đô. Các bộ trưởng mặc trang phục nghi lễ của hoàng cung với quần đen dài tới gối và áo khoác trắng. Một dàn chào tăng lữ trong màu vàng áo cà sa yên lặng và trang nghiêm đón nhận sự thần phục này. Các cô gái Lào cúi gương mặt tròn như mặt trăng thật dễ thương của họ xuống, và đã thắt mái tóc đen thường dài cho tới tận gối của họ lại. Lúc diễu hành từ chùa này sang chùa khác về đêm, bất cứ người nào tham dự cũng đều cầm một cây đuốc. Người ta cười đùa rất nhiều tại những buổi lễ như vậy, và nụ cười vàng của Đức Phật được chuyền qua những gương mặt thư giãn của các tín đồ.

Vào buổi sáng hôm sau đó, Vua Savang Vatthana đi đến ngôi chùa lớn nhất tại nội thành. Vị vua to lớn, bướng bỉnh, người được người dân rất kính trọng, không thích rời cung điện có nhiều trang trí của ông ở Lung Prabang, mặc dù du kích quân đỏ đã tiến gần tới thành phố hoàng gia xưa cũ, chỉ còn cách hai mươi ki-lô-mét. Tôi tớ từ tộc người Khan trong chế phục đỏ tươi mang theo những cái chiên nặng. Đội quân bảo vệ cung đình cầm cây kích giống như đội lính Thụy Sĩ của Tòa thánh Vatican. Ông đã lại nhớ tới những ngôi vườn mơ mộng của ông ở Luang Prabang, nơi sự yên lặng về đêm chỉ được ngắt quảng bởi tiếng chiêng và tiếng tụng niệm đều đều của các nhà sư. Savang Vatthana tôn vinh một niềm đam mê văn học kỳ quặc cho Marcel Proust. Người Pháp nói rằng con người kỳ dị này có thể trích dẫn thuộc lòng cả nhiều chương từ tác phẩm “À la recherche du temps perdu” của Proust. Trên đường đi tìm thời gian đã mất, đó cũng là một tựa đề phù hợp cho sự mô tả vương quốc đáng yêu ở Viễn Ấn này, cái đã chìm đắm vì một chính sách quyền lực vô lương tâm của các siêu cường quốc.

