QLVNCH: (Chuyện Tù Cải Tạo): Những Người Tù Đói (re-education)


Những Người Tù Đói 

NHỚ…
Ra tù, vượt biên, đến Hoa Kỳ, bây giờ mỗi khi vào những quán ăn bao bụng, thả giàn, ăn mệt nghỉ hay vào các chợ bán thực phẩm, nhìn hàng núi thức ăn ê hề, dư thừa…nào thịt gà, bò, cá, heo, tôm… nào bánh, kẹo, đường, sữa…., tôi không sao quên được những người tù đang sống đói khát ,khổ cực trong các trại cải tạo ,lao tù Cộng Sản Việt Nam.
Tôi đau xót nhớ lại cảnh khủng khiếp những năm dài trong tù với cơn đói hành hạ thường trực, triền miên.

Bao nhiêu người tù đã chết vì kiệt sức.
Bao nhiêu nấm mộ lấp vội trên đồi hoang, ven bìa rừng.
Đám ma tù thê lương, sầu thảm….
Chiếc xe cải tiến chở xác.

Ba người tù ốm đói, xanh xao gò lưng cố sức kéo, đẩy sau khi bó xác bạn mình trong manh chiếu ló đầu, hở chân đặt nằm xuôi theo chiều dài chiếc xe. Người tù đi trước cầm hai càng xe kéo, hai người đi sau khom lưng đẩy. Hai tên cai tù cầm súng AK có gắn lưỡi lê nhọn hoắt đi theo canh giữ luôn mồm nạt nộ quát tháo.

Đám ma tù chỉ vỏn vẹn có ba người công tác vừa bó xác, đẩy xe, mang theo xẻng, cuốc đào huyệt nơi bìa rừng, xó núi

Vĩnh biệt! Vĩnh biệt Châu!
Vĩnh biệt! Vĩnh biệt Châu!

Mới ngày nào đây còn oai hùng chiến đấu, vui đùa ngất ngưỡng với những chai bia bên nhau ở C4 – Lực Lượng Đặc Biệt, giờ đã không còn nữa, mãi mãi không bao giờ còn trông thấy nhau. Chúng tôi đau buồn, thương tiếc, nhìn bạn mình từ giã cõi đời trong uất hận, nghẹn ngào.

Trong hơn 8 năm ngậm đắng, nuốt cay tủi nhục, tôi tận mắt chứng kiến vài chục lần thảm cảnh đi vào lòng đất lạnh âm thầm của những người tù cải tạo. Xin được phép ghi lại bài thơ:

ĐÁM MA TÙ
Tác giả là Nguyễn Ngọc Thuận

Tao đưa mày ra mồ
Nằm đây mà yên nghỉ
Thoát một kiếp lao tù
***
Bát ngô thiu cúng mày
Không tìm ra nhang thắp
Đất núi sỏi khó đào
Huyệt nông mày nằm vậy
***
Hòm cho mày chiếu rách
Khăn liệm mày, chăn hôi
Thôi, coi như gỗ phách
Thôi, coi như lụa đào
***
Mộ bia là nhánh củi
Lấy dao cùn khắc tên
Mà cần gì tên tuổi
Cho thằng tù yên thân
***
Nằm ngoan mà say ngủ
Có gió mưa rừng ru
Rồi hôm nào lũ đổ
Cuốn xương mày chu du
***
Mày còn người chôn cất
Mai này tao ra sao?
Xác chăng ra ngoài rẫy
Làm tiệc cho chim trời
***
Cũng một thời oanh liệt
Ngang dọc trăm chiến trường
Lúc thành tên tù chết
Không được bằng thú muông
***
Muốn khóc mày ráo lệ
Muốn nói nhưng đành câm
Mày nằm đây ngon giấc
Tao về với cùm gông

Tôi xin cám ơn Nguyễn Ngọc Thuận đã nói thay anh em tù cải ta/o qua bài Đám Ma Tù rất chính xác, đầy đủ

NGÔ, KHOAI, SẮN

Hằng ngày Cộng Sản bắt chúng tôi lên rừng đốn gỗ, chổm, giang, nứa…hoặc xuống ruộng ngập nước cày cấy gieo trồng. Có khi chuyển sang công việc vác đá làm đường rất nặng nhọc. Đến bữa ăn, khẩu phần là những củ khoai lang, khoai mì hoặc bắp luộc (cứng như đá) bo bo tùy theo mùa vụ.

