CHIẾC TÀU CỦA NÔ Ê VÀ NƯỚC LỤT


CHIẾC TÀU CỦA NÔ Ê VÀ NƯỚC LỤT

Người viết: Sưu Tầm  

Trong Thánh kinh Lu-ca 17:26 Chúa Cứu Thế Giê xu phán : “việc đã xảy đến trong đời Noê, thì cũng sẽ xảy đến trong thời Con người ”. Điều gì khiến Chúa Giê-xu đã chấp nhận sự kiện Đức Chúa Trời trút cơn Đại hồng thuỷ tiêu diệt toàn thể nhân loại vì cớ sự gian ác của loài người và Ngài chỉ tìm trong dân chúng được 8 người công bình để cứu. Chúng ta có thể đặt niềm tin vững chắc về điều này được không?

I. CƠN ĐẠI HỒNG THUỶ XUẤT HIỆN 

Sáng-thế Ký 7:11
Nếu không dựa vào thánh kinh, chúng ta sẽkhông chấp nhận làm sao trời có thể tạo nên cơn mưa trong suốt 40 ngày và 40 đêm với 1 lượng nước có thể làm chìm cả ngọn núi cao nhất thời bấy giờ khoảng 15 mét (tính từ đỉnh). Kinh thánh Sáng-thế Ký 7:20 giải thích rằng chính các nguồn nước từ các vực lớn nổ ra, từ các đập trên trời mở xuống. Chính hai nguồn nước này kết hợp với nhau làm nên cơn lụt trong suốt 40 ngày đêm tiêu diệt toàn bộ vạn vật trên đất.

II. CƠN ĐẠI HỒNG THUỶ XẢY RA TRÊN TOÀN THẾ GIỚI 

Nước lụt đã xảy ra trên đất 1656 năm sau khi A-đam được tạo dựng. Hầu hết người nam sống hơn 900 tuổi. Những người nam còn có thể sinh con từ độ tuổi 65 đến 500. Nếu mỗi gia đình sinh được 20 người con thì thế hệ cuối cùng trước cơn nạn hồng thuỷ, dân số toàn cầu đã có trên 2 tỷ người/ 200 triệu.

Nếu trận lụt xảy ra có tính địa phương thì đã không thể tiêu diệt cả nhân loại được (Sáng-thế Ký 7:19-23) và Đức Chúa Trời đã không bảo NÔ-Ê phải đóng tàu vì họ có thể di chuyển gia đình đến 1 khu vực khác an toàn hơn như Ngài đã làm về sau này với Lót khi đoán phạt thành Sôđôm.

Sáng-thế Ký 7:24; 8:5-14 mô tả trận lụt kéo dài trong suốt 150 ngày, tất cả mọi sinh vật đều chết (Sáng-thế Ký 7:21-23).

XÉT VỀ KHOA HỌC

Ngày nay các bằng chứng hoá thạch đã chứng minh niềm tin này, vì chúng được tìm thấy trong những mảnh lộn xộn trong các mồ chôn thú tập thể. Các con thú bị dòng nước lũ cuốn đến những vùng đất thấp và bị vùi lấp bởi phù sa, cát cùng với những thứ khác. Với sức ép có cường độ cao của hàng ngàn mét nhanh chóng làm hoá thạch các xác chết trong điều kiện mà các nhà khảo cổ đã tìm thấy ngày nay.

SỰ HÌNH THÀNH HOÁ THẠCH

Các yếu tố để hoá thạch hình thành bởi sự chết đột ngột và chôn lập tức của các sinh vật. Ap lực đột ngột của sự chết và chôn tránh sự tan rửa do ôxy hoá và các yếu tố khác tạo nên hoá thạch.

Bằng chứng: Các hoá thạch của những sinh vật biển và các đụn muối được hình thành bởi nước được tìm thấy trên đỉnh Ararát và những ngọn núi cao khắp thế giới. Điều này phù hợp với Kinh thánh : Đã từng có 1 trận lụt toàn cầu bao phủ mọi ngọn núi. Các nhà thám hiểm, nhà khảo cổ cũng đã tìm thấy 1 số lượng lớn các hoá thạch của đời sống biển. Khoảng 75% vỏ trái đất là đá trầm tích được hình thành trong nước và bởi nước.

