Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng Đảng qua lời trối trăn của ông Cố vấn Ngô Đình Nhu (P1)


Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng Đảng qua lời trối trăn của ông Cố vấn Ngô Đình Nhu (P1) (Tạm Chia Ra Làm 2 Phần)  

Phạm Quang Trình

Inline image 1

Qua bài “Những lời trối trăn của ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu”tháng 07 năm 2011, người viết đã không đề cập nhiều đến Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng Đảng. Nay nhân dịp Giỗ Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu lần thứ 50 (1963-2013), người viết xin được bổ túc ít nhiều những thiếu sót đó.

Trước hết, xin ghi lại nguyên văn Lời Trối Trăn của ông Cố vấn như sau:

Anh Em Nhớ Đến Tôi….

Mấy ngày trước đây – sau khi bọn quá khích phản loạn oanh tạc Dinh Độc Lập, – có một số anh em ngoại quốc cũng như trong nước đến thăm và chúc mầng cho tôi. Tôi có trả lời rằng: “Cái việc sống, việc chết của chúng tôi là ở trong tay Đấng Chí Tôn. Người để tôi sống hay là tôi chết, thì tôi cũng xin anh em nhớ sáu điều mà tôi đã đóng góp vào chế độ này.

Trong sáu điều đó:

Điều thứ nhất là: Lý Thuyết Nhân Vị

thứ hai là: Hiến Pháp (đưa lý thuyết Nhân Vị vào trong Hiến Pháp

bằng chủ trương Nhân Vị Cộng Đồng, Đồng Tiến Xã Hội).

thứ ba là: Chánh sách Phát triển cộng đồng.

thứ bốn là: Thanh Niên, Thanh Nữ Cộng Hòa

thứ năm là: lối Biệt Kích, Biệt Cách

thứ sáu là: Ấp Chiến Lược

Dầu tôi sống hay là tôi chết, anh em nhớ đến tôi, thì nhớ tiếp tục sáu điều đó. Tôi tưởng những điều vừa kể là những điểm phù hợp (với hiện trạng Việt Nam) – những giải pháp quân dân chính- để giải quyết vấn đề chậm tiến.”

Lời ông Ngô Đình Nhu

(trích bản ghi âm cuộc nói chuyện ngày 17.03.1962 trong Tập San Chính Nghĩa số 1 ngày 03 tháng 01 năm 1983 do ông Đỗ La Lam chủ trương)

Qua lời trối trăng nói trên, ông Ngô Đình Nhu không nhắc đến Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng Đảng do ông sáng lập và là Tổng Bí Thư, mà chỉ nói đến Lý Thuyết Nhân Vị, phải chăng ông đã bỏ quên Đảng Cần Lao? Theo thiển ý không hẳn như vậy. Tại sao? Trước khi có những suy luận về Lời Trối Trăng của ông Cố Vấn, người viết xin lược thuật lại một số sự kiện xẩy ra sau ngày 1-11-19 63 .