Chiếc máy bay thuê bao của chúng tôi đã cho phép chúng tôi đi thăm nhiều vùng đất rộng lớn của Lào. Ở tại nhóm nhỏ tan tác cuối cùng của những người thuộc phe trung lập ở Vang Vieng, nơi những tảng núi đá giống như những cái bánh đường màu xanh che khuất mất chân trời, chúng tôi đã gặp một viên thiếu tá người Pháp đơn độc, người nhận biết rõ tính vô chức năng của ông. Ở vĩ độ của Thakek, chúng tôi bay sang phía đông và xem xét liệu có thể thực hiện được không ý định được cân nhắc đó của một số chiến lược gia người Mỹ nhất định, lập một cái then chắn ngang qua Lào. Điều đó dường như là một hoạt động vô vọng. Giữa Thakek ở Mekong và ngôi làng Tchepone ở cạnh biên giới với Việt Nam, có một phong cảnh hỗn độn lởm chởm nằm kéo dài ngang qua đó. Địa hình này hoàn toàn không thích hợp cho một tuyến phòng ngự liền nhau. Ở pháo đài phía bắc Ban Huei Sai, nơi Trung Quốc và Miến Điện gần tới mức có thể với tới được, nơi những người buôn lậu thuốc phiện gặp nhau và “Tam Giác Vàng” bắt đầu, chúng tôi không thể đáp xuống vì dòng sông Mekong – được cấp nước từ băng tuyết tan chảy ra của Himalaja – đã tràn ngập phi trường.  Cuối cùng, chúng tôi bay ở độ cao thấp ngang qua cao nguyên Bolaven ở cực nam của đất nước và được một đại tá béo mập và lừ đừ của Quân đội Hoàng gia Lào tiếp đãi ở trong trại lính Atopeu bị cô lập. Viên đại tá tháp tùng chúng tôi cho tới địa điểm kiểm soát giao thông xa nhất của ông, chỉ cách ngôi làng nhà sàn Atopeu có hai ki-lô-mét. Ở đó là đã bắt đầu vùng đất giữa hai chiến tuyến, và viên đại tá phỏng đoán chốt canh đầu tiên của Bắc Việt ở phía sau khúc quanh của con đường rừng. Khu vực quanh Atopeu được các mật vụ của Sài Gòn cho là trung tâm của Đường mòn Hồ Chí Minh. Mạng lưới liên kết chiến lược đó đã được xây mở rộng đáng kể trong thời gian mới đây, viên đại tá giải thích trước tấm bản đồ tham mưu. “Về đêm, chúng tôi không chỉ nghe được những đoàn xe vận tải, chúng tôi còn thấy được ánh đèn xe đã được che bớt đi của họ ở phía xa. Ở đó, thỉnh thoảng cứ giống như là trên đại lộ Champs Elysées”, ông cười và nói thêm, rõ ràng là cường điệu. Ông rất hãnh diện là đã từng tham gia một khóa học ở Pháp. Liệu trong trường hợp khẩn cấp thì ông có bảo vệ và giữ được Atopeu hay không với hai trăm người lính của ông, tôi hỏi. Lúc đó, viên đại tá phá ra cười thật to. “Nếu như chúng tôi có may mắn, chúng tôi sẽ cố hết sức mở đường qua cao nguyên Bovalen về tới Pakse ở Mekong. Ở đây tại Atopeu thì chúng tôi nằm vô vọng trong cái bẫy chuột.” Thời mà người Lào có thể xua đuổi một đối thủ mạnh hơn mình với tiếng ầm ầm từ những cái trống đồng của họ rõ ràng là đã thuộc về quá khứ xa xôi rồi.

 “Hủy diệt để cứu thoát”

Inline image 1

Vệt bom sau khi B-52 rải thảm. 1 nhóm 3 chiếc B-52 có thể tạo ra 1 vệt bom dài 3 km và rộng 1,5 km, gồm chi chít các hố bom

Việt Nam, thu 1967

Gần như đã thắng cuộc chiến rồi, các phát ngôn viên quân đội Mỹ tuyên bố ở Sài Gòn. Mỗi ngày, viênbriefing officer đều biết tường thuật về hàng trăm structures, kho dầu và kho đạn, bị US Air Force phá hủy ở phía bắc và phía nam của vĩ tuyến 17. Lúc hỏi vặn thêm thì mới biết rằng với khái niệm structures,người ta thường chỉ muốn nói tới những ngôi nhà bằng tre ở trong vùng của địch quân. Toàn bộ nhiều hệ thống máy tính đã dựa trên con số body count được cẩn thận thâu thập về một mối mà tính toán ra rằng “main force” của kẻ địch về cơ bản là đã bị tiêu diệt, và các irregulars đã kiệt lực. Ở trên này, ở Cồn Tiên, nơi Bắc và Nam Việt Nam đụng đầu nhau, thì người ta ít nhận ra được điều gì từ những thông tin chiến thắng đó.