XÉT VỀ TRUYỀN KHẨU 

Ngày nay người ta thống kê có hơn 200 ký thuật về câu chuyện trận đại hồng thuỷ đã tiêu diệt toàn thể nhân loại. Rải rác ở các dân tộc thuộc Batư, An độ, Inđônêsia, Tân Giêni, Tahti, Hawaii, Trung Hoa, Nhật bản, Syberia, úc, Tân tây lan, Alaska, Aicập, Suđan, Nigiêria, Nam phi, Hi lạp, Ireland, Lithuania, Finland, Wales, Ai Nhĩ lan cùng với những truyền thuyết, chi tiết nhất là của các dân tộc vùng núi Ararát, miền đông nước Thổ Nhĩ Kỳ, là nơi con tàu đã tấp vào, những lời truyền thuyết này đã được truyền khẩu trước khi họ có được quyển Kinh thánh. Một số dân tộc ở NamPhi như dân Hottentot tin rằng họ là con cháu của “Nah” và người Hawaii đã tường thuật trận lụt mà sau đó chỉ có “Nu-u” và gia đình ông được cứu sống.

Chúng ta có thể hiểu được sự lan truyền của những lời truyền khẩu này vì con trai của NÔ-Ê là Sem vẫn còn sống trong thời Apraham, Ysác, Giacốp. Những gốc dân khác được nghe kể về nạn lụt từ Cham, sem, Giaphết trước khi họ tan lạc khắp thế giới. Những câu chuyện dù bị sai lệch ít nhiều, nhưng sự kiện có quá nhiều lời truyền khẩu về cơn nạn hồng thuỷ khiến cho lời ký thuật của sáng thế ký mang giá trị đích thực.

III. CHIẾC TÀU KHÓ TIN 

Chiếc tàu khổng lồ: có chiều dài ít nhất là 150 m, rộng 25m, và cao 15 m, (Sáng-thế Ký 16:15, Dựa trên đơn vị cubit: 1 cube = 45cm)

* Câu hỏi được đặt ra là làm sao NÔ-Ê và các con trai có thể thực hiện được một công trình đồ sộ như thế.

* NÔ-Ê bắt đầu thực hiện chương trình này khi ôngđã 500 tuổi, có thể ông đã tích luỹ nhiều kiến thức và kỷ năng trong cuộc sống.

* Dựa trên cơ sở khoa học, 1 con tàu có tỉ lệ cân đối nhất trong nước phải là 6 đối 1. Trong nhiều thế kỷ qua các con tàu có tỉ lệ bình thường đều có tỉ lệ 10 đối 1. Điều này chứng minh rằng con tàu NÔ-Ê thực hiện qua sự huấn thị của Đức Chúa Trời có tỉ lệ rất chính xác.

Con tàu có khoảng 420 ngàn mét khối không gian để chứa hàng hoá, tương đươngvới 522 toa xe lửa, có dư chỗ để giữ tất cả các loại thú vật một cách dễ chịu.

Đối với các sinh vật sống trong nước thì không phải vào tàu.

Các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu các loài động vật và đưa đến sự tính toán như sau:

a, Động vật có vú 3500×2 (được đưa vào tàu/ 7:2)

b. Loài chim 8600×7 (được đưa vào tàu/ 7:3)

c. Các loài lưỡng cư và bò sát 5500×2 (được đưa vào tàu/ 7:2)

d. Tổng số các loài ngày nay 17600

Các loài được đưa vào tàu: khoảng : khoảng 78000?

* Đối với các loài côn trùng chiếm khoảng không gian rất nhỏ
Đức Chúa Trời bảo NÔ-Ê hãy đem mỗi cặp loại thú vào tàu. Thí dụ: chó sói, cáo, chó rừng, sói đồng cỏ… đều có thể được sinh sản và lai giống từ cặp chó đã vào tàu.

* Nhân loại từ đó được sản sinh từ cặp vợ chồng NÔ-Ê và gia đình 3 người con của ông.

NÔ-Ê TẬP HỌP CÁC THÚ VÀO TÀU NHƯ THẾ NÀO?

