Hãy tống cổ tên Đại Sứ Mỹ chối bỏ cờ vàng Ted Osius ra khỏi cộng đồng tỵ nạn Vi ệt Nam (bài này dài hơn, US betrayal)

alt người lính già oregon

Đối với quân dân Miền Nam, còn trong nước hoặc ở hải ngoại, có hai tên đại sứ Mỹ tại Việt Nam rất vô lễ, hoặc cà chớn, nói theo ngôn từ bình dân, mỗi tên một kiểu. Đó là: (1) Cuối năm 1963, Henry Cabot Lodge, được ủy Mỹ thác nhiệm vụ lật đổ Tổng thống hợp pháp Ngô Đình Diệm, bởi cụ đã cực lực phản đối dự định của JFK đưa quân Mỹ vào chiến đấu trực tiếp tại VN. Qua những sách vở và tài liệu, được giải mật, đầy dẫy trên Net, người ta thấy Lodge rất hống hách, hành xử xấc xược như một tên thái thú Tàu ngày xưa, đã ra lệnh cho bọn phản tướng khuyển mã Việt Nam, ngu si, tham tiền, sát hại cụ, dẫn đến bao nhiêu xáo trộn về chính trị và quân sự và cuối cùng, cái chết tức tưởi của VNCH tháng 4,19751. Và (2) bây giờ, 40 năm sau, Ted Osius, một nhà ngoại giao cắc ké2, trước khi được hai xếp lớn, tổ sư thân Cộng, Obozo3 và Kerry4, cất nhắc, cho đi làm đại sứ tại Hà Nội, đã không muốn thấy lá Cờ Vàng được treo trong một hội trường tại Little Sài Gòn của Cộng đồng Người Việt Quốc Gia Tỵ Nạn California, trong tháng 7 vừa qua.


Không ai mà không biết, nhất là những quân dân Miền Nam “thua cuộc”, phải lưu lạc trên khắp thê giới, rằng chơi với Mỹ là chấp nhận nắm con dao đằng lưỡi. Và nói theo bà Ngô Đình Nhu, trong một cuộc phỏng vấn với các nhà báo Mỹ, sau khi chồng và anh chồng bị sát hại, tháng 11, 1963: “Khi bạn có Mỹ là đồng minh, bạn sẽ không cần có kẻ thù nữa”5 Nhất là trong giai đoạn hiện tại chính sách ngoại giao của Obozo và Kerry, hơn bao giờ hết, được đặt trên căn bản lợi nhuận, gọi là “smart power policy”, do một thiểu số tài phiệt giật dây. Có lợi là a-lê-hấp bắt tay với bất cứ ai, kể cả với cựu thù6 hạ tiện, ngu dốt, dơ dáy như VC, mà không cần sự phê chuẩn của Quốc Hội –bây giờ đang nằm trong tay Đảng Cộng Hòa gồm những thành viên nhát như thỏ đế, chỉ lo thủ ghế, không dám lên tiếng hó hé về điều gì. Obozo, một kẻ có bằng chứng thiên Cộng từ lúc còn là một tên community organizer vô danh tiểu tốt ở Chicago, khi trở thành tổng thống chó ngáp phải ruồi đã múa gậy vườn hoang: hòa giải với Cuba và Việt Cộng, vô điều kiện, nghĩa là không cần đặt nặng vấn đề tôn trọng tự do, nhân quyền, không như những tổng thống tiền nhiệm, nhượng bộ Putin, làm ngơ cho Bashar al. Assad của Syria giết hại dân bằng vũ khí hóa học, thỏa hiệp với Iran, đi đêm với thủ lãnh Palestine, nguyên là tên khủng bố, gây hấn với thủ tướng Do Thái Netanyahu, đồng minh lâu ngày của Mỹ, đánh cầm chừng bọn cuồng tín ISIS… và biết đâu nay mai ôm hôn thắm thiết tên Cộng sản độc tài Kim Jong Un (tục danh Kim Ủn Ỉn) của Bắc Hàn, mà không biết rằng mình đã trở thành thằng hề quốc tế, làm trò cười cho các nước (cf video về Annual Carnival Parade in Germany, 7/28/2015, trong đó người ta thấy có những chiếc xe treo nhiều hình hí họa, lố bịch châm chọc Obozo một cách thô bạo).
Đành rằng vậy. Nhưng tiện nhân chưa thấy ai, kể cả Cabot Lodge, xử sự một cách xấc xược, khốn nạn, đối với lá Cờ Vàng thiêng liêng của chúng ta cho bằng tên đại sứ Mỹ Ted Osius trong cuộc gặp gỡ giữa hắn và Cộng đồng Người Việt Hải Ngoại California trung tuần tháng 7, 2015. Nếu lột bỏ chức tước đi thì cá nhân Ted Osius không phải là mục tiêu xứng đáng, và tiện nhân cũng không hưỡn, để mà quan tâm tới. Đằng này, trong tư cách đại sứ Mỹ, hắn dám động đến lá Cờ Vàng thân yêu thi buộc lòng tiện nhân phải tarzan-nổi-giận, muốn lấy chổi chà tống cổ hắn về Hà Nội, y như những bà nhà quê ngày xưa đã làm với một tên khách mất dạy.