Trời lạnh và có gió thổi mạnh ở gần đường phân giới, cái mà đã trở thành mặt trận được giành giật dữ dội. Mây thấp và có màu xám. Mưa rơi xối xả thành dòng xuống một phong cảnh không có cây cối đang chìm vào trong bùn lầy. Tôi gặp một đoàn marines đang tiến ra các vị trí tiền tuyến. Ba con trâu, rơi vào một loạt đạn súng cối, nằm thối rữa ở hai bên của con đường đá ong trơn trượt và tỏa ra một mùi hôi thối ngọt ngọt. Những người lính marines mang vác nặng, ướt sũng và đầy bùn. Hình ảnh hằn lên bầu trời mang nhiều tính đe dọa của họ khiến cho người ta nhớ tới những tấm ảnh của Verdun. Ở đoạn này của cuộc Chiến tranh Việt Nam, người ta không còn nói về công thức thành công nhanh nhẹn search and destroy nữa. Máy bay B 52 của US Air Force với những thảm bom đã biến cái được gọi là “cổ chai” của Bắc Việt Nam, dãy đất hẹp cạnh biển giữa sông Bến Hải và thành phố Vinh, thành một phong cảnh như trên Mặt Trăng. “Chúng tôi sẽ ném bom người cộng sản trở về thời kỳ Đồ Đá”, Tướng Curtis Le May đã dọa. Mặc dù vậy, Tướng Giáp vẫn có thể đẩy hệ thống vị trí và công sự của ông cho tới sát cạnh tuyến của người Mỹ, và thậm chí mới đây ông còn mang được cả pháo binh hạng nặng ra chiến trường, chỉ có Chúa Trời mới biết làm như thế nào. Trong những khoảng cách thất thường, đạn pháo rơi xuống quanh các căn cứ của Mỹ, và đã ép buộc những người lính marines vừa chửi thề vừa đào hầm hố sâu vào trong lòng đất giống như đất sét. “Việc kẻ địch bắn phá đã hết sức khó chịu”, viên thiếu tá nói, người nhận dẫn tôi đi tham quan Cồn Tiên. “nhưng còn tồi tệ hơn rất nhiều là những con chuột mà chúng tôi phải sống chung với chúng trong sự dơ bẩn, và thỉnh thoảng còn tấn công cả người của tôi nữa.” Tiếng ồn của pháo binh và bom máy bay vang rền từ phía xa xa. Không nhìn thấy gì từ kẻ địch, mặc dù họ hẳn là đã đào hố ở phía sau dãy đất màu nâu. “Họ luôn có thể xâm nhập qua các vị trí của chúng tôi, tuy là có hàng rào kẽm gai và bãi mìn”, viên thiếu tá rủa sả và lau nước mưa ra khỏi mặt. “Chúng tôi chiến đấu chống lại một đạo quân chuột chũi.”

Vào mùa này, mặt trời tháng Mười Một khô ráo và ấm áp đang chiếu sáng trên Sài Gòn. Bonne société saigonnaise gặp nhau ở hồ bơi của “Cercle Sportif”. Câu lạc bộ sang trọng này mà trong đó vẫn còn lại một thoảng của thời thuộc địa Pháp, là một cái chợ tin tức tuyệt vời. Thuộc trong số những người khách quen trong những ngày đó là các tùy viên quân sự Đức và Hà Lan. Ông người Hà Lan là một sĩ quan thuộc địa đã bạc tóc ở Quần đảo Mã Lai, người mà người ta không thể bịa được điều gì với ông nữa. Trong nhân sự còn lại của đại sứ quán Đức, viên trung tá người Đức có tiếng là người bi quan. Trong lúc đại diện ngoại giao của Bonn ở trên đường Võ Tánh tường thuật về sự ổn định hóa có lợi cho người Mỹ, về chiến thắng nhất định sẽ đến của sự việc tốt, thì người tùy viên quân sự chìm đắm trong những lời tiên đoán bi quan và những lời tiên đoán thảm họa mà không ai màng nghe tới. Trong “Cercle Sportif”, người ta có thể hẹn gặp các quản lý đồn điền người Pháp. Đa số là các sĩ quan trẻ, những người sau thảm bại Algerie đã rời quân ngũ. Họ phải thương lượng hàng tuần với các chính ủy Việt Cộng, đóng tiền và giải quyết các câu hỏi về nhân sự, để tiếp tục lấy nhựa từ những cây cao su trong đồn điền của họ và được phép chở cao su thô đi. Giới tư sản Nam Kỳ coi “Cercle Sportif” như là nhà, và tụ tập trên các sân quần vợt. Tất nhiên là cũng có nhiều khách quen người Mỹ, nhưng nói tiếng Pháp được cho là lịch sự.