Với năm ba củ khoai mỗi bữa, chúng tôi thường nhai luôn cả vỏ, có hôm gặp phải khoai lang sùng, thối, phải đành nuốt luôn vị đắng như thuốc ký ninh để bao tử còn có một chút gì…để sống, chứ không phải để nhớ như trong một bản nhạc.

Đói! Chúng tôi đói, ngày này qua ngày khác, tháng này nối tiếp tháng khác, người gầy rạc, đôi má hóp sâu, mắt đờ đẫn, thị lực kém hẳn. Mỗi bữa ăn xong rồi, cảm thấy giống như lúc chưa, bụng trống không. Những thằng bạn thân thường hỏi nhau: “Mày ăn xong chưa?” đều có câu trả lời giống nhau: “Tao cũng không biết nữa!”

Chúng tôi thường đánh lừa bao tử bằng cách, trước khi ăn, uống một lon guigoz nước, dù không khát.

Ngày xưa, khi đi hành quân, đôi khi bị đói một hai ngày vì trận chiến kéo dài hoặc trở ngại tiếp tế, nhưng cái đói ngày đó thật khác với bây giờ. Sức chịu đựng của chúng tôi đã mòn, cạn kiệt theo tháng năm tù đày, nguồn dinh dưỡng dự trữ trong cơ thể đã tiêu hao. Mỗi người đều sút giảm ít nhất từ 10 đến 20, 30 kí. Bạn bè thân quen gặp nhau nhìn không biết, mãi lúc sau mới nhận ra. Hình như ai cũng cảm nhận, cái chết vì đói sẽ đến với mình một ngày nào.

Sức khoẻ suy yếu trông thấy. Leo lên ngọn đồi đi lao động hàng ngày, phải dừng lại nghỉ mệt năm ba lần để thở, hoa cả mắt, ù hai tai. Bản năng sinh tồn thúc đẩy người tù chỉ còn nghĩ, tìm cách làm sao để khỏi chết, xuôi tay bỏ cuộc đời, lên đồi hoang nằm hiu quạnh. Trí óc căng thẳng lo âu, làm sao c’o cái gì nhét vào bao tử lép xẹp, trống rỗng. Từng đêm và từng đêm nằm thao thức, trăn trở với bụng đói đang dầy vò. Cơn đau bóp thắt ruột, tưởng chừng như bệnh dạ dầy. Thực ra chúng tôi không đau bệnh gì cả, có chăng là bệnh đói, căn bệnh mà chỉ ở “thiên đường” Cộng sản mới có. Người dân sống bên ngoài hẳn nhiên đang đói khổ, nhưng có thể mức độ ít trầm trọng hơn. Cộng Sản thâm độc, gian manh, cai trị bằng cách bóp chặt, tóm lấy bao tử mọi người, thật khó vùng dậy, chống đối.

Đói, làm đầu óc tê liệt, căng thẳng, nhỏ nhen. Còn gì khổ hơn là Cộng Sản trả thù hành hạ con người, chết không ra chết, sống không ra sống. Đang khuya, cơn đói ùn ùn kéo tới, nước miếng từ dưới bụng trào lên miệng, từ miệng nuốt ực trở xuống. Và cứ như thế, đêm khuya lạnh, cơn đói vật vã, bóp thắt bao tử, thần kinh rối loạn, kiệt quệ, mệt lả, cái chết tới gần.

Có thể không ai hiểu chúng tôi đói như thế nào nếu không lâm vào cảnh ngộ oanh nghiệt: ở tù Cộng Sản. Chế độ Cộng Sản mất nhân tính tàn ác nhất trên đời, đang thẳng tay giết lần, giết mòn những người tù, những người chống đối.

GẶP GÌ CŨNG ĂN

Những năm ở các trại cải tạo miền Bắc vùng Yên Bái, Lào Cai, Nghĩa Lộ, Sơn La, thuộc tỉnh Hoàng Liêm Sơn và nhiều nơi khác, đã có lắm anh em chết vì đói, vì “cải thiện” linh tinh. Vào rừng đốn gỗ, chặt nứa, chúng tôi gặp gì…cũng ăn, bỏ vào miệng nhai ngấu nghiến. Từ rau má, rau tàu bay, mụt măng, lõm chuối đến con cào cào, châu chấu, con cóc, nhái rít, kỳ nhông. Trái rừng như trái vả (sung), trái mây, sim tím, cả những trái cây lạ, không biết tên.