Sự thất bại nặng nề của nhóm tướng lãnh trong cuộc đảo chánh 1-11-1963

Năm 1963 có thể nói là thời điểm cao của Đệ Nhất Cộng Hòa. Lý thuyết Nhân vị đã được đưa vào Hiến Pháp 26-10-1956 rồi và đang được thực hiện qua quốc sách Ấp Chiến Lược với chủ trương Nhân Vị – Cộng Đồng – Đồng Tiến. Tất cả các chương trình của Chính phủ đều được thực thi trên cơ sở ấy. Các bài diễn văn hoặc Thông Điệp của Tổng Thống Ngô Đình Diệm ít nhiều đều đề cập đến chủ thuyết Nhân Vị – một chủ thuyết đấu tranh nhằm bảo vệ nhân phẩm và quyền tự do của con người. Nhưng biến cố 1-11-19 63 đã xẩy ra khi bọn tướng lãnh đâm thuê chém mướn cho CIA dùng Quân Đội lật đổ chế độ Cộng Hòa và giết hại Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu thì việc thực thi lý thuyết Nhân vị trên hình thức đã bị đình chỉ. Từ đây, để che giấu bộ mặt lem luốc bỉ ổi làm tay sai cho CIA , bọn đâm thuê chém mướn và lũ côn đồ đội lốt Tôn giáo đã cố tình vẽ lại hình ảnh Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng Đảng như một thứ công cụ ác ôn của chế độ và quên đi biết bao công trình mà Đảng viên Cần Lao đã đóng góp xây dựng cho nền Cộng Hòa Việt Nam. Cũng từ đây, bọn đâm thuê chém mướn cho CIA và lũ con đồ đội lốt Tôn giáo ra sức truy lùng các Đảng viên Cân Lao và những nhân vật liên hệ mật thiết đến chế độ cũ để bắt giữ, tống tiền, đồng thời phá hủy công trình chống Cộng do Quốc Sách Ấp Chiến Lược đem lại đang trên đà tiến bộ. Nhưng cũng thật ô nhục cho chúng, khi cái gọi là cuộc “Cách Mạng 1-11-19 63”chưa được đầy 3 tháng thì tình hình Việt Nam trờ nên tồi tệ chưa từng thấy nên CIA đã phải xóa bài làm lại qua cái gọi là cuộc Chỉnh Lý của Nguyễn Khánh ngày 30-01-1964 đuổi cả bọn tay sai về vườn chăn gà cho vợ.

Thật vậy, khi nắm được chính quyền ngày 2-11-19 63 rồi, tập đoàn đâm thuê chém mướn với các tên Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, Tôn Thất Đính, Trần Thiện Khiêm, Mai Hữu Xuân (trong đó có Đôn, Đính, Khiêm đều là thứ Cần Lao gộc) không biết làm gì cả. Hội Đồng Nhân Sĩ với trên sáu chục nhân vật, trong đó bao gồm cả mấy ông trong nhóm Caravelle trước đây ồn ào thì nay có cơ hội vẫn chỉ họp bàn cũng chẳng đưa ra được một giải pháp nào. Chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ bị dư luận quần chúng gọi đích danh là “Chính phủ rùa”vì chậm chạp và bất lực! Nói tóm lại, thành phần mới này chỉ có tài phá hoại mà không có khả năng xây dựng.  Những sự kiện sau đây đã cho thấy tài phá hoại ác ôn của họ:

– Giết hại một cách dã man Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu khi hai vị đã công khai ra trình diện. Nếu 2 nhân vật là ngưởi có tội thì cũng phải đưa ra tòa án xét xử đàng hoàng, chớ sao lại phải hạ sát một cánh lén lút dã man. Đã vậy, bọn tay sai còn gian dối tuyên bố rằng hai ông đã tự sát khiến báo New York Time của Mỹ đã đặt ra ngay câu hỏi: “Bị trói vặt cánh khuỷu mà tự sát được sao?”

– Truy lùng các nhân vật và những Đảng Viên Cần Lao liên hệ đến chế độ để bắt giữ và tống tiền. Điều này thì quá rõ ràng. Hậu hết các nhân vật cũ đều bị bắt và bị tống tiền. Điển hình nhất là trường hợp ông Huỳnh Văn Lang, nguyên Giám Đốc Viện Hối Đoái, bị nghi ngờ là giữ tiền cho Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng Đảng, may mà bà vợ ông lo chạy chọt mấy ông tướng nên sau cũng được thả về.

– Nhận tiền để thả tù Việt Cộng gồm những thành phần tình báo nguy hiểm mà Đoàn Công Tác Đặc Biệt Mìền Trung đã bắt giữ, khai thác từ 1954 đến 1963, trong đó có những tên gián điệp nguy hiểm như Trần Quốc Hương tức Mười Hương và Đại tá Lê Câu. Nổi tiếng tham nhũng để thả tù Việt Cộng là 2 tên tướng Mai Hữu Xuân và Đỗ Mậu. Sau này còn có Hà Thúc Ký thuộc Đảng Đại Việt, Bộ Trưởng Nội Vụ thời chính phủ Nguyễn Khánh (vì áp lực của nhóm đội lốt Tôn giáo hay tham nhũng (?) cũng đã ký giấy thả rất nhiều tù Việt Cộng loại nguy hiểm mà không xem xét gì cả.

