QLVNCH:(Những Trận Đánh) – Tiểu Đoàn 11 BĐQ. Phần 2. Chư Pa. Hồi ký Vương Mộng Long


Tiểu Đoàn 11 BĐQ. Phần 2. Chư Pa. Hồi ký Vương Mộng Long 

Chư Pa là một ngọn núi cao sừng sững án ngữ một vùng trời miền tây bắc Pleiku. Trên bản đồ tỷ lệ 1 trên 50 nghìn thì Chư Pa nằm cách Plei M’rong hơn một gang tay về bên trái.

 Đỉnh núi là một tảng đá hình khối chữ nhật, cao cỡ mười mét, dài và rộng cỡ hai chục mét.  Đứng trên tảng đá đó, tôi có thể húp từng ngụm mây vào đầy phổi; giơ tay tóm, vén từng sợi mây đang dập dềnh trước mặt; rồi có cảm tưởng mình gần với trời hơn là với đất. Dưới chân tôi, hướng đông bắc là thác Yaly, chính đông là hồ Ia-Lou và trại LLĐB Lý thái Lợi (Plei M’rong), xa hơn là Quốc lộ 14 vòng vèo quanh chân núi.  Trong tầm nhìn của tôi, đầu bắc Quốc lộ 14 là đồi Chư Pao.  Bên trái và xa hơn Chư-Pao là thành phố Kontum.  Cuối nam Quốc lộ 14 là đỉnh Dang Rơia (1478 mét).   Bên phải rặng núi này là Biển-Hồ (Pleiku), hậu cứ của Liên đoàn 2/BĐQ.  Hướng tây Chư Pa là dòng Sé-San. Giữa dòng Sé-San có một cồn cát và đá, cây cối xanh rì.  Bên kia sông, hướng tây-tây-bắc là hai đỉnh Cư Ki Tem Da và Cư Di Coi .  Đàng sau những rặng núi trùng điệp đó là biên giới tỉnh Ratanakiri, Cambot.

Chính hai ngọn Chư Pa (1485 mét) và Cư Ki Tem Da (1528 mét) cao vòi vọi đã ép dòng sông Pơ-Kô vào giữa khiến nó dồn dòng chảy qua một khúc quẹo ngặt nghèo, rồi đổ xuống cái thung lũng xanh tươi vùng tây Plei Djereng.  Từ đây con sông Pơ-Kô mang tên mới là sông Sé-San thênh thang. Sé-San là đầu nguồn của sông Bé.  Mùa đông, hai ngọn núi Cư Ki Tem Da và Cư Di Coi mây xây thành trắng xóa. Đỉnh của hai ngọn núi này đoi, chỉ có cỏ tranh, không có cây xanh.  Buổi chiều, nắng chiếu ngược từ hướng tây, tạo nên một cái nền đỏ rực sau lưng hai ngọn núi, cho ta cái cảm tưởng hai đỉnh núi là hai cục than hồng, hừng hực cháy giữa không trung.  Mặt trời trên đường về quê hương Angkor đã để lại sau lưng nó những tia vàng lóng lánh.  Mùa khô Tây Nguyên, đứng trên đỉnh Chư Pa vào lúc chớm đêm, thật là khó phân biệt được đâu là trời, đâu là đất.  Ánh sáng lấp lánh, lập lòe trước mặt ta có thể là ánh sao trời, nhưng cũng có thể là ánh lửa từ nương rẫy đang cháy.  Đêm không trăng, trước mắt tôi là một không gian bồng bềnh.  Tôi lâng lâng trong ảo giác vertigo (chóng mặt).  Gió đuổi nhau từng cơn.Trong gió thoang thoảng hương lan rừng.  Tiếng thác rì rào có lúc nghe thật gần, có lúc nghe rất xa.  Thời gian qua chầm chậm, Chư Pa chìm từ từ xuống biển sương mông mênh.

