Sự rút lui của ông Lý Gia Thành báo hiệu sự suy thoái của nền kinh tế Trung Quốc


Sự rút lui của ông Lý Gia Thành báo hiệu sự suy thoái của nền kinh tế Trung Quốc

Tác giả: Hà Thanh Liên | Dịch giả: DK Lam
22 Tháng Mười , 2015
Nhà tài phiệt Hồng Kông Lý Gia Thành tại một cuộc họp báo ngày 26 tháng 2 năm 2015.  (Philippe Lopez/AFP/Getty Images)
Nhà tài phiệt Hồng Kông Lý Gia Thành tại một cuộc họp báo ngày 26 tháng 2 năm 2015. (Philippe Lopez/AFP/Getty Images)
Sau khi tỉ phú người Hồng Kông Lý Gia Thành, người giàu nhất Châu Á, rút toàn bộ dự án đầu tư ra khỏi Trung Quốc, truyền thông đại lục đã buộc tội ông là thiếu đạo đức và vô ơn, bỏ mặc Trung Quốc khi nền kinh tế suy thoái mặc dù nó đã mang lại thịnh vượng cho ông ta trong thời kỳ khởi sắc. Bà Hà Thanh Liên, một nhà kinh tế học danh tiếng, thể hiện trong bài viết này sự khám phá của bà về mối quan hệ giữa quyền lực và tư bản tại Trung Quốc ngày nay.

Sự “tẩu thoát” của ông Lý Gia Thành khởi phát nhiều cuộc tranh luận nóng bỏng ở Trung Quốc. Vụ việc tranh luận này đề cập về cuộc chiến giữa quyền lực và dòng vốn; nó hé lộ 3 tình thế tiến thoái lưỡng nan trong đầu tư ở Trung Quốc ngày này.

Tình thế thứ nhất: Đầu tư từ Hồng Kông luôn được xem là vốn “nội địa” nhưng dán nhãn nước ngoài.

Kể từ khi ông Đặng Tiểu Bình bắt đầu chính sách cải cách và mở cửa, mãi đến những năm 1990, đầu tư từ Hồng Kông vẫn chiếm tỉ trọng chủ yếu trong nguồn đầu tư nước ngoài, tiếp đến là Đài Loan. Vị trí địa lý của Hồng Kông và vai trò kinh tế đặc biệt của nó là một phần nằm trong những toan tính chính trị do Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đề xuất, xem Hồng Kông là một nguồn “đầu tư” nước ngoài.

Mối quan hệ giữa tiền tài và quyền lực đã đạt đến trạng thái xung đột vô cùng căng thẳng.

Trước đó, khi ĐCSTQ phải đối mặt với sự phong tỏa toàn diện từ phương Tây, Hồng Kông là “kênh đầu tư quốc tế” của Trung Quốc, là nguồn ngoại tệ và kỹ thuật công nghệ, và cả là cơ sở cho xuất nhập khẩu thương mại.

Trung Quốc bắt đầu cải cách và mở cửa từ những năm 1979, thương nhân Hồng Kông không chỉ là những nhà đầu tư chính, mà còn là những người dò đường và là cầu nối đề giúp Trung Quốc mở cửa. Vào thời điểm đó, đầu tư từ Hồng Kông chiếm khoảng 70% tổng vốn đầu tư, theo sau là Đài Loan và Nhật Bản.

Sau khi Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2001, Hồng Kông dần mất vị thế là trung tâm xuất nhập khẩu của Trung Quốc. Nền tài chính quốc tế dần suy yếu, Hồng Kông trở thành cứ điểm để các quan chức trong Đảng chuyển tiền ra nước ngoài để đầu tư, Hồng Kông giờ đây đóng vai trò là “khu vườn rửa tiền”.

Giữa những năm 1978 và 2001, từ những toan tính chính trị, ĐCSTQ xếp các đầu tư từ Hồng Kông là “ngoại tệ” vì Hồng Kông chưa được trao trả hoặc chỉ vừa được trao trả về Trung Quốc. Sau năm 2001, vì lợi ích của ĐCSTQ, Hồng Kông vẫn được xem lại nguồn đầu tư nước ngoài. Với những nhóm lợi ích, Hồng Kông là một kênh quan trọng để rửa tiền. Thậm chí ngày này, những doanh nhân hàng đầu của Hồng Kông và những vụ đầu tư từ Trung Quốc sang Hồng Kông đều có mối quan hệ mật thiết với ĐCSTQ.