Tôi được mời ăn tối tại tổng lãnh sự Pháp Tomasini, một người xứ Corse bẳn tính, khi còn trẻ đã nổi bật trong lực lượng kháng chiến ở Savoyen và trong lực lượng du kích quân của Vercors. Mặc dù tóc ông đã bạc, người ta vẫn còn nhận ra được tính thích mạo hiểm của ông. Chúng tôi biết nhau từ thời hỗn loạn ở Kantaga, nơi ông như là tổng lãnh sự ở Elisabethville đã lo lắng rất nhiều cho những người lính đánh thuê của Pháp, và đã bị thương nặng qua một vụ mưu sát. Bữa ăn tối chỉ có hai chúng tôi, trong ngôi biệt thự kiểu cũ trên đường Hai Bà Trưng. Cả một bảo tàng những vật quý báu của Đông Á đã được những người tiền nhiệm của ông sưu tập lại ở đây. Sau khi người phục vụ đi khỏi, Tomasini lấy một cái phong bì dầy ra khỏi két sắt. “Cái mà anh nhìn thấy ở đây là một thông điệp của Việt Cộng”, viên tổng lãnh sự bắt đầu nói. “Một người chủ đồn điền của chúng tôi, Jean Dufour, một người đã có tuổi, đã sống ở Đông Dương suốt cuộc đời của ông, và ngược với lời khuyên của chúng tôi vẫn cứ khăng khăng ở lại đồn điền của ông ấy cạnh con quốc lộ cũ lên Đà Lạt, đã biến mất từ nhiều tuần nay. Người Việt đã bắt ông vào lúc về đêm, và đã mang ông về nơi họ đang ẩn náu. Kể từ lúc đó, chúng tôi hoài công cố gắng bắt liên lạc với Dufour. Tối hôm qua, tôi đã được một sứ giả của Mặt trận Giải phóng bí mật tới thăm, một người Việt trung niên lịch sự, chắc chắn là đã có lần đi học trong trường lớp của chúng tôi. Ông phải thông báo cho tôi một tin rất buồn, người sứ giả tuyên bố khi chúng tôi còn lại một mình. Rất đáng tiếc là Monsieur Dufour đã qua đời trong tù. Mặt trận Giải phóng rất tiếc là buộc phải giam giữ ông, sau khi ông ấy vẫn cứ tiếp tục cuộc phát quang có ảnh hưởng không tốt tới an ninh của du kích quân trong khu vực đó, ngược lại với những chỉ thị rõ ràng của chính quyền cách mạng. Dulour lâm bệnh nặng trong tù, và đã qua đời mặc dù người ta đã cố gắng chữa trị, trước khi người ta có thể chở ông ấy về Sài Gòn và trả tự do cho ông ấy. Nhân danh “Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam”, ông có nhiệm vụ đưa cho người tổng lãnh sự Pháp những vật dụng cá nhân của ông mà Dulour đã mang theo người trong lúc bị bắt đi, và cũng trao trả cả số tiền mà người ta đã tịch thu tại người chủ đồn điền. Người ta đã trừ ra phí tổn thuốc men từ số tiền đó, nhưng trong phong bì màu vàng có một danh sách chi tiết về việc này. Ngoài ra, Mặt trận Giải phóng muốn thành thật chia buồn với thân quyến của Dufour về trường hợp số phận đau buồn này. Có thể đó là một niềm an ủi cho họ khi biết rằng Monsieur Dufour lúc trước khi qua đời đã ghi nhận những ý định của cuộc cách mạng Việt Nam, và đã tự phát đồng tình với các mục tiêu của nó.” – Tomasini lắc đầu. “Thật là cảm động”, ông nói, “ông Dufour đáng thương đã được Việt Cộng ban phép thánh trước khi đi gặp Karl Marx.”