Mợ Thượng nghị sĩ Janet Nguyễn

Thú thực, qua những email, bài viết và video được bạn bè ưu ái gửi đến, tiện nhân thấy bối rối trước một số chi tiết không rõ ràng, có khi làm lẫn lộn (confusing), trừ một điều chắc chắn: Ted Osius đã xuất hiện tại hai nơi, Nam và Bắc Cali, và tại hai nơi, người ta không hề thấy một lá cờ VNCH, ngay cả bên ngoài hội trường. Bắc Cali có thành phố San José, thành trì chống Cộng, vào ngày 14/7, còn Nam Cali, tại Little Saigon, thủ đô của Người Tỵ Nạn, ngày 12/7 (cf trên Google). Đọc lại các bài viết, xem lại các video, tiện nhân biết rằng Ted Osius được Thượng nghị sĩ Tiểu bang Janet Nguyễn (một người khi mới nhậm chức đã tỏ vẻ o bế đồng hương, tôn trọng lá Cờ Vàng) mời đến tham dự một buổi họp báo với Osius do mợ tổ chức. Hội trường hôm ấy đầy nghẹt đồng hương, trong đó có “nhà báo” kiêm chủ tiệm cơm chay Lý Kiến Trúc –thường về VN và được VC xoa đầu khen “làm tốt” và tháng 4, 2014 được cho tháp tùng phái đoàn tên thứ trưởng Ngoại giao, Nguyễn Thanh Sơn, đặc trách Nghị quyết 36, ra thăm đảo Hoàng Sa, rồi trở lại Mỹ viết bài tâng bốc VC. Có cả Điếu Cày nữa, mà tiện nhân sẽ trở lại sau.
Theo video, trong buổi họp báo, khi có người thắc mắc tại sao không thấy lá Cờ Vàng nào, thì Ted Osius trả lời, bằng tiếng Anh, như sau: “[…] Tuy nhiên tôi đang làm một công việc mà có thể tạo ra được sự khác biệt thực sự. Và nếu tôi chụp hình với lá cờ đó, tôi sẽ bị mất việc và tôi không thể làm việc cho quý vị. Đơn giản vậy thôi. Tôi muốn có thể tiếp tục làm việc để cải thiện mọi quan hệ với Việt Nam”7

Không có cờ Vàng, và nghe Osius trả lời như rứa, cả hội trường (mà trong bài tường thuật đăng trên Net 8 , Osius ước lượng đông trên 300 người đến nghe hắn “lên lớp”, tuyên truyền cho chính sách bang giao, hòa giải, và trong số đó tiện nhân nghĩ phải có ít nhất một nửa là đồng hương quyết tâm chống Cộng, bảo vệ Cờ Vàng và chính nghĩa quốc gia) không nghe nói có lấy một người can đảm đứng lên, bỏ phòng họp, ra về. Khiến tiện nhân quá đỗi ngạc nhiên, tự hỏi: hay là dây thần kinh bất mãn, nếu không muốn nói xấu hổ, trong họ đã bị tê liệt? Nếu thật vậy, tiện nhân lo sợ, với cái đà “vô cảm”, lơ là, thiếu cảnh giác này thì một ngày nào đó Cờ Máu của VC sẽ tràn ngập trên Bolsa, như mới đây, ngày 19/7, trên đường phố Vancouver, thuộc xứ Canada của ông Thượng Ngô Thanh Hải (tác giả dự luật S-219), trong Lễ Hội Văn Hóa Các Sắc Tộc (Fusion Festival) 9 ,

Lát nữa đây, tiện nhân sẽ bình luận câu nói của Osius. Bây giờ xin kể tiếp về Mợ Thượng Janet.

Trong khi Osius nói thì mợ cười toe toét, tự sướng, mắt nhắm tít, hoặc liếc ngang liếc dọc, ra chiều “nhất trí” với “anh Ted” lắm. Sau đó, mợ lên bục phát biểu, nửa tiếng Anh nửa tiếng Việt, đều ba rọi như nhau, rằng thì là ông đại sứ nói đúng, ta phải tuân giữ lệnh cấm treo Cờ Vàng của Bộ Ngoại Giao. Mợ được phụ họa y chang bởi thằng Lỏi Láu Cá Bảo Nguyễn, đương kim thị trưởng Garden Grove. Thái độ và lời phát biểu của Mợ Thượng và Thằng Lỏi Láu Cá làm tiện nhân ngao ngán, buồn nôn, tự hỏi: chúng nó đắc cử vào chức vụ hiện tại là nhờ ai? Nhờ đồng hương tỵ nạn, chứ còn ai trồng khoai đất này, vô lẽ nhờ Mỹ Đen, Mỹ Trắng, Mỹ Nâu, hay Mễ Lậu (dù là lậu, cũng có thể đi bầu, vì Obozo và TCPVHK cấm các tiểu bang tra hỏi bằng chứng quốc tịch của cử tri)? Nay, rõ ràng, hai đứa trở mặt, một cách trắng trợn, bằng cách vỗ tay hùa theo tên Đại sứ Mỹ mất dạy, bắt dẹp cờ Vàng. Để rồi xem kỳ bầu cử sau, Ted Osius, hay Obozo, hay Kerry có giúp gì cho chúng nó được tái đắc cử hay không.
Chưa hết, Mợ Thượng còn mở cuộc tiếp tân tại nhà riêng khoản đãi “anh Ted”. Tại tư gia của mợ mà cũng không dám treo lá Cờ Vàng nào. Sợ gì mà sợ dữ vậy, hả mợ? Ngoài một vài người Mỹ, khách VN trong buổi tiếp tân có Điếu Cày, một tù nhân rất controversial (tạm hiểu: một đề tài tranh cãi ) “bị trục xuất” qua Mỹ, đã từ chối cầm Cờ Vàng được một fan trao tặng tại phi trường Los Angeles, tự nhận là một blogger tranh đấu cho tự do báo chí, mà chưa hề viết nổi một bài chống bạo quyền ra hồn, mà tự nhận không biết sự thật về chiến tranh VN, về Hồ Chí Minh, vì bị chế độ bưng bít, tuyên truyền một chiều, nên không trả lời câu hỏi về điều này của những tham dự viên10 v.v…
Hai ngày sau Little Saigon, 14/7, Ted Osius lên San José, tiếp tục họp với một số người Việt Nam thuộc thành phần khác, đặc biệt –mà tiện nhân gọi không sợ sai là Việt Gian.