– Dương Văn Minh tuyên bố công khai hủy bỏ Quốc Sách Áp Chiến Lược. Nội trong ngày 2-11-19 63 có tới 800 Ấp Chiến Lược bị phá huỷ. Sau lời tuyên bố của Dương Văn Minh thì con số Ấp Chiến Lược bị phá hủy đã tăng lên trên 3000 trong tổng số 8000 ấp. Sự phá hủy với con số lớn lao đó đã làm cho hệ thống an ninh nông thôn trở nên nguy ngập và là kẽ hở cho Việt Cộng xâm nhập. Thật chưa có cái hại nào như cái hại này! Chính vì thấy nguy cơ xâm nhập phá hoại của Việt Cộng nên TT Nguyễn Ngọc Thơ và Cố Vấn Mỹ đã vội và tuyên bố giữ lại Quốc Sách Ấp Chiến Lược. Thực tế, cho dù có tuyên bố giữ lại Quốc Sách Ấp Chiến Lược, nhưng với bộ mặt lãnh đạo mới sau ngày 1-11-19 63 hoàn toàn bất lực, chỉ lo vơ vét và ăn chơi thì làm sao có thể vãn hồi được tình hình an ninh như trước. Lúc đó, phải nói thật rằng hàng ngũ Cán bộ Quốc gia không ai còn đủ niềm tin và can đảm dấn thân chống Cộng tích cực như trước vì sợ bị chụp cho cái mũ “Cần Lao ác ôn”. Suốt hai năm từ 1963 đến 1965, đảo chính và chỉnh lý xẩy ra liên miên như cơm bữa. Các nhân vật lãnh đạo và bọn tướng lãnh đâm thuê chém mướn rớt như sung rụng. Cán bộ hạ tầng không biết nghe ai mà hành động. Kết quả chỉ làm lợi Việt Cộng và tập đoàn phản chiến ngoại bang. Bởi thế mà tình hình an ninh không bao giờ vãn hồi lại được như trước, ngay cả khi Nội Các Chiến Tranh của Nguyễn Cao Kỳ với Bộ Xây Dựng Nông Thôn được Mỹ yểm trợ tối đa qua cơ quan USAID. Trong lịch sử Quân Đội Việt Nam VNCH, thật chưa có một ông tướng nào tham, hèn, ngu như Dương Văn Minh!  Bởi thế mới có câu đối về ông tướng này như sau:

Đất nước yên vui, cam phận chó săn làm đảo chánh ( 1-11-1963 )

Non sông nghiêng ngửa, hoá thân ngựa chiến lại đầu hàng ( 30-04-1975 )

Những tên tướng khác sau Dương Văn Minh như Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, Mai Hữu Xuân, Tôn Thất Đính… số phận cũng không khá gì sau cuộc Chỉnh Lý 1/1964 của Nguyễn Khánh. Tất cả đều bị cho về vườn. Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính sau này ứng cử vô Thượng Viện cũng chỉ được một nhiệm kỳ rồi sau đó bị loại. Trần Văn Đôn chạy theo nhóm Phật Giáo Ấn Quang của Thích Trí Quang, được giới thiệu ra Quảng Ngãi ứng cử Dân Biểu Pháp nhiệm 2 (1971-1975). Đắc cử vào Hạ Nghị Viên rồi, Trần Văn Đôn lại trở mặt chạy theo phe Dân biểu thân chính được bố thí cho chức Chủ Tịch Ủy Ban Quốc Phòng, quay lại đá cho Thích Trí Quang một vố đau điếng. Thật đúng là một tên điếm đàng không hơn không kém do thực dân Pháp nhào nặn.