Chẳng may khi ăn nhầm trái độc, nấm độc, ngã lăn ra giẫy giụa chết. Những cảnh chết thương tâm đau lòng, hồi tưởng lại thấy xót xa, ray rứt…càng căm thù Cộng Sản.

ĂN CỦ ĐUÔI TRÂU

Trại 3 Văn Bàn – Lào Cai, anh N và anh Mai Văn Th. ăn nhầm củ đuôi trâu. Thân cây cao khoảng một thước, lá màu xanh, giống như đuôi trâu, nên có tên gọi vậy? Phần dưới cây là củ hình dáng giống như củ khoai môn.

Hôm đó cả đội đi vác đá làm đường, lợi dụng lúc nghỉ ăn trưa, hai anh hì hục đào củ đuôi trâu đem nướng. Anh N, vừa ăn xong đã sùi bọp mép, nước miếng đặc quánh như kẹo cao su ngã té xuống, hai mắt trợn trừng.

Anh Th. mới đưa vào miệng thấy vậy hoảng sợ kịp nhả, móc họng ói ngay ra nhưng miệng môi sưng vù. Đem về trại, anh N lúc hấp hối, còn ráng gượng ra dấu cho bạn đưa anh cây viết và mảnh giấy, anh cố nguệch ngoạc vài chữ nhắn nhủ trăng trối với vợ:

“Em cố gắng nuôi con”.
Anh Th. thoát chết, phải mất hơn 5 hôm mới hết sưng miệng.

ĂN NẤM ĐỘC

Anh Nguyễn Thành D. , cựu Trung Tá Phi đoàn trưởng F5E, rất trẻ, đẹp trai, cao to con, da mặt đỏ như các cô gái Đà Lạt. Trong Quân chủng Không Quân, D có biệt danh là “D mặt đỏ”, là một phi công tài ba, gan dạ, người hùng một thời oanh liệt.

Một hôm vào rừng đốn gỗ, D gặp phải loài nấm lạ, mầu tím thẫm, thứ nấm độc, cực mạnh. Ăn xong, D ôm bụng giẫy giụa, nằm lăn ra cỏ. Anh em đi gần thấy vậy vội đến thay nhau cõng D về trại.

May cho D, trong một trăm tên Cộng Sản ác ôn, còn có được một tên chưa mất hẳn nhân tính. Hắn tên Lại, Thượng úy Trưởng trại, gốc người Tầy, hắn tận tình đốc thúc đám y tá và chính hắn lo chữa trị, thuốc giải độc.

D. ói mửa liên tục ra toàn chất nước đen sì như bùn. Hai mắt nhắm nghiền, mồ hôi vã như tắm hơi. Chúng tôi lo sợ cho tính mạng D. vô cùng. D cứ nôn mửa suốt đêm.

Sau hai ngày đêm tống khứ hết chất độc ra, D thoát chết, người ốm sút hẳn, hai mắt thâm sâu, đờ đẫn lạc hồn.

VÀI DÒNG TÂM SỰ

Trong khoảng thời gian đói lả người, cơ thể mệt mỏi, đầu óc choáng váng, chúng tôi giống như những bóng ma chập chờn, chân bước hụt hẫng, lảo đảo.

Từ thảm cảnh não nề, hàng ngày lao động nặng nhọc, ngã bệnh nếu không gắng gượng, kiệt sức thì chết vì không hề có thuốc men. Thể xác rã rời, tinh thần sa sút, buồn chán vì thường xuyên chứng kiến các bạn mình lăn ra chết sao dễ dàng quá, mới vừa thấy đó, đã vội bỏ cuộc.

Những câu nói khác lạ, tôi vẫn còn nhớ hoài. Người có tính khôi hài, tiếu lâm bảo là: “Tụi mình bây giờ gặp con gì…cũng ăn, trừ con..bù lon là không ăn.”

Người thì chua chát, cay đắng, phẫn hận: “Cái gì…cũng ăn, trừ phân là không ăn.”

Viết đến đây, xin thưa với quý vị, đã đôi ba lần, tôi định dừng lại, gác bút, không muốn ghi lại thời gian đói thê thảm trong lao tù Cộng Sản. Vì xin thưa, khi nói đến ĐÓI, miếng ăn, sao tự cảm thấy tầm thường nhục nhã. Làm người đàn ông, hơn thế nữa là một người lính đã từng tham dự hàng trăm trận đánh, không hề sợ chết, sao nay lại tả oán, kể khổ dông dài làm mất thời giờ quý báo của quý vị.