Sáng-thế Ký 7:8-9; 15 cho biết các thú vật “đến cùng NÔ-Ê ” như vậy có nghĩa là Đức Chúa Trời đã gây một tác động trong các loài thú vật để chúng tự di chuyển đến con tàu và đã ấn định thời gian cho chúng để chúng đến đúng ngày.

– Trong nghĩa địa hoá thạch ở tại Mỹ, những hoá thạch thú vật như: lạc đà, tê giác, lợn rừng khổng lồ… Những con thú này hiện nay chỉ sống ở Châu á và Châu Phi.

– Tại anh quốc các di tích của loài gấu nâu đốm, bò rừng, tuần lộc, khổng tượng, linh cẩu, trâu nước. Ngày nay không còn một loài nào trong các loài đó sống ở khu vực này.

NÔ-Ê VÀ GIA ĐÌNH ÔNG ĐÃ CHĂM SÓC CHO TẤT CẢ CÁC LOÀI THÚ NÀY BẰNG CÁCH NÀO? 

Hầu hết động vật đều có khả năng ngủ đông trong suốt những thời kỳlạnh lẽo, tối tăm. Cùng với sự chuyển động của con tàuýo lẽ cũng đã giúp cho thú vật im lặng và ngủ đi.
Các động vật không thể đi lại nhiều trong hoàn cảnh này, chắc hẳn cũng không cần nhiều thức ăn. Gia đình NÔ-Ê có thể nuôi dưỡng những con nào không ngủ cũng không quá nhiều khó khăn.

IV. CHIẾC TÀU ĐÃ TẤP VÀO NÚI ARARÁT 

Sáng-thế Ký 8:4 “Đến tháng thứ bảy, ngày 17, chiếc tàu tấp trên núi Ararát ”. Núi Ararát là rặng núi ở phía Đông Thổ Nhĩ Kỳ. Ngày nay thuộc địa phận biên giới Armenia.
Những chứng nhân mô tả về con tàu.

1. Năm 475 TC, một tư tế người Babilôn (Berossus) nói rằng người ta có thể thấy một chiếc tàu ở trên gọn núi tại Thổ Nhĩ Kì Armenia.
2. Năm 30 TC, Nicolas Damascenus đã viết về một ngọn núi Armenia mà trên đó một con tàu đã mắc cạn sau cơn hồng thuỷ.
3. Năm 130 SC, Josephus, một sử gia người Dothái, đã viết rằng chiếc tàu NÔ-Ê nằm trên một ngọn núi ở tại Armenia và vẫn còn nhìn thấy được.
4. Năm 130 SC, Marco polo tường thuật rằng chiếc tàu NÔ-Ê đã tấp trên cao một ngọn núi ở tại Armenia.
5. Năm 1883, một nhóm các đại biểu chính phủ Thổ NhĩKỳ khẳng định họ đã phát hiện chiếc tàu trong khi khảo sát một trận tuyết lỡ. Những người này đã vào trong xác tàu và tường thuật rằng họ tìm thấy phần bên trong “vẫn còn tốt và được ngăn chia như những căn phòng”
6. Năm 1905, một cậu bé người Armeni, Georgie Hagopian, và chú của mình đã leo lên nơi họ nhìn thấy chiếc tàu nhô ra từ một tảng băng. Cậu bé đã trèo lên con tàu và đã có thể mô tả con tàu một cách chi tiết. Một lời ký thuật qua băng về lời làm chứng của cậu đã được thực hiện không lâu trước khi cậu qua đời năm 1972 đã được đưa vào những thí nghiệm phân tích giọng nói cho thấy không có dấu hiệu là cậu đã nói dối.
7. Năm 1925, một phi công người Nga bay qua vùng Ararát trong thế chiến thứ nhất cho rằng ông đã nhìn thấy con tàu. Sau khi nghe lời báo cáo này, Nga hoàng đã gởi một đội lính đến địa điểm này, là nơi họ đã xác định và khảo sát có con tàu lớn. Nhưng trước khi họ có thể báo cáo trở về cho chỉ huy thì cuộc cách mạng Nga nổ ra và những người lính này đã bị tản lạc. Một số người cuối cùng đã đến tại Hoa kỳ và có một số bạn bè và bà con khác nhau khẳng định câu chuyện của họ.
8. Thế chiến thứ hai, các phi công Nga đã chụp các bức hình từ trên không cho thấy chiếc tàu NÔ-Ê đã nhô ra từ băng tuyết.
9. Năm 1948, một nông dân người Thổ Nhĩ Kỳ tuyên bố ông ta đã nhìn thấy con tàu trong khi trèo lên vùng băng tuyết và ông nói rằng ông đã bước đi trên sàn tàu.
10.Năm 1952, viên kỷ sư người Mỹ là George Green đã chụp các bức hình con tàu từ chiếc trực thăng của ông trong khi lượn trên vùng núi Ararát phủ tuyết.
11. Năm 1969, hai nhà thám hiểm khác nhau đã mang về những mảnh gỗ được khắc nhũ bằng tay từ con tàu.
12. Năm 1973, các bức hình vệ tinh đã phát hiện địa điểm chính xác của một vật thể khổng lồ “không nhận diện được” là thứ xa lạ đối với núi Ararát, là nơi nó được xác định.
13. Cuối cùng phải ghi nhận rằng hầu như tất cả các dân bản xứ thuộc vùng núi Ararát đều hoàn toàn nhất trí rằng con tàu đang ở đấy. Truyền thống dân gian của họ thường nói về con tàu và nhiều lần họ đã quả quyết những người chăn cừu lang thang phát hiện chúng vào mùa hè.