Sáng N+4 đại đội tôi xuống núi từ khi trời còn tối.  Chúng tôi về tới triền nam của Chư Pa vào lúc ban trưa.  Tôi dừng quân trên đoạn yên ngựa án ngữ con đường thồ độc đạo ngay đỉnh một cái dốc của vòng cao 900 mét.  Sau khi Hoàng Mai rời Đại đội 3/11 để theo cánh B thì Đại đội 3/11 nhổ neo đến với tôi.  Tới chiều N+4 thì Đại đội 3/11 bắt tay được Đại đội 1/11. Từ ngày mai, Đại đội 3/11 của Trung úy Quí sẽ giữ nhiệm vụ đi đầu.  Tôi báo cho Quí biết sự sai lệch giữa thực địa và bản đồ.  Để chắc ăn, Quí cho một trung đội của Đại đội 3/11 vượt qua Đại đội 1/11 đóng chốt cách tôi khoảng hai trăm mét về hướng tây.  Sáng mai, từ tiền đồn này, quân của Quí tiến vào mục tiêu 4. Mục tiêu 4 nằm dưới vòng cao 500 mét.  Theo dự trù, thì những ngày kế tiếp, cánh A sẽ đổ dốc, vòng qua mục tiêu 4 và 5 cho tới sát bờ Pơ-Kô thì quẹo trái để gặp cánh B nơi bờ sông có cái cồn cát lớn giữa dòng.

Buổi tối N+4, sau khi bố quân, mấy anh trung đội trưởng đã cạn thuốc lá, mon men tới lều tôi vòi tí khói.  Lúc nào trong balô của Binh nhất Trung cũng sẵn hai cây Lucky dự trữ.  Tôi lấy thuốc lá ra phân phát cho mỗi chàng trung đội trưởng một bao.  Tôi đang chuẩn bị ăn cơm tối, nên tôi mời ba anh trung đội trưởng ăn cơm chung.  Sau hai ngày leo dốc cật lực, không khói lửa, chỉ ăn cơm vắt, bốn anh em tôi quất hết một nồi cơm và một chén thịt heo kho mắm ruốc.  Đêm nay ỷ vào vị trí đóng quân cheo leo, đàng sau có Đại đội 3/11 án ngữ, ba hướng khác đều có tiền đồn, anh em sĩ quan đại đội tôi mới dám tụ họp cùng nhau hơi lâu.  Từ sau Mậu-Thân, chiến trường càng ngày càng khốc liệt; những sĩ quan lớn tuổi đã theo nhau rời khỏi đơn vị tác chiến.  Hiện thời, chúng tôi là lớp sĩ quan trẻ nhất trong các thế hệ đã đi qua Tiểu đoàn 11/BĐQ này.  Cùng trang lứa, chúng tôi dễ hoà hợp và thông cảm nhau.  Chín mươi phần trăm sĩ quan của tiểu đoàn hiện nay còn độc thân.  Trong rừng, chúng tôi chiến đấu bên nhau.  Về hậu cứ, chúng tôi cũng không rời nhau.  Giàn sĩ quan trung đội trưởng của tiểu đoàn, dẫn đầu là những kiện tướng, trưởng thành từ khói lửa Mậu-Thân như Thiếu úy Đinh quang Biện (ĐĐ1/11), Thiếu úy Phan văn Hải (ĐĐ2/11), Thiếu úy Trần cao Chánh (ĐĐ3/11) và Thiếu úy Trần ích Châu (ĐĐ4/11) là những mũi tên đột phá trong thế công, thành đồng trong thế thủ của chúng tôi thời gian này.  Trong rừng, chúng tôi là nỗi kinh hoàng của giặc Cộng, nhưng trong thành phố, chúng tôi thường xuyên là người thua trận, mỗi khi “đụng đầu” mấy ông già Napoléon, Hennessy, Martell, hay Johnny Đi Bộ (Walker).  Chuyện chúng tôi ngất ngưởng coi trời bằng vung, chuyện Biệt Động Quân say, tỉnh, tỉnh, say, chỉ là “chuyện thường ngày ở huyện”, không có gì là lạ.  Vì những ai đã từng vỗ ngực tự xưng “Ta là Biệt Động Quân” mà đời chưa từng kinh qua một lần “túy lúy càn khôn” thì đâu xứng danh là Biệt Động?(!)  Ở Pleiku, có những cái tên đã thành thân quen đối với chúng tôi như “Quán Nhớ”, “Quán Sương”, “Quán Thu Hà”, “Quán Kim Liên”, “Quán Tuyết Trắng”…