Đám lâu la Việt Gian theo đóm ăn tàn tại San José:

Theo video và bài viết của Tiến sĩ Nguyễn Phúc Liên (Genève) do thân hữu chuyển tiếp qua email, tiện nhân thấy bọn lâu la này gồm những bộ mặt mo, cũ mèm, mà đồng hương đã chán ngấy, nhưng cũng phải (khổ sở) kể ra. Đó là (1) Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, cựu chủ tịch BPSOS, đang phụ trách giúp đỡ đám du sinh CÔCC (Con Ông Cháu Cha) VC từ VN sang, một anh chuyên nghề sống nhờ “phân” Liên bang, (2) Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, mà theo công luận người Việt hải ngoại là một cựu “tù cha”, một “đối lập viên” có giấy phép của VC (tức là cuội) (3) Hoàng Tứ Duy và (4) Huỳnh Trang, thuộc Việt Tân, (5) Bác sĩ Nguyễn Quốc Quân, (6) Bác sĩ Nguyễn Thế Bình, và (7) “một thanh niên trẻ tên Đức, thuộc đảng Dân Chủ tại Boston”11.
Bọn “cố vấn” cóc nhái này được NSC (National Security Council), tức Hội đồng An ninh Quốc gia, chứ không phải Bộ Ngoại Giao, mời đến để tham khảo ý kiến (ô hô!), với Ted Osius, như là đại diện cho Cộng đồng Người Việt tại Mỹ (chu choa!), trong phòng họp của hội đồng thành phố San José. Chúng mừng lắm. Chụp hình chung và mặt đứa nào cũng tươi rói, hí hửng.
Không có một đại diện chính thức nào của Cộng đồng Việt Nam và nhân sĩ chống Cộng nào của San José hay các thành phố, tiểu bang khác được mời tham dự. Người ta hiểu Obozo rất né những vị này, thế thôi. Ngược lại, trong phòng họp chỉ có những gã activists tự phong thuộcloại hàng giả, hàng dởm, hàng dở, hàng nhái, hàng độc (hại) made in Hà Nội, những con cừu ngây ngô, những tên chính trị gia chập chờn, tài hèn đức mỏng mà tham vọng ngút trời, những tiến sĩ, bác sĩ này nọ… Toàn một lũ trí thức ruồi bu, hoang tưởng, mà “giá trị không bằng một cục phân” của Mao Trạch Đông (cục phân đối với Cộng sản còn có thể dùng để bón ruộng), vô nghề ngỗng, và rảnh quá, bèn đi làm chính trị nhi nhô mà không biết mình là những con khỉ làm trò trong gánh sơn đông mãi võ bán thuốc hòa giải của VC và Mỹ. Chưa kể những tên gốc cán bộ, cán binh VC chánh hiệu con nai, chống đối bạo quyền có môn bài, được VC xuất khẩu sang Mỹ, như Cù Huy Hà Vũ hoặc Điếu Cày, mà sự hiện diện vô tình, hay hữu ý làm lũng đoạn, gây phân hóa Cộng đồng Tỵ nạn, đúng theo bài bản của Nghị quyết 36, và làm gạch nối giữa Mỹ và VC trong chủ trương xóa bỏ hận thù.
Tại San José, một sự kiện xảy ra: một phụ nữ đeo trên cổ một dây quàng bằng vải thêu hình lá Cờ Vàng gắn với lá cờ Mỹ. Khi vào phòng họp, bà bị tên nhân viên lếu láo của nghị viên thành phố Ash Kalra (gốc Ấn Độ, cách đây 4 năm, đã bị cảnh sát bắt về tội say rượu lái xe) chận lại, bắt tháo ra, nếu không sẽ bị cấm cửa. Bởi vậy mới có chuyện.

Thái độ phi ngoại giao của tên ngoại giao Ted Osius:

Đối với quân dân Miền Nam tỵ nạn VC, lưu lạc khắp nơi trên thế giới, hay còn đang sống tủi hờn, vất vưởng tại quê nhà (như các thương phế binh bị bạo quyền trù dập), lá Cờ Vàng vẫn luôn luôn là linh hồn của dân tộc VN, là biểu tượng của Tự Do được bảo vệ, qua nhiều thế hệ, bằng xương máu của biết bao chiến sĩ, anh hùng VNCH, trong cuộc chiến đấu gian khổ với quân thù Cộng sản côn đồ xâm lăng từ phương Bắc, đã hy sinh nằm xuống cho tổ quốc được vươn lên, trường tồn. Trong lòng những người Việt Nam quốc gia chân chính, lá Cờ Vàng, vượt trên ý niệm biểu tượng, dấu tích, còn là huyết mạch, là lẽ sống, là hồn thiêng sông núi, là quê hương Việt Nam, là chính nghĩa quốc gia sáng ngời, là căn cước tỵ nạn. Mất nó, người Việt Nam tại Mỹ, hay trên thế giới, dù sống hợp pháp, cũng chỉ là loại di dân vô tổ quốc, tha phương cầu thực, đâu khác chi những Mễ Lậu, Tàu Lậu, Phi Châu Lậu. Lá Cờ Vàng, vì thế, đã được công nhận bởi rất nhiều tiểu bang, thành phố Mỹ có đông người Việt Quốc Gia chống Cộng. Cho nên, dù qua bao nhiêu tang thương, vật đổi sao dời đã xảy ra cho đất nước, vẫn phất phới bay, rực rỡ, ngạo nghễ trong tim đồng hương tỵ nạn và con cháu luôn khát khao lý tưởng tự do, dân chủ, hòa bình.
Ted Osius, Janet Nguyễn, Bảo Nguyễn, và lũ Việt Gian “cố vấn” xuất hiện tại San José ngày 14/7 phải biết điều đó. Obozo, Kerry, và đám dân biểu, thượng nghị sĩ trong Quốc Hội, và những tên nhà báo Cấp tiến, phản chiến, thiên Cộng kinh niên, bất trị –bây giờ chủ trương hòa giải vô điều kiện với VC– phải biết điều đó. Những kẻ này phải biết thêm rằng khinh chê, vứt bỏ lá Cờ Vàng, dưới bất cứ hình thức nào, với bất cứ lý do nào, bởi bất cứ ai, kể cả Obozo, Biden, Clinton, hay Kerry, là cố tình khiêu khích, chọc giận Cộng đồng Người Việt Quốc Gia, nếu không muốn nói gây chiến với họ. Dù chính sách thay đổi. Dù gió đã đổi chiều. Dù bạn và thù được Mỹ coi như xêm xêm, trong nồi cám heo “vĩ đại”. Dù gì, cũng mặc kệ.
Thực ra, tiện nhân chưa bao giờ đọc được, hay nghe được, lệnh cấm treo cờ Vàng từ Obozo hay Kerry, và Osius trong câu trả lời cũng không nói đó là lệnh cấm của ai. Chỉ có Mợ Thượng và Thằng Lỏi Láu Cá, bảo hoàng hơn vua, hoặc mưu toan trở cờ, nâng bi Mỹ, vì quyền lợi, hay vì quá ngu đần, bịa ra, để hù dọa những đồng hương yếu bóng vía. Ở xứ Mỹ tự do này, chính phủ nào có quyền cấm Người Việt Tỵ Nạn treo tại Cộng đồng của họ, hay cầm trên tay, lá Cờ Vàng lá cờ mà nếu không còn đưọc pháp luật Mỹ và Quốc tế xem là biểu tượng của quốc gia VNCH đã mất, thì ít ra, trong lòng mỗi người Việt chân chính, cũng là dấu tích của một lý tưởng cao đẹp, của một cuộc chiến đấu hào hùng, và một tấm lòng thủy chung vô bờ đối với đất nước những ngày xưa cũ? Cộng đồng Việt Nam tại Mỹ và trên thế giới, tuy nhỏ, nhưng là một thực thể, hay thực tế, rất quan trọng về nhiều mặt, mà không một chính quyền sở tại nào được phép coi thường.
Nghĩa là việc tên Đại sứ Osius đã không muốn đứng dưới, hay chụp hình với, lá Cờ Vàng, là do quyết định cá nhân của hắn, vì sợ VC, vì nịnh VC, vì muốn lấy điểm với VC (nghe nói, tại San José, hắn gắn trên túi áo, hình Cờ Máu gắn với cờ Mỹ, nhân kỷ niệm 20 năm ngày Mỹ lập bang giao với VC). Giống y chang ả Tim, nguời Thụy Sĩ, tay sai VC, mấy năm trước đây, từ VN qua Mỹ năn nỉ xin tiền người Quốc gia để đem về cho VC, mà lại ngu, từ chối đứng dưới lá Cờ Vàng trên sân khấu, chưa nói là bỏ ra ngoài lúc chào cờ, bị đồng bào chửi như tát nước, khiến ả tởn tới già không dám bén mảng đến Mỹ nữa. Như chính Osius tuyên bố, một cách phi ngoại giao, hắn sợ mất cái job đại sứ béo bở tại Hà Nội, lần đầu mới vớ được, trên dưới chưa đầy một năm, mà hắn quá mê, vì đã tự trao nhiệm vụ:củng cố bang giao giữa Mỹ và VC, và khuyến dụ thanh niên VN cổ võ phong trào gaylesbian và hôn nhân đồng tính –là điều tương đối dễ dàng trong một Việt Nam Cộng Sản mà đạo lý quá suy đồi hiện nay, so với các nước Á Châu khác2. Osius quên rằng VC là một lũ lưu manh, tráo trở, lừa bịp, xài luật rừng (xem gương của những thằng, những con Việt Kiều bị VC lừa đem tiền về nước làm ăn, rồi sau một thời gian, mất của, bị tù, phải ôm đầu máu, mếu máo chạy ra lại hải ngoại. Hay vụ viên phó lãnh sự Mỹ tại Sài Gòn, còn nhớ tên là Merchant (?), năm nào bị công an chận đánh công khai, tả tơi, trước ống kính quay phim, không cho đến thăm cha Nguyễn Văn Lý). Osius cũng quên rằng, chức đại sứ là một hình thức thưởng công, đền ơn cho phe đảng của (những) tổng thống Mỹ, chứ chẳng phải nhờ tài giỏi, công lao cá nhân, hoặc bất khả thay thế. Liệu sau 2016, với tổng thống mới, Osius có còn tại chức để phục vụ cho bạo quyền VC nữa thôi?
Hỏi tức là trả lời. Cái dại của Osius là đã quá tự tin, quá tự mãn, quá narcissist (tự tôn?) để trở thành một thứ người mất dạy, cà chớn, vô giáo dục: được mời đến nhà người ta mà bắt gia chủ giấu hình ảnh tổ tiên đi, là một thứ văn hóa nào vậy? Đến với Cộng đồng Người Việt Quốc Gia Tỵ Nạn Chống Cộng mà đòi dẹp bỏ lá Cờ Vàng thân yêu của họ thì còn có cái ngu nào hơn cái ngu này?
Bị chửi là phải lắm rồi. Chưa bị chổi chà đét vào đít là còn may đấy, hiểu không, Ted?