Tôi thuật lại cho ông nghe trải nghiệm trong tuần vừa rồi của tôi. Các cố gắng của tôi, tiến hành một cuộc trao đổi trực tiếp với đại diện của Việt Cộng cuối cùng cũng đã thành công. Đầu tiên, tôi đã cố nhờ một nữ luật sư trung lập, bà Ngô Bá Thành, người mà nhờ vào sự thúc ép của những tổ chức tự do Mỹ đã được trả tự do do sau khi bị giam giữ khá lâu trong một nhà tù ẩm ướt của Sài Gòn. Bà Thành là một phụ nữ mạnh mẽ và hăng hái, là một luật sư có tiếng trên trường quốc tế. Bà bị giám sát quá chặt nên không thể giúp gì cho tôi được, bà nói. Ngoài ra thì bà vẫn tiếp tục hoạt động chính trị, và bà bảo đảm với tôi rằng cái được gọi là lực lượng thứ ba của Việt Nam trong liên minh với những người Phật tử yêu nước sẽ đưa ra một cơ hội thật sự để chấm dứt chiến tranh và chuẩn bị cho một tương lai tự do. Việc mà bà bị cấm hoạt động chính trị sau khi người cộng sản nắm quyền ở Sài Gòn, và bà bị chính quyền cách mạng quản thúc tại gia, việc này thì thời đó bà Ngô Bá Thành không ngờ tới.

Cuộc gặp bí mật cuối cùng được sắp xếp qua trung gian của một sản xuất nút áo Sài Gòn mà truyền đơn phe đối lập thỉnh thoảng được in ở trong phòng chứa dụng cụ của ông ấy. Điểm hẹn là một nhà hàng-quán nhảy ở cạnh xa lộ dẫn ra Biên Hòa. Dấu hiệu nhận ra người trao đổi với tôi là một cái áo mưa vắt trên cánh tay. Sự lựa chọn quán ăn này khiến cho tôi bất ngờ. Ngay lúc mới bước vào, tôi đã được tiếp đón bởi những cô chiêu đãi viên rất bạo dạn và có ngụ ý rõ rệt. Nhân viên cao cấp và sĩ quan của chính quyền Sài Gòn thường hay tiêu khiển ở đây. Bà chủ duyên dáng của quán này, người không ngần ngừ dẫn tôi tới một cái bàn nằm ở nơi vắng vẻ trong ngôi vườn, là người tình của phó sếp cảnh sát Sài Gòn. Sau một lúc, có ba người thường dân Việt tiến đến gần. Một người vắt chiếc áo mưa qua cánh tay như đã thỏa thuận. Họ tự giới thiệu và tôi cố gắng nhớ tên của họ, mặc dù chúng rõ ràng là được nghĩ ra. Người lớn tuổi trong số ba người, như ông bảo đảm một cách đáng tin, là một cán bộ công đoàn già, đã hoạt động từ thời Pháp trong số công nhân cảng. Người thứ nhì là một nhà trí thức đặc trưng của Việt Nam với mắt kính dầy cộm và trong diễn tiến của buổi tối hôm đó đã tự bộc lộ mình là người đại diện về tư tưởng hệ. Người thứ ba là một gã lực lưỡng, ít nói, có lẽ là đã được đào tạo về quân sự. Chúng tôi đặt nhiều món ăn Việt và chẳng bao lâu sau đó đã được những người phục vụ để yên cho. Những gì mà tôi biết được tại buổi tối bí mật này đều hoàn toàn không phải là điều giật gân. Điều mà tôi khâm phục là sự tự tin mà những người đàn ông này có thể nói là đã đi vào hang cọp với nó. Tôi quan tâm tới trước hết là những ý định cho tương lai của “Mặt trận Giải phóng”. Nhà tư tưởng hệ trẻ tuổi trả lời. Nhà tường thuật người nước ngoài không nên để cho người khác đánh lừa mình qua thông tin chiến thắng của những tên Đế quốc Mỹ và của những con rối Sài Gòn của chúng, fantoches, như ông diễn đạt. Nhân dân Nam Việt Nam đang chờ đợi giờ của họ, giờ của cuộc nổi dậy dân tộc. Chẳng bao lâu nữa, thế giới sẽ biết được các lực lượng cách mạng của Việt Nam có những khả năng nào. Rượu vang và rượu đế mà các sứ giả của Việt Cộng uống rất nhiều cuối cùng đã tạo nên một sự thư giãn nhất định. Hai người trẻ vẫn cẩn thận. Người công đoàn thì ngược lại kể những câu chuyện từ cuộc đời của ông và về những trải nghiệm của ông trong hai mươi năm hoạt động bí mật. Ông ấy là một kiểu người niềm nở, đối xử giống như một người cha già, và sau này tôi đã rất thương xót khi biết rằng ông đã bị bắt và bị tra tấn trong diễn tiến của chiến dịch “Phượng Hoàng”. Hai người kia ra sao, họ có tử trận trong lần nổi dậy lớn vào năm mới đó hay không, cái mà họ đã tuyên bố hầu như không che đậy với tôi, điều này thì tôi không bao giờ biết được.