Sau năm ngày đi đầu vất vả, ngày N+5 tôi cho thuộc cấp thoải mái, chuẩn bị cơm nước, hong giầy, hong vớ.  Đợi Đại đội 3/11 chiếm xong mục tiêu, tôi sẽ cho đơn vị từ từ di chuyển lên sau.  Anh em đơn vị tôi đang phì phà khói thuốc, nhấm nháp cà phê thì nghe tiếng AK nổ hướng tiến quân của đại đội bạn, phía cuối dốc.  Tôi không nghe tiếng Quí trả lời tôi trên máy tiểu đoàn.  Tôi và Thiếu úy Biện dẫn theo hai cái máy truyền tin đi về hướng đuôi Đại đội 3/11.  Tôi gặp Thiếu úy Thung, trung đội trưởng đoạn hậu của Đại đội 3/11.  Thiếu úy Thung mặt thất sắc, lắp bắp báo cho tôi một tin sét đánh, “Trung úy đại đội trưởng và Thiếu úy đại đội phó chết rồi!  Đại ca ơi!”  Tôi gạt Thung qua một bên.  Bốn thày trò tôi chạy thẳng xuống cuối dốc.  Tôi tới ban chỉ huy Đại đội 3/11 đúng vào lúc toán tản thương đang dìu một người máu me đầy mình đi tới.  Vừa thấy tôi, người bị thương đã khóc rống lên, “Thái Sơn ơi!  Thầy Quí, thầy Tâm chết rồi!”  Người đó là Hạ sĩ nhất Trần Quy.  Hạ sĩ Quy là thuộc cấp cũ của tôi ở Đại đội 3/TĐ11/BĐQ khi tiểu đoàn còn ở Đà-Nẵng, ngày tôi mới ra trường.  Những đồ đệ cũ của tôi ở Đại đội 3/11 đều được Trung úy Quí tin dùng.  Hạ sĩ Quy kể lại rằng, sáng nay trước khi lên đường, Trung úy Phan ngọc Quí đại đội trưởng và Thiếu úy Nguyễn hữu Tâm đại đội phó đã ra trước tiền đồn khoảng vài chục thước để quan sát hướng đi và so sánh sự khác biệt giữa bản đồ và thực địa.  Trinh sát VC đã nằm chờ sẵn nơi cuối dốc.  Cả hai sĩ quan và anh lính truyền tin đều bị bắn trúng sọ và ngực ngã xuống.  Riêng Hạ sĩ Quy, cận vệ của Trung úy Quí bị bắn gãy tay trái và một viên đạn vào ngực  Quy chạy trối chết về tiền đồn kêu cứu.  Khi toán cứu viện ra tới nơi thì hai ông sĩ quan và anh hiệu thính viên đã chết.  Cái bản đồ hành quân, cặp lon trung úy của Quí và cái máy truyền tin đã bị địch cướp đi.  Tôi ra lệnh cho Thiếu úy Thung bố trí Đại đội 3/11 tại chỗ chờ lệnh.  Được tin báo của tôi, Hoàng Mai ngỡ ngàng, thở dài thườn thượt.  Sau khi trực thăng tải xác, tải thương cất cánh, tôi được lệnh hủy bỏ hai mục tiêu còn lại.  Liên đội A quay ngược trở về dốc 900. Đại đội 1/11 nằm lại tại dốc này qua đêm; riêng Đại đội 3/11 được lệnh di chuyển sang phòng thủ ngọn đồi nhỏ hướng tây nam, dưới chân dốc 900 để chuẩn bị bãi đáp cho bộ chỉ huy liên đoàn vào vùng.