Tiền được phép vào, nhưng không thể rút ra

Tình thế thứ hai: Dòng tiền bị hạn chế. Vốn đầu tư được phép vào nhưng không được phép rút ra.

ĐCSTQ đã can thiệp một cách cố ý vào sự sụt giảm của thị trường chứng khoán Trung Quốc trong năm nay. Cuối cùng, họ bắt giữ những người bị cáo buộc “làm kiệt quệ Trung Quốc”. Đây được xem là sự can thiệp không phù hợp của nhà nước vào thị trường tài chính và hạn chế một cách tiêu cực sự tự do lưu thông vốn.

Giới thương nhân đang phát triển mạnh mẽ hơn và to lớn hơn nhờ vào những thương vụ trong “vùng xám”, được tạo ra thông qua mối liên hệ với các quan chức.

Dòng vốn quốc tế là sự lưu thông tư bản giữa các quốc gia và các vùng, bao gồm đầu tư, cho vay, hỗ trợ, tín dụng người mua, tín dụng người bán,  kinh doanh ngoại hối, phát hành chứng khoản và sự lưu hành tiền tệ, v.v… Dòng vốn quốc tế xuyên biên giới có thể chia thành vốn ra và vốn vào. Khi Trung Quốc tham gia WTO, các thành viên chủ chốt của tổ chức này, như Mỹ và EU, yêu cầu Trung Quốc mở cửa thị trường tài chính và cho phép vốn đầu tư nước ngoài được tham gia thị trường này.

Trong số các thành viên WTO, không có quốc gia nào chào đón việc cho vốn đầu tư đi vào nhưng đồng thời lại hạn chế vốn đi ra. Chính sách của ĐCSTQ về dòng tiền thiết lập một tiền lệ chưa từng có. WTO không có biện pháp nào đối phó với chính sách này. Điều này gây ra thêm lo ngại cho các nhà đầu tư quốc tế. Họ sẽ làm gì khi một ngày nào đó Trung Quốc cấm dòng tiền đi ra? Vì vậy họ muốn Trung Quốc áp dụng những quy định cho phép dòng tiền được tự do lưu thông: không chỉ chào đòn dòng tiền được tự do đi vào, mà còn phải cho phép dòng tiền được rút ra.

“Tội lỗi nguyên thủy” của sự giàu có

Tình thế thứ ba: sự an toàn về mặt vốn đầu tư tư nhân tại Trung Quốc đang bị đe dọa.

Khối đầu tư tư nhân ở Trung Quốc luôn được xem là “tội lỗi nguyên thủy”. Mọi người đều hiểu rằng ở Trung Quốc, phần lớn các doanh nghiệp tư nhân dựa vào quyền lực chính trị để chống lưng. Họ phát triển mạnh mẽ hơn và to lớn hơn nhờ vào những thương vụ trong “vùng xám” được tạo ra thông qua mối liên hệ với các quan chức. Sự giàu có của họ không trong sạch. Chính quyền mặc định rằng những nhà đại tư bản trong khối tư nhân lợi dụng những lỗ hổng do chính quyền trao tặng cho họ, ví dụ như lách thuế và gian lận sổ sách. Có rất nhiều những lỗ hổng như vậy. Thông thường, nhà nước không thiếu tiền. Khi các doanh nghiệp tư nhân có mối quan hệ mật thiết với các quan chức, những lỗ hổng này không gây ra nhiều rắc rối. Nhưng khi nhà nước bí bách về tiền, hoặc các quan chức mà các doanh nghiệp tư nhân dựa vào bị bắt vì tham nhũng hoặc nghỉ hưu, những nhà tư bản này không còn được an toàn.

Vào năm 2014, “Hướng dẫn cải cách sâu sắc các doanh nghiệp nhà nước” được xuất bản, để huy động nguồn vốn từ tư nhân. Nhiều công ty tư nhân lo lắng ĐCSTQ sẽ động đến họ. Nên họ bắt đầu bỏ trốn. Các doanh nghiệp bắt đầu đầu tư những thương vụ lớn ra nước ngoài. Điều này dẫn đến sự sụt giảm mạnh trong dự trữ ngoại hối của Trung Quốc trong những tháng gần đây. Bắc Kinh bối rối khi cảm nhận sự co rút nhanh chóng của dự trữ ngoại hối – khoảng 600 tỉ đô la đã bị rút ra, theo một bài báo vào ngày 28 tháng 9 của tờ The Economist- và điều này dẫn đến sự kiểm soát ngoại hối gắt gao hơn. Hàng chục nhà môi giới chứng khoán đã bị bắt giữ vì tội “làm kiệt quệ Trung Quốc”. Mối quan hệ giữa quyền lực và tiền tài đã đạt tới trạng thái xung đột vô cùng căng thẳng.