Khi Nguyễn Khánh được CIA đưa lên thì ông tướng hề này cũng không biết phải làm việc gì hơn ngoài việc cũng lại theo đuôi bọn đâm thuê chém mướn lo củng cố địa vị và vơ vét tiền bạc. Nguyễn Khánh đã không ngần ngại ra lệnh cho cái gọi là Tòa Án Cách Mạng lên án tử hình ông Ngô Đình Cẩn mà không cho chống án nhằm thỏa mãn mối thâm thù của tên thầy Chùa đầy tham vọng Thích Trí Quang và Cabot Lodge đối với gia đình Tổng Thống Ngô Đình Diệm và nền Đệ Nhất Cộng Hòa sau khi cho người đến làm tiền ông Ngô Đình Cẩn bị từ chối. Được thể, lũ côn đồ đội lốt Tôn giáo đả làm loạn khắp nơi nhất là tại miền Trung, biến miền Nam thành nơi bỏ ngỏ làm mồi ngon cho Việt Cộng.

Nhóm dân sự ra sao?

Trước hết phải kể đến nhóm Caravelle gồm 18 nhân vật đã gửi Tuyên Ngôn cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm ngày 26-04-1960. Nhóm có tên là Nhóm Tự Do Tiến Bộ nhưng vì hội họp ở khách sạn sang trọng Caravelle Sài Gòn nên được dư luận đặt cho cái tên là Nhóm Caravelle. Bản Tuyên Ngôn của nhóm dài ba trang đề cập đến tình hình chung về các mặt chính trị, quân sự, kinh tế xã hội của Miền Nam dưới sự lãnh đạo của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Đọc kỹ nội dung, ai cũng có thể nhận ra tuyên ngôn được viết rất là phiến diện, hàm hồ, không có dẫn chứng cụ thể, rõ ràng. Chính ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu đã mời cả 18 nhân vật vào Dinh Gia Long họp bàn để lấy ý kiến. Ông Cố vấn yêu cầu nhóm Caravelle viết cụ thể chương trình và đề nghị cải tổ những gì, nhưng các ông về rồi chẳng làm gì cả. Kinh nghiệm cho biết các ông chỉ muốn kiếm ghế. Thực tế, sau ngày 1-11-19 63, các ông Phan Khắc Sửu, Phan Huy Quát, Trần Văn Văn, Trần Văn Tuyên, Nguyễn Tiến Hỷ, Trần Văn Hương, Trần Văn Đỗ, Nguyễn Lưu Viên, vân vân đã có cơ hội tham chính mà chẳng làm nên trò trống gì. Ông Phan Khắc Sửu làm Quốc Trưởng, ông Phan Huy Quát và ông Trần Văn Hương đều làm Thủ Tướng, Trần Văn Đỗ làm Tổng Trưởng Ngoại Giao, Nguyễn Lưu Viên và Trần Văn Tuyên làm Phó Thủ Tướng, vân vân. Ông nào cũng chỉ ngồi được vài ba tháng là phải từ chức vì bất lực, ngoại trừ BS. Nguyễn Lưu Viên được dư luận chính giới cho cái nick là “Viên tròn”, thời nào cũng uốn mình theo để kiếm ghế suốt từ Chính phủ này đến Chính phủ khác.

Động lực nào đã thúc đẩy nhómCaravelle đưa Tuyên Ngôn? Thưa chính là do sự bất đồng về đường lối chống Cộng giữa TT Ngô Đình Diệm và Mỹ nên Mỹ đã móc nối, xúi giục nhóm Caravelle viết bản kiến nghị gọi là để xin cải tổ nhưng thực chất là chống đối, đòi chia quyền, chia ghế theo cái nhìn của Mỹ. Theo tài liệu dẫn chứng trong bài viết của Lê Bình (trang 137, 138, 139…) trong Đặc San 2012 của Hội Ái Hữu Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại với chủ đề “Khí phách nhà lãnh đạo quốc gia”thì hai điều rõ ràng nhất về sụ liên lạc giữa Tòa Đại Sứ Mỹ với nhóm Caravelle là:

Trước khi ông Trần Văn Văn công bố Bản Tuyên Ngôn của nhóm Caravelle ngày 26.4.1960, ông Văn đã tiếp xúc với Tòa Đại Sứ Mỹ ở Sàigòn ngày 16.03.1960.

(02) Nội dung của Bản Tuyên Ngôn mà ông Trần Văn Văn công bố hoàn toàn phù hợp với quan điểm của Tòa Đại Sứ Mỹ lúc đó, là lên án chế độ Diệm độc tài, đòi mở rộng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội và mở rộng thành phần nội các.