Sáng N+6 Trung tá (k11VB) Trịnh văn Bé liên đoàn phó và ban truyền tin liên đoàn xuống bãi thả trên đỉnh ngọn đồi cao 740 mét, dưới chân tôi.  Trung tá Bé thiết lập bộ chỉ huy nhẹ của liên đoàn ngay trên bãi đáp này.  Chiều đó, chúng tôi được tái tiếp tế.   Đêm N+6, Trung đội 2 của Chuẩn úy Danh trấn giữ tiền đồn dốc 900 trên cao.  Đại đội 3/11 và Đại đội 1/11 trừ (-) của tôi có nhiệm vụ bảo vệ bộ chỉ huy nhẹ của liên đoàn.  Tôi không rõ cánh quân B đang ở nơi nào.

Khoảng 7 giờ sáng N+7 tiền đồn trên đỉnh 900 bị địch tấn công.  Địch nổ súng sau khi quân bạn đã tháo gỡ mìn bẫy phòng thủ.  Từ dưới chân đồi, chúng tôi thấy rất rõ khói B40 không ngừng bốc lên từng cụm sau những tiếng nổ “oành! oành!” liên tiếp nhau.  Tôi và hai Trung đội 1 và 3 chạy vội lên đồi để tiếp cứu cho đứa con đang bị đánh.  Thiếu úy Biện (Trung đội 3) đánh bọc bên trái, tôi và Thiếu úy Vi (Trung đội 1) đánh bọc bên phải.  Vừa ngóc đầu lên khỏi dốc, tiền quân của Vi đã bị thủ pháo VC chào đón nồng nhiệt.  Khói và bụi làm cho cặp kiếng cận của ông trung đội trưởng mờ mịt.  Trên đường, Vi phải ngừng chân lau kiếng nhiều lần.  Thủ pháo của VC tới tấp chọi vào khu những mô đá nhô ra bên hướng đông.  Thiếu úy Vi cho đàn em trả đũa bằng những quả M26.  Lợi dụng gió đang thổi theo chiều tây-đông,  Vi “chơi” luôn hai trái lựu đạn khói cay bên hông phải ngọn đồi.  Cơn mưa thủ pháo chợt ngừng.  Trong lúc tôi và Trung đội 1 của Thiếu úy Vi đang cố vượt đoạn đường đầy gai mắc cỡ thì đạn B40 liên tục “xè! xè!” từ triền bắc, bay qua đầu chúng tôi, rơi xuống triền nam, nổ dưới thung lũng.  Quân của Chuẩn úy Danh đang reo hò “Sát! Sát!” trên cao.  Tôi bắt tay được với Trung sĩ nhất Khôi trung đội phó Trung đội 2 nơi đầu dốc.  Khẩu M60 của Binh nhất Trần Đợi đã ròn rã nổ, kiểm soát con đường voi thồ hướng bắc, dưới chân dốc.

Trong lúc tôi bận tiếp tay một tân binh chuyền thùng đạn đại liên cho xạ thủ thì một quả B40 bay sượt đầu thằng Đợi, trúng tảng đá trên đỉnh.  Trái đạn nổ gây một đợt mưa đá bụi trên đầu những người núp quanh chân tảng đá.  Phút sau, bên trái tôi có tiếng khóc thút thít, “Trung úy ơi! Em bị thương!”  Một Biệt Động Quân đang ôm mông, nằm nghiêng sau bụi dương xỉ, mặt người đó tái mét.  Người lính quay về phía tôi chờ đợi.  Uả! Ai mà giống như thằng Hồng, một tân binh?  Tôi trườn nhanh tới bên người lính.  Đúng nó rồi!  Binh nhì Lê văn Hồng, mười tám tuổi.  Thằng Hồng là em của cô Lê kim Cương ở Chợ Mới, Pleiku.  Cô Lê kim Cương, nữ sinh trung học Minh-Đức là bồ của một thằng bạn tôi ở bộ chỉ huy Liên đoàn 2/BĐQ.  Tôi nghĩ có lẽ thằng Hồng bị thương nặng.  Phải mất nhiều máu lắm mặt nó mới xanh như vậy.  Tội nghiệp thằng bé, mới ra trận lần đầu!  “Đạn trúng chỗ nào đâu?  Đưa anh coi!  Anh băng bó cho chú!”  Thằng Hồng vừa sụt sịt vừa ôm mông,  “Chỗ này! Máu ra ướt đẫm cả quần em!  Trung úy ơi!  Trung úy cứu em!”  Tôi lật mông nó ra coi.  Trời ơi!  Mông nó ướt đẫm!  Nhưng không phải ướt vì máu!  Nước chảy từ cái bi đông bị đạn làm cả nửa người bên trái thằng Hồng ướt đẫm!  Tôi mừng quá, đẩy nó sang một bên, “Ê! Cái đồ chết nhát!  Cái bi đông bị thương chứ nhỏ có bị thương đâu!  Mắc cỡ!  Đừng nằm vạ nữa!  Nhào lên đi!”  Thằng Hồng đỏ mặt lồm cồm bò dậy, lủi lên hướng ông Trung sĩ Khôi trung đội phó.  Hướng Trung đội 3 đang tiến, đạn nổ rền trời.