Kẻ thù không đội trời chung sẽ cười vang đắc thắng,, thỏa mản thú tính là đã hành hạ được chúng tôi, như có lần, một tên bộ đội, mặt mày non trẻ đã nhìn chúng tôi và nói:

“Đ.mẹ chúng mày, vợ đẹp, con ngoan, ô tô, nhà “nầu” phen này cho chúng mày chết”(ghi nguyên văn)

Lại thêm lý do, không muốn quý vị đọc giả chưa từng sống với Cộng Sản, chưa hiểu rõ lũ chúng lòng dạ nham hiểm, dối trá, sẽ buồn lòng, chê trách: “Bộ hết chuyện viết rồi sao…cứ nói hoài ba cái đói. Ở tù dĩ nhiên là phải đói”…..

Duy nhất một điều, nếu bài này được viết tiếp tục đến trang cuối là do ước muốn quá mãnh liệt thôi thúc: làm một nhân chứng, may mắn trở về từ cõi chết như một phép lạ, ghi lại sự việc đã trải qua hết sức trung thực, không thêm bớt, cường điệu, để mọi người hiểu rõ bộ mặt thật của Cộng Sản với cái gọi là Chính sách khoan hồng, nhân đạo, tập trung cải tạo.

TIÊU CHUẨN NUÔI ĂN

Tiêu chuẩn nuôi ăn cấp cho tù cải tạo lúc ban đầu là 18 kí lô, sau sụt còn 15 kí lô và sụt nữa còn 13 kí. Đó là trên giấy tờ, thực tế bị hao hụt trừ bao bì từ nhà kho đến nhà bếp. Anh em thường mỉa mai: “giầu nhà kho, no nhà bếp”

Lương thực mà tù được cho ăn quanh năm tùy theo mùa vụ: ngô, khoai, sắn, bo bo, bột mì. Muối rất quý hiếm. Ở Trại nào may mắn được muối bột hoặc muối hột. Trại chúng tôi chỉ có muối nước (muối pha nước) nhạt nhèo, có vị tanh nhưng vẫn không đủ để chấm với khoai mì.

Đôi khi có rau do chúng tôi tăng gia trồng trọt. Thỉnh thoảng có ít cá khô, cá ươn nấu thành bột. Ba bốn tháng, có khi lâu hơn được miếng thịt trâu, da trâu, hoặc thịt heo bằng hai ngón tay.

Một năm được thưởng thức hương vị cơm năm lần vào dịp Tết Lễ 3 tháng 2, 2 tháng 9, 20 tháng 12

CÁI CHẾT…..BIẾT TRƯỚC

Trại 1 Văn Bàn – Lào Cai
Sau thời gian dài ăn khoai mì và nước muối, hôm nay trại hạ con trâu già làm thịt. Không khí trong trại nhộn nhịp khác thường. Hầu như ai cũng mong đợi ngày quan trọng nầy (thật tội nghiệp cho những người tù).

Anh K ở láng 5 vừa khỏi bệnh kiết lỵ hai ngày. Anh em có khuyên không nên ăn thịt trâu vì bao tử còn yếu.

Nhưng vì quá thèm, lâu lắm mới có một miếng thịt, nên anh đã ăn. Hậu quả, sau khi ăn xong vài giờ, K đã ngã ra chết. Cái chết thương tâm, biết trước.

Duy nhất trên thế giới, chỉ có Cộng sản với chế độ lao tù khắc nghiệt, tàn nhẫn, dã man đưa đẩy anh K. chọn cái chết như vậy.

CHƠI BẠO

Ở trại nầy đã xẩy ra chuyện giật gân, chơi bạo, anh T. thuộc láng 3, một đêm tối trời đã lén bò vào tận nhà kho chứa thực phẩm của cai tù lấy thức ăn. T. lấy mấy bịt ruốc (thịt chà bông). Lính gác phát hiện, T. bị chúng đánh đập dã man, dọa bắn.

Chúng trò hai tay T thúc ké sau lưng, trừng phạt đứng phơi nắng suốt ngày.

ĂN CẮP…BẮT ĂN TRỘM

Trại 13, Xà Việt Hồng, Yên Bái
Vào đêm khoảng gần Tết, trời thật lạnh giá, tay chân tê cóng. Bao nhiêu quần áo mặc hết cả vào, ngoài cùng là cái áo đi mưa nhà binh Mỳ, tôi nằm lăn qua lộn lại nghe sột soạt, rét run lập cập, không sao ngủ được. Bỗng chợt nghe tiếng quát tháo, tiếng lên đạn lách cách của cơ bẩm súng AK, cả Trại choàng thức.