Những đòi hỏi này trong hoàn cảnh chiến tranh chống Cộng Sản vào thời đó khó mà chấp nhận được. Vì sao?

Duncanson, một nhà bình luận người Anh cũng đã phải viết: “Nếu bản kiến nghị này được đưa ra trong điều kiện chính trị ổn định của một Miền Nam không bị CS Hà Nội đe dọa tiêu diệt, thì đó là một yêu sách đáng cứu xét nghiêm chỉnh. Điều đáng tiếc nhất là khi Cộng quân đã tấn công đến cấp trung đoàn và các vụ sát hại các viên chức chính phủ hầu như xẩy ra hằng ngày, thì đó là một yêu sách nếu không muốn bảo là ngớ ngẩn, thì ít ra cũng bắt nguồn từ sự thiếu khôn ngoan”. (Bài viết trích lại của TS. Phạm Văn Lưu, Hiến Pháp 26.10.1956 và Thực Tại Chính Trị Miền Nam trong Đặc San 2006 của Hội Ái Hữu NVQG Hải Ngoại).

Xin nói rõ hơn về các nhân vật nổi cộm này:

– Trước hết là ông Phan Khắc Sửu được đề cử làm Quốc Trưởng VNCH 26-10-1964 do Thượng Hội Đồng Quốc Gia bầu ra. Ở cương vị lãnh đạo, đây là cơ hội ngàn năm một thuở, ông Phan Khắc Sửu nếu có thực tài đã làm nên đại sự. Thực tế, ông hoàn toàn bất lực vì đã không ổn định được tình hình, nhất là sau khi có chuyện bất đồng với Thủ Tướng Phan Huy Quát về việc ông Quát đòi ông Sửu cất chức ông Nguyễn Hòa Hiệp, Bộ Trưởng Nội Vụ, nhưng ông Sửu không chịu, kết quả là 2 ông đều phải từ chức. Nhân thể xin nhắc lại, chính TT Ngô Đình Diệm từng mời Ô. Phan Khác Sữu làm Bộ Trưởng Canh Nông trong Nội các hồi mới về chấp chính 1954, nhưng sau đó vì sợ phe nhóm Bình Xuyên đe dọa nên ông Sửu xin rút lui.

– Ông Trần Văn Hương cũng được mời làm Thủ Tướng sau cuộc Chỉnh Lý của ĐT Nguyễn Khánh 30-01-1964 khi Khánh dẹp bỏ Nội Các của TT Nguyễn Ngọc Thơ 25-02-1964 . Mới đầu, ai cũng nghĩ ông là “Ông già gân”vậy mà đám côn đồ đội lốt tôn giáo biểu tình ồn ào, ông không đủ khả năng đối phó nên buộc phải từ chức. Sau này, ông cam phận làm Ứng cử viên Phó Tổng Thống cho Liên Danh Nguyễn Văn Thiệu thì coi như sự nghiệp chính trị của ông đã kết thúc. Kỹ sư Võ Long Triều, nguyên Bộ Trưởng Thanh Niên trong nội các Nguyễn Cao Kỳ đã có nhận xét khá chính xác về ông Trần Văn Hương qua Hồi Ký Võ Long Triều năm 2010. Nhớ lại hồi năm 1954, Ông Trần Văn Hương được TT Ngô Đình Diệm đề cử làm Đô Trưởng Sài Gòn. Ông biểu diễn màn đi làm việc bằng xe đạp. Lúc đó nhiều người lầm tưởng ông là nhà Cách mạng thứ thiệt, nào ngờ khi nhóm Bình Xuyên nổi loạn chống Chính Phủ Ngô Đình Diệm đã hăm dọa ám sát ông, thế là ông cũng theo gương Phan Khắc Sửu co vòi lại và xin từ chức!