CHÚ THÍCH

1) Theo tài liệu giải mật (cf Google, hay Yahoo) chính Lodge đã cho phép bọn phản tướng giết cụ Diệm mà không thông báo trước cho JFK. NLGO tôi còn nhớ y bị dân Miền Nam lúc bấy giờ khinh ghét đến độ đã lấy tên y, “ca-bốt-lốt” (theo tiếng Pháp capote anglaise), hay “ông đại sứ”, đặt cho bao cao su ngừa thai (condom).

2) Trên tờ Washington Blade, số cuối năm 2014, sau ngày được Thượng Viện Mỹ phê chuẩn cho làm đại sứ tại VN, tháng 10, 2014, Ted Osius mừng húm, tuyên bố: “Giấc mơ đã thành hiện thực. Tôi cảm thấy như đã chuẩn bị cái job này trong 25 năm.” Tức là từ 1990, trước cả khi Clinton quyết định bang giao với VC (1995). Năm 1997, hắn đã làm việc tại VN, như là một nhân viên xoàng tại tòa đại sứ Mỹ. Sau đó, Osius đút ống đu đủ bơm xếp trực tiếp, tức đương kim bộ trưởng Ngoại giao Kerry: “Ông yêu Việt Nam. Ông thực sự quan tâm đến Việt Nam. Ông muốn tôi vào đó” (He loves Vietnam […] He really cares about Vietnam and he wanted me in). Trong buổi thảo luận tại Thượng Viện, Osius tuyên bố với Ủy ban Ngoại giao TV rằng bây giờ đã đến lúc “Mỹ cần duyệt xét bãi bỏ lệnh hạn chế buôn bán vũ khí cho VN -đang mua hầu hết vũ khí từ Nga […]” Osius nói công việc chính của hắn, trong chức vụ đại sứ, là sẽ hoàn thành hiệp ước giữa hai quốc gia được Obama và Trương Tấn Sang ký kết năm 2012, gồm một số lãnh vực cộng tác, kể cả an ninh chính trị và phát triển kinh tế. Y nói, “Công việc, như tôi quan niệm, là lắp thịt vào những khúc xương của thỏa ước ấy” (My job as I see it is to put the flesh on the bones of that agreement). Ngoài ra, như một đại sứ công khai gay thứ 7 của Mỹ, hắn cũng muốn quần chúng VN công nhận quyền của LGBT (người đồng tính) tại đó. Y nói: “Tôi muốn được [NLGO: lịch sử] nhớ như là một người thực sự đã gắn sâu mối quan hệ; thực sự đã làm những việc lớn lao cho quan hệ giữa hai quốc gia Mỹ và Việt Nam; đã thực sự là một người hữu hiệu; đã kính trọng VN, kính trọng dân Việt Nam; nói tiếng của họ; biết rành Việt Nam và là gay […] . Như thế mới là điều tôi muốn được nhớ tới” ( I would like to be remembered as someone who really deepened the relationship; really did great things for U.S.-Vietnam relations; was really, really effective; respected Vietnam; respected its people; speaks its language; knows the country well and who happens to be gay, he told the Blade. That’s how I would like to be (remembered). Sau cùng, Osius tháp tùng Nguyễn Phú Trọng trong chuyến Mỹ du vừa qua, với tư cách thông dịch viên.
3) Cũng như việc Obozo là một tín đồ Hồi giáo (Muslim), lý lịch và lập trường chống tư bản của y có tài liệu hẳn hoi, kể cả trong sách hồi ký của y, không phải chuyện bịa đặt hay vu khống, mặc dù đã nhiều lần y công khai chối không phải là Muslim hay thiên Cộng: a- Cha y là một người Cộng sản, mẹ là một cảm tình viên (sympathizer) CS; b- Thời trẻ, y được bảo trợ (mentored) bởi tay Cộng sản Frank Marshall Davis; làm bạn với những đồng môn và giáo sư Marxist trong trường Occidental College; tham dự những buổi hội thảo của những Học giả có khuynh hướng Xã hội (Socialist Scholars Conferences) tại New York; được huấn luyện về phương pháp tổ chức cộng đồng (community-organizing methods) của Saul Alinsky, một bạn đồng hành CS; nối dây liên hệ cá nhân và chính trị mật thiết với tổ chức cộng đồng thiên tả ACORN, và với những tay tổ marxist nổi tiếng (đồng thời là cựu khủng bố quốc nội) Bill Ayers và Bernardine Dohrn; được chỉ định làm việc tại một văn phòng chính trị đầu tiên bởi Alice Palmer, một nhân vật thân Liên Xô tại Illinois; thập niên 1990s, là thành viên của New Party, một liên đảng chính trị xã hội; quan hệ gần gũi với Midwest Academy, một cơ sở huấn luyện cấp tiến mà tác giả Stanley Kurtz đã mô tả như một “tổ chưc xã hội bí mật” (crypto-socialist organization). c- Obozo đã trong vòng 20 năm đến dự lễ tại nhà thờ của Mục sư Jeremiah Wright, người giảng về lý thuyết Marxist và thần học khai phóng (liberation theology, khai thác người nghèo). d- Là tổng thống, Obozo bổ nhiệm Carol Browner, một cựu “ủy viên” (commissioner) của Quốc tế Xã hội làm “thủ lãnh môi trường” (environment czar); sử dụng giám đốc Liên Lạc của Tòa Bạch Ốc, Anita Dunn, để trích dẫn lời của Mao Trạch Đông mà y thị xem như một trong “những triết gia chính trị yêu thích nhất” (favorite political philosophers); bổ nhiệm làm “lãnh tụ khoa học” (science czar), John Holdren, người xem chủ nghĩa tư bản là một hệ thống tự bản chất có tính cách hủy hoại môi trường; bổ nhiệm Van Jones, một cựu Cộng sản Cách mạng lâu năm làm “green jobs czar” (thủ lãnh tìm những job xanh, tức bảo vệ môi trường); e- Obozo cổ động mạnh mẽ cho việc tái phân phối tài sản đồng đều trong nước Mỹ và trên toàn thế giới…
4) Trong quyển Unfit for Command, của John O’Neill, Regnery Publishing, INC, xuất bản, năm 2004, chương 7 có tựa đề “Meeting with the enemy” (Gặp gỡ kẻ thù, tr. 123-137), và chương 9, “Kerry’s Communist Honors” (Vinh dự Cộng sản dành cho Kerry, tr. 167-174), nói về những hoạt động thân VC của John Kerry, đương kim bộ trưởng Ngoại giao của Obozo. Quả vậy, tên phản chiến kiêm phản bội Kerry đã góp phần không nhỏ trong việc làm quân Mỹ bại trận kéo theo sự sụp đổ của Miền Nam chúng ta, và đã được Cộng sản thưởng công xứng đáng. Như sau: Sau bốn tháng phục vụ ở Việt Nam, Kerry trở về Mỹ, nhờ những chiến thương và huy chương mà nhóm “Swiftees” cho là “lèo” (“fraudulent”, tr. 71), và trở thành phát ngôn nhân của nhóm “Vietnam Veterans Against the War” (Cựu quân nhân Mỹ ở Việt Nam chống chiến tranh), ra Quốc hội tố cáo “tội ác” của lính Mỹ, và của chính y, tại Việt Nam. Vấn đề chính yếu ở đây, đối với O’Neill, là những lời lẽ mà Kerry đã sử dụng năm 1971 giống hệt như những luận điệu của Việt Cộng được tình báo KGB Liên Xô dạy cho. a- Theo Ion Mihai Pacepa, sĩ quan KGB cao cấp đào thoát sang Tây phương, KGB đã bỏ hàng triệu Mỹ kim để xuyên tạc sự hiện diện của Hoa Kỳ tại Việt Nam và tạo ra “những lời tố cáo hằn học mà Kerry đã lặp lại gần như từng chữ tại Quốc hội Mỹ và gieo trồng vào các phong trào thiên tả cùng khắp Âu Châu.”