Từ căn cứ Mỹ Dak To, ở vùng đất đáng ngờ đó, nơi Việt Nam, Camphuchia và Lào giáp giới với nhau, người ta báo cáo là đã xảy ra chiến sự dữ dội với quân đội chính quy Bắc Việt. Trong “Cercle Sportif” có ý kiến trái ngược với nhau. Đa số các nhà quan sát nhìn đó là cố gắng tuyệt vọng của người cộng sản, muốn tiếp tục tiến hành với quy mô nhỏ cuộc xung đột mà họ đã thua về mặt quân sự ở tại các vùng đồng bằng Trung Kỳ và Nam Kỳ. Việc họ dời trọng điểm hoạt động của họ ra vùng rìa cực cùng là một lời thừa nhận thế yếu của họ. Viên đại tá Hà Lan lo ngại ngược lại, rằng đây là một hoạt động đánh lạc hướng có quy mô lớn của Hà Nội. Thật sự thì đang diễn ra những chuẩn bị chiến lược hoàn toàn khác.

Vào ngày hôm sau đó, một chiếc Hercules thả tôi xuống Dak To. Vì quá vội nên tôi chỉ tìm được một người Pháp quay phim đã bị tàn tật nặng, Auguste Lecoq, người đã mất một chân của ông trong lúc bị bao vây ở Điện Biên Phủ. Khi chúng tôi đứng trên tấm lưới kim loại của sân bay Dak To được núi đồi có rừng bao phủ viền khắp chung quanh, gương mặt của Lecoq đầy vẻ lúng túng. “Cái lòng chảo này khiến cho tôi nhớ tới cái chân bị bắn cụt của tôi”, ông nói. “Lúc đó, tôi bị bắn trúng trên đường băng của Điện Biên Phủ, khi những viên đạn pháo đầu tiên của Việt Minh rơi xuống.” Thế nhưng ở Dak To thì không phải lo ngại những việc tương tự như vậy. Ưu thế không quân toàn phần, cái ưu thế nghiền nát mọi thứ, bảo đảm điều đó.