– Ông BS. Phan Huy Quát được đề cử làm Thủ Tướng kế nhiệm ông Trần Văn Hương sau khi Thượng Hội Đồng Quốc Gia (THĐQG) được thành lập. Thượng HĐQG đã bầu ông Phan Khắc Sửu làm Qưốc Trưởng. Ông Phan Khắc Sửu chỉ định BS. Phan Huy Quát làm Thủ Tướng và thành lập Nội Các. Nội các của BS. Phan Huy được thành lập vào tháng 2 năm 1965 gồm nhiều nhân vật thuộc nhóm Caravelle, nhưng chỉ được vài tháng ông Quát phải từ chức vì bất đồng với ông Phan Khắc Sửu như đã nói trên. Ông Phan Huy Quát từng tham chính thời Bảo Đại, nhưng khả năng kém cỏi, thiếu uy tín, ăn nói rù rờ, không dứt khoát. Cứ coi cái trò tuyên truyền mỵ dân rẻ tiền của ông thì đủ rõ. Khi làm Thủ Tướng, hằng ngày ông cho mời một vài người giả cả đến gặp ở Phủ Thủ Tướng. Ông hỏi thăm vài ba câu về đời sống của họ. Họ than nghèo, và xin ông giúp đỡ. Ông liền móc bóp cho 3 ngàn thế rồi cho Đài Phát Thanh loan truyền ầm ĩ, nghe thật là vô duyên, ấu trĩ!

– Ông Trần Văn Tuyên là người được tiếng là khôn ngoan đứng đắn, từng làm Phó Thủ Tướng trong Chính phủ Phan Huy Quát. Ông Phan Huy Quát làm Thủ Tướng chưa đầy 3 tháng thì Nội Các sụp đổ nên ông Trần Văn Tuyên cũng đổ theo. Năm 1971, ông Trần Văn Tuyên ra ứng cử và đắc cử Dân Biểu Hạ Nghị Viện, làm Trưởng Khối Dân Tộc Xã Hội mệnh danh là Khối Đối Lập, nhưng thực chất nhóm này chứa chấp cả những tên Dân Biểu thân Cộng như Hồ Ngọc Nhuận, Phan Xuân Huy, Kiều Mộng Thu, Ngô Công Đức mà ông không hay biết (!?). Có lần TT Nguyễn Văn Thiệu thử mời LS. Trần Văn Tuyên vô Dinh Độc Lập “thăm dò”đề cử làm Thủ Tướng thay ĐT.Trần Thiện Khiêm. Ông Trần Văn Tuyên nói ông Thiệu để ông toàn quyền giải quyết vấn đề, vì ông nghĩ có khả năng nói Võ Nguyên Giáp là bạn học cũ phải nghe. Ông Thiệu nghi ngờ khả năng và uy tín của ông Trần Văn Tuyên nên đã không chấp nhận. Sau 30/04-1975, ông Trần Văn Tuyên bị Việt Cộng bắt đi cải tạo và chết thảm trong tù ở ngoài Miền Bắc, không thấy Võ Nguyên Giáp nói năng gì đến “ông bạn học”xưa! Hồ Ngọc Nhuận trong hồi ký “ĐỜI”, chương VI “Tù Cũ, Tù Mới”, trang 6 có nói đến LS Trần Văn Tuyên: “Hôm gặp nhau khi đi trình diện với Quân Quản ở trụ sở Hạ Viện, anh Tuyên còn lạc quan nói với tôi: “Chế độ mới không có luật sư, nhưng tôi hy vọng sẽ được làm bào chữa viên nhân dân”… Pháp đình chế độ mới có “bào chữa viên nhân dân “thiệt, nhưng không có anh, cũng không có hàng ngũ luật sư, cũng không có “nhân dân “. Chỉ có cán bộ không hà.”

Bởi đó, có người đưa ra nhận xét: “Không ai khôn ngoan mà lại ngây thơ như ông Trần Văn Tuyên!”

– BS. Nguyễn Tiến Hỷ, thuộc Việt Nam Quốc Dân Đảng, được TT Nguyễn Văn Thiệu mời làm Quốc Vụ Khanh đặc trách Nội Vận năm 1971. Người viết có lần đến thăm ông ở Văn Phòng để trình bày về việc xây dựng và củng cố hàng ngũ Cán Bộ Quốc Gia. Ông tiếp chuyện cởi mở, vui vẻ, nhưng khi đề cập đến công tác nội vận thì ông quay ra đả kích dữ dội Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu khiến người viết hết sức ngạc nhiên! Chỉ mấy tháng sau, ông Nguyễn Tiến Hỷ từ chức.