(123-124). Trong quyển The Many Faces of John Kerry, WND Books, Tennessee, 2003, tác giả David N. Bossie, chủ tịch Hội bảo thủ “Citizens United ở Washington DC”, viết rằng phi công John McCain, khi còn trong nhà giam Hỏa Lò, đã nghe những lời tố cáo này của Kerry và đã bị bọn Việt Cộng “quay tơi bời” (bombarding), cùng với những tù nhân khác, bởi những câu hỏi về “tội ác chiến tranh” mà Kerry đã dựng đứng lên và gán cho họ (61). b- Tháng 6, 1971, Lê Ðức Thọ đến Paris dự hòa đàm trong phái đoàn Cộng sản Bắc Việt và gặp Nguyễn Thị Bình của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam mà ai cũng biết là tay sai của Hà Nội. Vài ngày sau khi gặp Thọ, Thị Bình đã tung ra đề nghị bảy điểm để chấm dứt chiến tranh, dựa trên ý kiến của thủ tướng Trung Cộng Chu Ân Lai, trong đó có điều khoản bắt buộc Mỹ, nếu muốn lấy tù binh về, phải ấn định thời gian “rút toàn bộ, đơn phương, quân đội ra khỏi Việt Nam.” (O’Neill, 126).Nhưng trước đó khoảng một năm, Kerry đã đến Paris, với tư cách cá nhân, để “nói chuyện riêng với đại diện cao cấp của phái đoàn Cộng sản”,theo lời ủy ban tranh cử (tổng thống) của Kerry thú nhận (O’Neill, 127). Lúc đó (năm 1970), sự việc này còn là tin đồn, nhưng vào ngày 22/4/1971, được công khai xác nhận bởi chính Kerry trong buổi điều trần trước ủy ban Fulbright. Y nói: “Tôi đã đến Paris. Tôi đã nói chuyện với cả hai phái đoàn trong hòa đàm, có nghĩa là Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam và Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời [ghi chú của NLGO: tức Mặt trận giải phóng miền Nam]” (O’Neill, 137). Người đại diện cao cấp được nhắc đến đó là Nguyễn Thị Bình, và trong buổi nói chuyện có cả hai phe Cộng sản Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Ngày 22/7/1971, Kerry tổ chức họp báo ở Washington DC, và đại diện cho tổ chức “Cựu Quân Nhân Mỹ ở Việt Nam chống chiến tranh” y công khai yêu cầu Tổng thống Nixon chấp nhận kế hoạch bảy điểm của Thị Bình, vì theo y, Cộng sản Việt Nam đã hứa thả tù binh rồi, thì Nixon không nại cớ gì để không định ngày rút quân (O’Neill, 127). c- Theo hồ sơ FBI theo dõi nhóm “Cựu quân nhân chống chiến tranh”, mục tiêu quan trọng của nhóm này, vào năm 1971, là gửi đại diện sang Paris hoặc Hà Nội để gặp gỡ kẻ thù. Ngoài Kerry, còn có “đồng chí” Al Hubbard, thủ lãnh của nhóm –một anh trung sĩ Không quân da đen, nhưng mạo danh là Ðại úy phi công ở Việt Nam bị thương khi thi hành công tác (O’Neill, 125). Hubbard đã đến Paris để gặp Xuân Thủy, trưởng đoàn Cộng sản Bắc Việt, và người của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, và đạt thỏa thuận là Cộng sản sẽ “thả một số tù binh Mỹ cho nhóm ‘Cựu quân nhân chống chiến tranh’, với điều kiện là nhóm này gửi một phái đoàn đến Hà Nội vào khoảng lễ Giáng sinh.” (O’Neill, 131).Ngoài ra, cũng theo lời Hubbard, hai bên hứa cộng tác đẩy mạnh phong trào phản chiến tại Mỹ. d- Kerry lại sang Paris lần thứ hai mùa hè 1971 để gặp đại diện Cộng sản bàn về việc thả tù binh và củng cố lực lượng cho nhóm chống chiến tranh của mình và phong trào phản chiến. Gerald Nicosia, một sử gia ủng hộ nhóm “Cựu quân nhân chống chiến tranh” và rất thân Kerry, đã xác nhận điều này trên báo Los Angeles Times ngày 24/5/2004, qua những tài liệu ông có được từ FBI (O’Neill, 135). e- Theo FBI, ngày 14/6/1971, Kerry, trong bài diễn văn đọc tại cơ quan YMCA, Philadelphia, đã không tiếc lời ca tụng Hồ Chí Minh và gọi tên tội đồ này là George Washington của Việt Nam, đồng thời lên án gắt gao Hoa Kỳ về những hoạt động tại Việt Nam (O’Neill, 137). f- Qua sự điều tra chính xác và mới nhất, tác giả của Unfit for Command cả quyết rằng hiện nay trong Bảo Tàng Viện Di Tích Chiến Tranh (War Remnants Museum) ở Thành phố Hồ Chí Minh –trước kia mang tên Bảo Tàng Viện Tội Ác Chiến Tranh– có treo một bức ảnh của John Kerry trong một phòng với tiêu đề “Thế giới ủng hộ Việt Nam trong cuộc kháng chiến” (The World Supports Vietnam in its Resistance, O’Neill, 167), kế bên hình của các lãnh tụ Trung Cộng, các nhóm khủng bố như Fatah (thuộc Mặt trận giải phóng Palestine), và đặc biệt ảnh của David Miller, một tên phản chiến Mỹ khác, đang đốt thẻ quân dịch vào năm 1965, v.v… Hình chụp năm 1993 lúc Kerry bắt tay “đồng chí” Ðỗ Mười, Tổng bí thư Ðảng Cộng sản Việt Nam, được Jeffrey M. Epstein trong nhóm “Vietnam Vets for the Truth” (Cựu quân nhân chiến tranh Việt Nam cho Sự Thật. Ghi chú của NLGO: nhóm này không phải nhóm hải quân “Swiftees” của O’Neill) cho là một bằng chứng rằng Cộng sản “rõ ràng ghi nhận công lao của John Kerry đóng góp cho sự chiến thắng của họ.” (O’Neill, 168). Phòng triển lãm tràn ngập những biểu ngữ, hình ảnh chống chiến tranh từ các phong trào phản chiến khắp thế giới đã ủng hộ Cộng sản trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Kerry chối rằng y chụp hình với Ðỗ Mười khi tháp tùng phái đoàn Mỹ đến Việt Nam tìm các quân nhân mất tích. Cũng OK đi! Nhưng, theo O’Neill, bức hình được treo trong Bảo tàng viện như một hình thức tri ân của Cộng sản đối với Kerry lại là một chuyện khác (172). g-Trong sách The Many Faces of John Kerry (tạm dịch: John Kerry, người muôn mặt) của David Bossie, cựu Trung tá Oliver North –có hai chiến thương bội tinh tại Việt Nam, hiện là phóng viên của đài Fox News– nói rằng trong hồi ký của tướng Cộng sản Võ Nguyên Giáp, xuất bản năm 1985, tên của Kerry được nhắc đến như một người đã góp công lớn cho Cộng sản, vì nếu không có những người phản chiến như Kerry, Giáp viết, thì Cộng sản khó mà chiến thắng. h- Cuối cùng, O’Neill nhắc đến việc Chủ tịch Ủy Ban Đối Ngoại Thượng Viện Kerry ngăn không cho Thượng viện Mỹ thảo luận Dự luật Nhân Quyền (H.R. 2833) bất lợi cho Việt Nam, mặc dù dự luật đã được Hạ viện chấp thuận năm 2001 với số phiếu 410-1. Vì vụ này, Kerry đã bị đồng bào phe ta ở Massachusetts kéo tới văn phòng của y để phản đối.k- Tin mới nhất từ Net: Kerry hiện đang ở Hà Nội để mừng lễ kỷ niệm 20 năm ngày thành lập bang giao giữa Mỹ và VC. Nhân dịp này, Kerry tuyên bố: “Các tiến bộ về nhân quyền và thượng tôn luật pháp sẽ tạo những cơ sở phát triển quan hệ đối tác chiến lược (giữa hai nước) sâu rộng hơn và bền vững hơn”. Mặc nhiên ca ngợi VC có tiên bộ về nhân quyền.