ĐIỀU GÌ KHIẾN CHO VIỆC KHÁM PHÁ CON TÀU TRỞ NÊN KHÓ KHĂN? 

Núi Ararát cao 5214 mét. Phần chân núi rộng 1040 km vuông. Phần đỉnh 1230m của núi bị bao phủ bằng lớp băng tuyết và có những nơi sâu đến 246m. Đây là một ngọn núi rất khó leo. Có hàng ngàn khe nứt và hốc núi có thể đã che giấu toàn bộ con tàu. Ơ đây thường xuyên có những trận động đất gây ra những vụ đất lỡ lớn, khí hậu đột ngột trở nên khắc nghiệt (những trận bão tuyết đóng băng là bình thường, kể cả vào mùa hè). Đây cũng là một khu vực nhạy cảm về chính trị. Vì Thổ Nhĩ Kỳ là một quốc gia Hồi giáo. Vùng biên giới núi Ararát nằm trên xứ Armenia, vốn thuộc Liên bang Xô viết

Người ta tin rằng con tàu ở độ cao khoảng 4308m đến 4769 m, tuy nhiên những người bản xứ tuyên bố là biết địa điểm thì từ chối không leo cao hơn những độ cao 3692-4000m. Thường thì những đội thám hiểm không thể tìm được người hướng dẫn, bất chấp số tiền được đề ra là bao nhiêu. Những người địa phương rất mê tín và họ tin rằng “các tà linh” đang canh giữ chiếc tàu. Tuy nhiên tất cả họ đều đồng ý rằng “Nuhem Genisi” (con tàu NÔ-Ê) vẫn còn đang nằm trên núi.

Hiện nay người ta vẫn chưa biết chính xáchoàn toàn nơi con tàu toạ lạc trên vùng núi đồ sộ ấy. Người ta tin rằng con tàu đang bị chôn chặt trong tuyết.

Từ trước đến nay các nhóm không được trang bị, không được tài trợ đầy đủ và không đủ tiêu chuẩn đã tấn công toà đại sứ Thổ Nhĩ Kỳ ở tại Hoa Kỳ tới tấp bằng những yêu cầu để xin phép được leo lên núi Ararát để tìm kiếm con tàu. Toà đại sứ Thổ Nhĩ Kỳhết sức chậm chạp đưa ra lời đồng ý cho phép các đoàn thám hiểm và điều này dường như không thể thành công. Một số người thậm chí đã trèo lên núi mà không có được sự cho phép chính thức, là điều đã làm ngăn trở cho những nhóm hợp pháp nhận được sự cho phép từ chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ.

**

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s