Câu chuyện cười ra nước mắt: Anh Nguyễn Kim L, có biệt danh “đại liên” rất vui tính, thích nói chuyện “nổ” lớn, như súng đại liên, cựu Đại Uý, thừa lúc đêm khuya, lính canh ngủ gục, chui hàng rào ra vườn rau su hào “cải thiện”. Chẳng may cho anh, vào ngay lúc đó, tên vệ binh cùng chung mục đích, cũng mò ra vườn rau “cải thiện linh tinh”.

Thế là màn bi hài kịch sống, dở khóc dở cười diễn ra. Tiếng quát mắng, chửi thề, lên còn súng doạ bắn. Kẻ ăn cắp có súng, nạt nộ bắt kẻ ăn trộm không có súng làm náo động đêm cuối đông.

Sau đó, anh L, kể lại, khi ra đến vườn thì thấy một người đang nhổ su hào, anh tưởng lầm là đồng tù nên không cảnh giác mới xẩy ra “tai nạn”.

Hình phạt áp dụng cho anh L: chúng bắt anh hai tay cầm bốn trái su hào giơ cao lên trời, quỳ gối trên tảng đá bên dưới chòi canh. Thời gian thọ phạt suốt từ lúc bị bắt, khoảng 2 giờ khuya đêm đó đến 5 giờ chiều ngày hôm sau.

Hai đầu gối anh sưng vù, rướm máu tím bầm, đi phải chống gậy.

CƠM VÀ MÁU

Trại 3 Văn Bàn – Lào Cai
Một hôm, tổ lao động chúng tôi gồm 10 người công tác trát tô vách nhà khu vực chúng ở. Công việc gồm có: đào cái hố, đường kính khoảng 3 thước, sân khoảng 6 tấc, gọi là cái “chảo”. Đổ nước, bỏ đất và rơm xuống. Chúng tôi thay nhau đứng vào “chảo”, dùng hai chân đạp liên hồi. Đạp hoài cho đến lúc đất và rơm trộn lẫn vào nhau nhuyễn nhừ gần như bùn. Cộng Sản phát minh ra cách làm xi-măng, không tốn tiền chỉ dùng sức lao động của tù cho đúng với câu “nước sông, công tù”.

Khi nào tên cai tù bảo “Được!” Chúng tôi bốc bùn bỏ vào cái ky -đan bằng tre-đem đến những bức vách nhà đan mắt cáo ô vuông bằng tre, dùng hai tay bốc bùn đất bện, trét vào vách (thay cho xi-măng tô tường nhà). Bụng đói, chân run, đạp đất khoảng một lúc lâu, anh em ai nấy muốn ngã quỵ. Hai củ khoai mì, giống như hai khúc đèn cầy nhỏ, phần ăn sáng không đủ để chúng tôi đứng vững, huống chi phải đạp đất liên tục suốt buổi.

Tên bộ đội còn trẻ độ 18, 19 đứng nhìn chúng tôi, luôn mồm hạch sách, nạt nộ. Hắn chê chúng tôi làm chậm, ù lỳ, thiếu chất lượng.

Đến xế trưa, hắn nắm một vắt cơm, ném cho con chó. Chó chạy đến ngửi. Có lẽ quá no hay thiếu thịt, nó chê, quẫy đuôi bỏ đi.

Một anh trong tổ chúng tôi, tên anh là Kh, không hiểu nghĩ sao….(Ở tù lâu quá quẫn trí, anh hơi mất bình thường, lúc vui, lúc buồn, cả ngày không nói một tiếng , vợ con anh đều chết trong chuyến xe bị Việt Cộng đặt mìn nổ tung), anh đi lại cầm vắt cơm dính bùn đất, đưa vào miệng, chưa kịp ăn. Tên bộ đội nhảy sấn đến đánh Kh. mấy thoi vào mặt, văng cả cơm chan hòa máu rơi vãi.

Kh. đã lớn tuổi, đáng bậc cha chú vậy mà hắn không một chút nương tay, biểu hiện lòng căm thù “lính ngụy” cao độ, hắn ra tay hung bạo.