Giữa ba tảng đá nơi đỉnh đồi là cái lều của trung đội trưởng.  Ông trung đội trưởng bị thương nằm một mình trong lều rên hừ hừ.  Anh y tá của trung đội còn đang bận bóp cò M16 chống giặc ngoài hố cá nhân.  Tôi thấy Chuẩn úy Danh đang tay trái ôm hạ bộ, tay phải ôm vai trái, mặt mày nhăn nhó vì đau.  Áo quần của người sĩ quan trẻ đầy vết máu.  Tôi ra dấu cho Trung sĩ Đức, y tá đại đội vào lều chăm sóc cho Danh.  Tôi nhảy ba bước tới triền đồi hướng bắc.  Trên mặt đất đầy những lỗ lõm như bàn tay, cỏ cháy nám đen, đó là dấu thủ pháo vừa để lại sau khi nổ.  Trung đội 3 của Thiếu úy Biện đã lập xong tuyến phòng ngự bên trái.  Những cái hố cá nhân đang hình thành.  “Vừa đánh vừa đào” là phương châm của đại đội tôi.  Những trái lựu đạn M26 được thả theo đuôi nhau lăn từ trên dốc xuống triền núi.  “Ùm! Ùm!” khói đen cuồn cuộn.  Chợt dưới chân dốc, hai ba hỏa châu phụt lên trời, đấy là những hỏa châu đỏ giựt bằng tay của VC.  Rồi tiếng súng của địch thưa dần, xa dần về hướng tây bắc.  Tôi nhận biết ngay rằng hỏa châu đỏ là hiệu lệnh rút lui của chúng!  Sau đó, tiếng súng của ta cũng im theo.

Trận đánh nhanh như chớp.  Đây là một cú đột kích rồi rút chạy của địch.  Tôi không xin pháo binh.  Rừng núi bao la, biết chúng nó rút đi đâu mà gọi pháo binh?  Tôi cũng chẳng thèm ra lệnh truy kích.  Nếu tôi dẫn quân đi mà để trống cái tiền đồn này thì nguy hiểm lắm.  Chỉ cỡ hai đại đội địch chiếm được cao điểm này thì dưới kia, bộ chỉ huy liên đoàn chết tươi.  Trung đội 1 lục soát xa dưới triền dốc chỉ tìm được một khẩu B40 và một số thủ pháo.  Vết máu rơi rớt đầy mặt đất nhưng không có xác thằng VC nào bị bỏ lại.  Tôi chui vào lều thăm Chuẩn úy Danh.  Tôi hỏi nhỏ Trung sĩ Đức, “Nặng không?”  Người y tá đại đội nhanh miệng, “Trình trung úy, máu me tùm lum nhưng vết thương không nặng lắm đâu!  Toàn miểng B 40 không à!”  Thấy Danh đang ôm hạ bộ nhăn nhó, tôi hỏi Đức, “Thế cái ‘của qúy’ của chú ấy có còn không?”  “Dạ còn! Chuẩn úy cứ sợ đạn hớt cái đó mất tiêu nên ổng bắt em khám cái đó trước tiên.  Khi nhìn thấy của quý còn nguyên vẹn ổng mới yên tâm cho em băng bó chỗ khác.”  Tôi mồi cho Danh điếu Lucky và dúi vào tay người đàn em tờ giấy năm trăm, “Cái này là của anh cho, để cầm hơi khi xa đơn vị.  Khi tiêu hết tiền thì nói ông Trung sĩ Em (tiếp liệu) ứng trước cho, cuối tháng trừ vào lương”  Danh cầm tay tôi bịn rịn rồi chào tôi, lên cáng xuống bãi tản thương.