5) Bà Ngô Đình Nhu, tại Beverly Hill, CA, cùng với con gái Lệ Thủy: “Whoever has the Americans as allies does not need enemies.” cf Howard Jones, Death of a Generation, 2003, New York City, Oxford U. Press, p. 407.
6) Tríchthư của Tiến sĩ Nguyễn Văn Thái, Philadelphia: “Clinton đến Bush rồi đến Obama đối ngoại đều theo một chính sách chung được lèo lái đàng sau bởi nhóm tài phiệt. Từ hard power foreign policy (dùng sức mạnh vũ khí và quân đội: tốn kém quá nhiều mà không đạt kết quả) đến soft power (“dụ khị và tiền”, nhưng tiền là chính và thua Tàu về chính sách này để Tàu chiếm gần hết Phi châu vì TC bỏ tiền ra mà không có điều kiện gây bất ổn cho địa vị của những tên độc tài), và nay là “smart power” có nghĩa là sức mạnh quân sự chỉ để “hù”, kinh tế như cấm vận là biện pháp trừng phạt dự trù, và điểm chính là nhập cuộc (engagement): sẵn sàng đối thoại với bất kỳ quốc gia nào bất kể khác biệt về chính kiến, ý thức hệ, và hệ thống chính trị và chính quyền; chỗ nào đồng thuận thì hợp tác, chỗ nào bất đồng ý kiến thì “hạ hồi phân giải”. Chính sách “hạ hồi phân giải” này đã đẩy 90% dân số VN vào thân phận nô lệ, bị trấn lột và đàn áp dã man, một tình trạng mà chính quyền Mỹ biện minh là vấn đề nội bộ và chủ quyền của VN. Kết quả của chính sách này có lợi cho tài phiệt Mỹ: (1) không phải thí mạng lính, ít tốn kém, (2) không mất nhân tâm, (3) cơ hội đầu tư kinh tế có lợi cho tài phiệt Mỹ và tư bản đỏ VN (lợi tức cho VN có được phân phối cho dân VN hay không là vấn đề chủ quyền của VN, Mỹ không can dự, và (4) về lâu về dài có thể kéo VN về phía Mỹ (theo tính toán của Mỹ qua các surveys thì đa số dân VN muốn theo Mỹ và ghét Tàu nên Mỹ cho là “thiên thời” rất tốt và đó là lý do Ted Osius đi “du thuyết” cộng đồng người Việt hải ngoại. Dĩ nhiên là những người còn thương đất nước Việt Nam và nhân dân Việt Nam thấy rõ là chính sách ngoại giao hiện tại của Mỹ chỉ có lợi cho Mỹ (tài phiệt), nhưng không màng đến thân phận đoạ đày của 90% nhân dân Việt Nam đang bị trấn lột và đàn áp khắc nghiệt. Người Việt tại Mỹ chỉ là một thiểu số rất nhỏ (tất cà người Á đông chỉ chiếm khoảng 3% dân số toàn quốc) nên chưa đủ sức mạnh để thay đổi chính sách của chính quyền Mỹ. Cho nên bài toán cho những nhà hoạt động cho tự do và dân chủ cho VN là làm thế nào lật đổ được chế độ CSVN mà không có sự chống đối hay cấm cản của chính quyền Mỹ, trái lại rất có thể có được sự hỗ trợ của chính quyền Mỹ và của thế giới tự do. Vấn đề là hiểu Mỹ và đưa ra chiến lược và chiến thuật thích hợp.”
7) cf https://www.youtube.com/watch?v=VXUvrupr-es
8) cf Google, Ted Osius, “Notes”.
9) Xin mở link: http://news.zing.vn/Co-do-sao-vang-tung-bay-trong-le-hoi-tren-dat-Canada-https://ci3.