Chuyện mỉa mai, chửi thẳng vào mặt lũ chúng là mới vừa đêm qua, trong buổi chiếu phim bắt chúng tôi phải xem để học tập tiến bộ. Chúng đã chiếu phim “Chị Dậu” cảnh vì nhà nghèo, chị Dậu quá đói phải đem con cho đi ở đợ nhà điền chủ. Chủ nhà cho con chị Dậu ăn phần cơm thừa của chó. Chúng đã lớn tiếng lên án cảnh trong phim là dã man, vô nhân đạo, người bóc lột người.

Thế còn cảnh người đánh đập người vừa xẩy ra thì sao?

Mỗi lần trại tổ chức chiếu phim, chúng tôi không muốn xem cũng không được. Không còn gì khổ sở cho bằng phải xem những phim rẻ tiền, tuyên truyền láo khoét, xỏ lá, nó chửi bôi bẩn Việt Nam Cộng Hòa của mình như “Ngày tàn của bạo chúa”, “Liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi”

Hôm chiếu phim “Giữa hai làn nước” tài tử chính là BÌNH CHÂU-NGUYỄN CHÁNH TÍN, tôi cáo bệnh nằm nhà cũng không yên thân, vì có anh nào “nhiều chuyện” báo với chúng “tài tử chính là bạn thân với tôi”. Hai tên bộ đội súng cầm tay xuống tận nhà giam áp tải, bắt tôi phải đi xem để học tập.

Chuyện còn dài, kể bao nhiêu cho đủ, cho hết, xin tạm chấm dứt nơi đây với chuyện. Kẻ ghi bài nầy bị bắt làm kiểm điểm, nhốt vào phòng kỷ luật vì tội ăn đậu phộng lúc thu hoạch như sau:

ĂN SẮT, ĂN GANG

Trại 6 Thanh Chương-Nghệ Tĩnh
Đội 22 chúng tôi hàng này đẩy, kéo xe cải tiến chở cát, đá, tre nứa…đôi khi chở xác tù đi chôn.

Một hôm trời mưa, chúng tôi được tăng cường sang đội trồng rau xanh, thu hoạch đậu phọng. Thân cây vừa nhổ lên, những củ đậu dính theo đất đen sậm. Ở một khoảng xa, hai anh Công Anh coi tù đang mải mê “cải thiện” nhừng hạt đậu sống. Lát sau, chúng bỏ đi nơi khác, tò mò chúng tôi đi đến đó xem thấy để lại “chiến trường” những vỏ đậu phọng.

Tôi và một vài anh em khác, sau khi quan sát, ngó tới ngó lui, chùi vội những củ đậu vừa nhổ lên vào áo, bóc vỏ ăn ngon lành. Đậu phọng ăn sống thật bùi ngọt. Đang đói, có vài chục hạt đậu “bồi dưỡng” cũng đỡ phần nào.

Bỗng có tiếng quát của tên Công An gọi giật, sừng sộ:

“Anh kia! Anh có biết là anh đã ăn sắt, ăn gang của nhân dân không?”

Tôi còn đang lúng túng bất ngờ bị bắt quả tang, chưa kịp đáp, hắn lên giọng tiếp:

“Chính phủ ta xuất khẩu đỗ sang Liên Xô đổi lấy sắt, gang xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa. Anh ăn thế là anh ăn sắt ăn gang của nhân dân. Trưa ni anh về làm bản kiểm điểm tôi xử lý anh sau.”

Tôi nghĩ thầm:

“Thật quái đản, cái gì cũng xuất khẩu sang Liên Xô, từ hạt gạo đến con tôm, con cá, xuất khẩu cả con người. Trong khi dân trong nước đang đói khổ, sống cơ cực lầm than, làm việc suốt ngày, tối tăm mặt mũi trong các Hợp tác xã, Khu Kinh tế mới vẫn không đủ ăn. Chúng mang về sắt, gang xây dựng XHCN hay mang về súng đạn, hỏa tiễn, xe tăng để nghiền nát đồng bào và đi xâm lăng các nước láng giềng Lào, CAmpuchia, anh em trong cái gọi là làm Nghĩa Vụ Quốc Tế, thực hiện âm mưu Tiểu Bá Quyền, thành lập Liên Bang Đông Dương?”

Tạ Thành Lộc

Trích sách viết “Chuyện Người Tù Cải Tạo” trang 398-409 tập I/2007

One comment on “QLVNCH: (Chuyện Tù Cải Tạo): Những Người Tù Đói (re-education)

  1. ở nhà tù nhõ đói khát không có chi lạ,người dân ở nhà tù lớn vẫn đói khát mới lạ.

    Like

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s