– Sau cùng phải nói đến nhân vật được tiếng to mồm và ồn ào nhất là BS. Phan Quang Đán. Ông Phan Quang Đán đã từng là Bộ Trưởng Thanh Niên (?) thời Bảo Đại. Qua thời Đệ Nhất Cộng Hòa, Phan Quang Đán không được trọng dụng nên chủ trương viết báo và lập Đảng đối lập. Vì dính đến vụ phản loạn của phe nhóm Vương Văn Đông, Hoàng Cơ Thụy, Nguyễn Chánh Thi trong biến cố 11-11-19 60, lên Đài Phát Thanh đả kích chính phủ, Phan Quang Đán bị bắt nhốt ngoài Côn đảo. Sau 1-11-19 63 , BS. Phan Quang Đán ứng cử và đắc cử Dân Biểu Quốc Hội Lập Hiến tháng 9-1966. Vì thuộc phe nhóm chống lại phía quân đội, Phan Quang Đán trở thành ứng cử viên Phó Tổng Thống trong Liên Danh Phan Khắc Sửu- Phan Quang Đán đối đầu với Liên danh Nguyễn Văn Thiệu- Nguyễn Cao Kỳ nhưng thất bại. Đến đây thì tưởng như cuộc đời chính trị của ông đã kết thúc, nhưng ông Đán đã cạy cục nhờ người nói với TT Nguyễn Văn Thiệu xin một chức vụ trong chính phủ, cũng bị từ chối. Sau cùng nhờ Mỹ áp lực, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ban cho chức Quốc Vụ Khanh đặc trách  Khẩn Hoang Lập Ấp. Ở cương vị này, suốt hai năm trời làm ăn chẳng nên cơm cháo gì nên đã bị Quốc Hội cắt hết ngân sách chỉ còn vỏn vẹn 4 triệu cho Văn Phòng. Lại một lần nữa, Phan Quang Đán lại lạy lục Mỹ và TT Nguyễn Văn Thiệu cho kiêm nhiệm Tổng Trưởng Xã Hội thay BS. Trần Ngươn Phiêu đã ngồi quá lâu. Vài trò sau cùng này của Phan Quang Đán kéo dài được 4 tháng thì Miền Nam rơi vào Tay Cộng Sản.

Nhận xét về nhân vật Phan Quang Đán này, nhiều người cho rằng đó là một trong những Bộ Trưởng dở nhất trong các Bộ Trưởng thời Việt Nam Cộng Hòa. Thèm khát địa vị, nhưng thiếu khả năng và uy tín nên cờ đến tay không biết phất. Thật ra chẳng riêng gì ông Phan Quang Đán, mà hầu hết những nhân vật mệnh danh là chống lại chính phủ Ngô Đình Diệm đều thuộc loại hám danh mà dở làm việc. Họ muốn làm đại quan mà không có khả năng làm đại sự. Họ chỉ muốn chia ghế để có địa vị và quyền lợi. Nhưng với TT Ngô Đình Diệm thì khác. Ông không chấp nhận chuyện chia ghế. Ông nào có khả năng thì chính phủ mời cộng tác. Điển hình như các nhân vật thuộc nhóm Caravelle, nhiều người đã được TT Ngô Đình Diệm mời tham chính ngay từ hồi năm 1954 như Phan Khắc Sủu, Trần Văn Đỗ, Trần Văn Hương nhưng họ có làm nên cơm cháo gì đâu. Làm thì dở, thấy nguy thì bỏ chạy. Cho nên sau biến cố 1-11-19 63 , khi có cơ hội tham chánh, và kết quả cho thấy, tư cách và khả năng của họ chỉ là con số không to tướng.