10) cf video buổi “hội luận” giữa Điếu Cày và Ban Biên Tập Bản Tin Hoa Thịnh Đốn, được diễn ra ngày 23/11/14 tại Annandale, VA, và mới đây, 19/7, trong buổi gặp gỡ với những cựu tù nhân chính trị, Khu Hội Bắc Cali, tại San José.
cf https://www.youtube.com/watch?v=ksfHRHNKVN0

11) Do một ông bạn, Hải Quân Đại úy, chuyển từ Đức quốc:
cf bài: “ĐÁM ĐÓN GIÓ TRỞ CỜ NHẨY BÀN ĐỘC: BƯNG BÔ CSVN, NÂNG BI MỸ, PHẢN BỘI DÂN TỘC” bởi Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế, Geneva, 20.07.2015
Web : http://VietTUDAN.net. (Trích một đoạn ngắn): “Đám người này đã từng âm mưu xóa NGÀY QUỐC HẬN 30/4 và NGÀY QUÂN LỰC VNCH 19/6 nhằm nịnh bợ CSVN chờ ngày nhẩy bàn độc đứng chung với CSVN chia nhau những mẩu bánh rơi rụng. Trong khi CSVN đang đi đến chỗ tan rã, thì Hoa kỳ và cũng cái đám người nịnh bợ CSVN này, lại nâng bi Mỹ tìm cách cứu vớt Cơ chế CSVN dưới Giải pháp Hòa Giải Hòa Hợp trá hình nhằm kéo dài thêm cái đảng cướp CSVN trên đầu Dân Tộc […]”

Xin mở:
https://www.youtube.com/watch?v=KXae31J_uig].
http://www.rfa.org/vietnamese/vietnamnews/us-dont-wn-chang-vn-polit-system-07282015081545.html]

Tiện nhân tin chắc rằng tất cả quý vị đều đã nhận, đọc bài, xem video về những vụ xảy ra trên.

Portland, 7 August 2015
Người Lính Già Oregon,
cựu sĩ quan VNCH, cựu tù nhân cải tạo, cựu tù nhân vượt biên,
đương kiêm tỵ nạn VC tại Mỹ,
quyết bảo vệ Cờ Vàng, chống VC cho tới sau hơi thở cuối cùng.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s