Tai họa diễn ra cách Dak To vài ki-lô-mét về phía tây nam trong rừng rậm ở trên núi, nơi một tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn Không vận 173 của Mỹ nhận nhiệm vụ tìm kiếm kẻ địch ở những nhánh cuối của con đường mòn Hồ Chí Minh. Trên sườn đồi 875, các paratroopers của Mỹ đã lọt vào một bẫy phục kích của người Bắc Việt và có nguy cơ bị tiêu diệt trong rừng rậm. Lực lượng tiếp ứng được vội vã điều động tới cũng đã bị tổn thất. Mặc dù bị cụt chân, Lecoq vẫn trèo lên chiếc trực thăng bước đầu chở chúng tôi tới một tiền đồn pháo binh. Đạn dược được lấy ở đó, và rồi chúng tôi bay theo hướng tiếng ồn của chiến sự. Người Mỹ đang ở trong một tình huống tuyệt vọng. Với một độ chính xác thật khó tin, các chiếc máy bay cường kích F 100 đã tạo một dãy đất trống trong khu rừng nguyên thủy, để tạo khả năng cho những người lính dù đang bị dồn ép tổ chức một vị trí cố thủ. Bất thình lình, chiếc trực thăng của chúng tôi rơi thẳng như một cái thang máy xuống bãi đất vừa được phát quang đó, nơi mà những người lính Mỹ đang dùng các thân cây khổng lồ vừa bị đốn gục xuống làm nơi ẩn nấp. Những người lính đang vội vã đào hố cá nhân. Họ đào chiến hào vì cuộc sống của họ. Tiếng ồn điếc tai khắp chung quanh. Ở rất gần đó, các chiếc máy bay cường kích hú lên trong lúc lao xuống các đối thủ vô hình, và ném bom của chúng xuống những nơi ẩn nấp của người Bắc Việt, cách vị trí của người Mỹ gần ba trăm mét. Chiếc trực thăng lơ lửng cách mặt đất bị đào xới lung tung độ chừng một mét, khi tôi giúp Locoq nhảy xuống. Các paratrooperscòn sống sót lấm đầy bùn sình. Họ đã kéo các xác chết đồng đội họ vào trong những cái túi nhựa màu xanh, và bây giờ vội vã ném các gói hàng đáng sợ đó như bao tải chứa thư lên chiếc chooper đang lắc lư, bay lên cao ngay khi đạt tới tải trọng tối đa. Chiếc trực thăng kế tiếp đã đứng chờ sẵn ở phía trên chúng tôi. Tổn thất của người Mỹ cao khác thường. Người bị thương được mang ra khỏi vòng vây đầu tiên. Sự kiệt sức và nỗi sợ chết nằm trong ánh mắt của những người đàn ông. Quân phục đã rách nát. Chỉ còn áo chống đạn là có thể chịu đựng được với gai nhọn. Khi màn đêm đến, chúng tôi đánh răng lập cập vì lạnh. Trong đêm đó, những chiếc F 100 đã tạo nên một địa ngục thật không thể tưởng tượng ra được quanh vùng của điểm cao 875. Vùng đất được chiếu sáng như ban ngày, và toàn bộ nhiều sườn đồi bốc cháy dữ dội trong napalm. Ngọn núi mà người ta đang giành giật ác liệt đã bị giã gần như trọc lúc rạng đông. Những người lính dù chuyển sang tấn công dưới hỏa lực yểm trợ rất mạnh. Họ khom người chạy qua khu rừng cây đã cháy thành than và còn đang bốc khói hướng lên đỉnh núi. Họ rơi vào làn đạn súng cối của đối phương ba lần và mất một vài người. Rồi họ đứng trước những lối vào hang động bị hun khói, trống rỗng, những cái hang cáo và đường hầm dưới mặt đất, những cái dường như được xây cho một chủng tộc người lùn. Lính Mỹ chỉa súng phun lửa của họ vào vào những cái lỗ đó và ném thuốc nổ vào. Rồi họ đứng thành nhóm để chờ hàng đoàn trực thăng từ Dak To đang bay phành phạch tới để chở đi. Bầu trời trên cao nguyên Trung Kỳ lại có màu xanh dịu dàng. Những dãy hơi nước của các chiếc máy bay chiến đấu kéo đi như như những sợi chỉ bạc. Những người lính đứng nhìn kiệt sức xuống khu rừng xanh bất tận. Họ đã giật điểm cao 875 ra khỏi tay của quân thù, nhưng trải ra ở trước họ là một phong cảnh có sẵn hàng trăm ngọn núi giống như vậy. “Không biết chúng tôi có phải xung phong chiếm tất cả chúng hay không?” một hạ sĩ quan đứng bên cạnh chúng tôi nói và đưa cho chúng tôi một lon Coca-Cola.

Trở về tới Dak To, các paratroopers tập hợp lại để tưởng niệm người chết một cách đặc biệt. Lá cờ sao được treo rũ. Những người đàn ông đứng bất động, trong lúc một tuyên úy quân đội đọc từ trong Kinh Thánh. Giày ủng trống rỗng của những người đã hy sinh, được đánh bóng, được sắp hàng một cách thật chính xác giống như theo một nghi thức thờ vật và được xếp thành một vòng bán nguyệt ma quái. “They died with their boots on”, đó là tựa của một phim truyện Mỹ từ những cuộc chiến tranh chống người da đỏ.