Tôi đi quanh vị trí đóng quân của Trung đội 2, kiểm lại số chiến lợi phẩm khiêm nhường mới thu được.  Trung tá Bé đã vào máy theo dõi diễn tiến trận đánh từ phút khởi đầu.  Ông liên đoàn phó cho lệnh tôi giữ nguyên Đại đội 1/11/BĐQ trấn giữ cao điểm này.  Ông căn dặn tôi giăng mìn bẫy phòng thủ cẩn thận vì tin A 2 cho biết địch đang chuẩn bị đánh lớn tối nay.  Mờ sáng N+8 Trung tá liên đoàn phó cho lệnh tôi không cần tháo gỡ mìn bẫy phòng thủ nhưng rút quân thật nhanh xuống với bộ chỉ huy liên đoàn. Trung tá Bé gọi tôi vào lều của bộ chỉ huy liên đoàn để gặp riêng.  Ông nói nhỏ, “Đúng 8 giờ 6 phút 12 giây, B 52 sẽ đánh rất gần đây. Cỡ 8 giờ chú cho anh em ngồi trên miệng hố, xoay lưng về hướng đông.  Bom nổ, chấn động sẽ tới từ sau lưng.  Tránh núp dưới hầm hố. Khi bom nổ áp suất không khí dưới hố sẽ tăng cao, nguy hiểm.”  Tôi nghe lệnh và thi hành thật nghiêm chỉnh. Khoảng hơn 8 giờ sáng hôm đó tôi nghe từ trên trời cao những tiếng chim lạ gọi nhau “ủn! ủn!…ủn! ủn!” âm thanh lạ xé gió dội tới từng đợt nối tiếp.  Sau đó là tiếng “bùng! bùng!… bùng! bùng!” ba đợt nổ rền, mỗi đợt cách nhau chừng vài chục giây đồng hồ.  Tai tôi bị sức ép không khí làm căng màng nhĩ.  Mạch máu đầu tôi như căng lên. Ngực tôi bị ép hơi nghẹt thở.  Những cái poncho rung phần phật. Một vài cái lều bị đứt giây. Mấy cái võng không người nằm bị sức bom đẩy chao qua chao lại.  Ít phút sau tình hình trở lại bình thường.  Trên trời có 3 vệt khói phản lực trắng xóa, 3 cánh B52 sáng như bạc đang quẹo chữ “U” về đông.

B52 vừa đánh xong, chúng tôi lại được lệnh chạy ngược lên ngọn tiền đồn.  Dưới thung lũng hướng đông bắc, khói và bụi đỏ bốc cao.  Bụi lùa trong rừng cây.  Mưa bụi đỏ phủ trùm một vùng rừng bát ngát.  Lều bạt, đá núi, mặt đường đều được phun lên trên một lớp bụi đỏ dầy.  Mặt mũi, áo quần chúng tôi cũng đầy bụi đất.  Box B52 nằm ngay dưới chân Chư Pa nhưng tôi chờ hoài không thấy lệnh đi lục soát.  Chúng tôi ôm súng ngồi bên hố cá nhân.   Người này ngó người kia.  Chúng tôi hút thuốc đốt thời giờ.  Thời gian qua thật chậm. Chúng tôi ngồi im lặng nghe ngóng. Chỉ có tiếng gió lùa, tiếng cây cọ vào nhau kẽo kẹt. Không có lệnh gì cả.  Suốt ngày hôm đó không có lệnh gì cả.  Bên cánh B, liên lạc truyền tin cũng im lặng như tờ.   Nửa đêm, Trung tá Bé cho tôi biết sáng hôm sau bộ chỉ huy nhẹ của liên đoàn sẽ di chuyển, đại đội tôi được trả lại cho tiểu đoàn.

(Mời Xem Tiếp Phần 3 Hết)

http://www.bietdongquan.com/baochi/munau/so18/chupa2.htm

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s