Cả ba tình thế tiến thoái lưỡng nan

Ông Lý Gia Thành cảm thấy bản thân rơi vào cả 3 tình thế khó khăn này.

Vì sao ông Lý Gia Thành bị tẩy chay như một nhà đầu tư bỏ trốn? Bản chất hoạt động đầu tư của ông ta lý giải cho điều này.

Trong giới thương nhân Hồng Kông, ông Lý Gia Thành là người thành công nhất và có mối quan hệ chặt chẽ nhất với Bắc Kinh. Ông gặp các lãnh đạo Đảng vô số lần – ông ta gặp Đặng Tiểu Bình 2 lần, vào năm 1978 và 1990. Điều này có nghĩa là ông ta được phép đầu tư vào Trung Quốc mà không gặp bất cứ trở ngại gì, và đặc quyền của ông ta vượt quá mọi “thái tử Đảng” (con của những lãnh đạo hàng đầu trong Đảng).

Bài viết công kích ông Lý vì đã rời bỏ Trung Quốc có đoạn: “Vì bản chất lợi nhuận của ông Lý từ thị trường Trung Quốc trong suốt 20 năm qua không chi đơn giản nhờ vào kinh doanh…. sự thịnh vượng đến từ bất động sản không hoàn toàn xuất phát từ thị trường kinh tế. Ông ta không thể rời Trung Quốc như ông ta mong muốn”.

Nguồn vốn của ông Lý Gia Thành thực ra là vốn “nội địa” nhưng mang nhãn “đầu tư nước ngoài”. ĐCSTQ đã tạo cho nó vỏ bọc này, với những chính sách và đặc quyền riêng biệt. Vì vậy, tiền của ông Lý phải “gắn liền với chế độ”. Tuy nhiên, khi nền kinh tế Trung Quốc suy thoái, ông Lý lại mang tiền ra khỏi thị trường này. Điều đó đã gây thất vọng lớn cho chính quyền.

Điều truyền thông Trung Quốc không dám nói đó là sự rút vốn đầu tư của ông Lý Gia Thành báo hiệu khởi đầu của sự sụp đổ. Ông Lý Gia Thành không phải nhà đầu tư Hồng Kông duy nhất rời bỏ Trung Quốc. 65% những nhà đầu tư “nước ngoài” là vốn đầu tư của người Trung Quốc tại Hồng Kông. Nguồn vốn đầu tư này tăng trưởng theo cách tương tự như của ông Lý Gia Thành, với sự chống lưng của giới quan chức.

Sự “đào tẩu” của ông Lý Gia Thành khởi động một loạt phản ứng thể hiện sự căng thẳng gia tăng giữa dòng vốn đầu tư và quyền lực chính trị, báo hiệu sự kết thúc kỷ nguyên vàng của nền kinh tế Trung Quốc.

Đây là bản dịch cô đọng bài viết của bà Hà Thanh Liên được xuất bản trên tờ Voice of America tiếng Trung. Bà Hà Thanh Liên là một học giả và nhà kinh tế học nổi tiếng của Trung Quốc. Hiện bà sống ở Mỹ, bà là tác giả cuốn “Cạm bẫy Trung Quốc”, đề cập đến nạn tham nhũng trong cuộc cải cách kinh tế Trung Quốc những năm 1990 và cuốn “Mây mù kiểm duyệt: Sự kiểm soát truyền thông ở Trung Quốc”, cuốn sách viết về việc thao túng và kiểm duyệt báo chí. Bà thường viết về những vấn đề xã hội và kinh tế đương thời của Trung Quốc.

Quan điểm thể hiện trong bài viết là của riêng tác giả và không nhất thiết phản ánh quan điểm của Epoch Times.

http://vietdaikynguyen.com/v3/79994-su-rut-lui-cua-ong-ly-gia-thanh-bao-hieu-su-suy-thoai-cua-nen-kinh-te-trung-quoc/#

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s