Hai tháng sau đó, tin tức về đợt tấn công lớn vào đầu năm đến với tôi ở châu Âu. Việt Cộng đã lợi dụng bầu không khí lễ hội của Tết Phật giáo vào đầu năm Thân để khởi động một cuộc tổng tấn công trên toàn Nam Việt Nam, cái đã khiến cho người Mỹ hoàn toàn bất ngờ. Một tổ tự sát thậm chí còn tấn công vào cả đại sứ quán Mỹ mới, đã được xây như một pháo đài ở ngay trong trung tâm Sài Gòn. Hầu như toàn bộ các thị trấn của đồng bằng sông Cửu Long đều tạm thời rơi vào tay của những người nổi dậy, và thành phố Bến Tre, như người phát ngôn viên chính thức nói, “phải bị hủy diệt để cứu thoát”. Cố đô Huế bị các đơn vị Bắc Việt Nam hành quân từ Lào sang chiếm đóng. Những người lính của Hà Nội kéo lá cờ của Việt Cộng lên trên hoàng thành và đương đầu gần bốn mươi ngày với những cuộc tấn công dữ dội của lính thủy quân lục chiến Mỹ. Cuối cùng, đợt tấn công dịp Tết thất bại. Các nhà cách mạng đỏ đã nghĩ rằng toàn thể người dân Nam Việt Nam sẽ nổi dậy. Nhưng đại đa số người Nam Việt đều hoàn toàn thụ động. Không một đơn vị duy nhất nào của quân đội quốc gia đã chạy sang với những người cộng sản. Thuần túy về quân sự thì đợt tấn công dịp năm mới 1968 là một thảm họa và là một thất bại đáng sợ cho Hà Nội. Các lực lượng chiến đấu tại chỗ của Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam bị tiêu diệt. Các chính ủy, điệp viên và những người hoạt động đã xuất hiện công khai, và trong những tháng tiếp theo sau đó đã trở thành nạn nhân của một chiến dịch tập trung có quy mô khổng lồ của cảnh sát. Phần lớn các nhà bình luận Phương Tây hét vang từ chiến thắng.

Trên thực tế thì với lần bắt đầu đầy bi kịch này của năm con khỉ, số phận cuối cùng đã quyết định nghiên về cho Bắc Việt Nam. Ở Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ, sự căm phẫn bị dồn nén lại về “cuộc chiến tranh bẩn thỉu” đã bùng phát thành một cơn bão, sinh viên và trí thức đứng ở hàng đầu của phong trào phản đối. Các hiệp hội cựu chiến binh và hiệp hội phụ nữ kéo ra biểu tình trước tòa Nhà Trắn. US-Army trong trận đánh đầu năm đã giành được một thành công lớn trong lúc phòng vệ. Thế nhưng người tổng chỉ huy Bắc Việt Nam Võ Nguyên Giáo đã có thể ghi nhận thành công chính trị lâu dài về phần mình. Những lực lượng không mệt mỏi của ông đã làm cho đối thủ Mỹ mạnh hơn mất tinh thần chiến đấu. Bị ấn tượng bởi lần phát cuồng của người cộng sản, mà các tướng lĩnh của ông đã không nhìn thấy trước được, Tổng thống Johnson bỏ cuộc và tuyên bố ông sẽ ngưng ném bom Bắc Việt Nam và giảm bớt có hệ thống sự hiện diện của quân đội ở Nam Việt Nam. Washington tuyên bố sẵn sàng bắt đầu đàm phán với Hà Nội. Bản thân ông, Johnson cho biết, thì không còn có ý định ra tranh cử trong lần bầu cử tổng thống sắp đến nữa.

https://phanba.wordpress.com/cai-chet-tren-ruong-lua/

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s