Trường hợp Nhất Linh Nguyễn Tường Tam

Có một nhân vật đã gây nhiều thắc mắc là nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, trưởng nhóm Tự Lực Văn Đoàn, người từng đảm nhiệm vai trò Bộ Trưởng Ngoại Giao trong chính phủ Liên hiệp Hồ Chí Minh 1946, nhưng chỉ được ba tháng vì bất đồng chính kiến thì xin từ chức. Thời Quốc Gia Việt Nam (Quốc Trưởng Bảo Đại) và thời Đệ Nhất Cộng Hòa (TT Ngô Đình Diệm), ông Nguyễn Tường Tam hoạt động văn hóa, cho xuất bản các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn và chủ trương tờ Văn Hóa Ngày Nay. Cũng dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn và của Nhất Linh đã được Bộ Quốc Gia Giáo Dục đưa vào chương trình Trung Học. Tưởng chưa có một vinh dự nào lớn lao đối với một nhà văn như Nhất Linh khi còn sinh thời và Tự Lực Văn Đoàn đã được chính quyền xử sự như thế. Điều đó chứng tỏ nền Đệ Nhất Cộng Hòa và riêng cá nhân TT Ngô Đình Diệm rất nể trọng Tự Lực Văn Đoàn và cá nhân nhà văn Nhất Linh. Thật sự thì không ai có thể phủ nhận công trình văn học của Tự Lực Văn Đoàn và nhà văn Nhất Linh. Cho nên, việc chính phủ Ngô Đình Diệm đưa các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn vào chương trình Trung Học là đúng đắn, rất đáng hoan nghênh. Nhưng không hiểu tại sao Nhất Linh lại bị tố cáo có dính líu vào cuộc Binh Biến ngày 11-11-19 60 của bè nhóm Vương Văn Đông, Hoàng Cơ Thụy, Nguyễn Chánh Thi để đưa ông đến chỗ uống thuốc độc tự tử ngày 7-7-19 63 qua cái gọi là bản di chúc chính trị nguyên văn như sau:

“Đời tôi để lịch sử xử, tôi không chịu để ai xử cả. Sự bắt bớ và xử tội tất cả các phần tử đối lập quốc gia là một tội nặng sẽ làm cho nước mất vào tay Cộng sản. Tôi chống đối sự đó và tự hủy mình, cũng như Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu, để cảnh cáo những người chà đạp  mọi thứ tự do.”Nhất Linh Nguyễn Tường Tam  7-7-63

Vì dính vào vụ 11-11 nên ông bị Toà Án Quân Sự Đặc Biệt gửi trát tòa gọi ra lấy khẩu cung. Qua khẩu cung thì ông chối không hoạt động chính trị và cũng không dình líu gì đến vụ phản loạn nói trên. Qua tài liệu -Trong Bóng Tối Lịch Sử- xuất bản năm 2008- của Cựu Luật sư Lê Nguyên Phu nguyên Đại Tá Ủy Viên Chính Phủ trong Toà Án Quân Sự Đặc Biệt từ trang 188-191, nhân vật Nhất Linh được ghi lại nguyên văn như sau:

“Nhóm Hoàng Cơ Thụy là nhóm dân sự duy nhất biết trước vụ Binh Biến. Còn những người khác như Phan Quang Đán, Phan Khắc Sửu, Vũ Hồng Khanh, Phan Bá Cầm, Bùi Lượng, Đinh Xuân Quảng, Nguyễn Thaàh Phương, Nguyễn Tường Tam cùng đám thuộc hạ em út gồm Trương Bảo Sơn, Nguywễn Thành Vinh, Vĩnh Lợi, Trần Tương v.v… đều là những người lúc nghe tiếng sung nổ mới chạy đến hiện trường, hoan hô đả đảo cho rậm đám. Đây là những người không được mời ăn cỗ, nhưng nghe có đình đám chạy đến để ăn có. Nhóm Caravelle không dự vào vụ Binh Biến này, không có mặt tại chỗ, và không hề bị truy tố ra Tòa Án Quân Sự Đặc Biệt trong vụ này, thế mà sau, tên cầm cờ chạy hiệu Trần Tương viết sách khoa trương láo khoét đã lôi họ vào nội vụ để có chút thơm lây.

Trong số những thực khách không mời mà đến ăn có, tôi chỉ nhắc đến hai trường hợp của Phan Quang Đán và Nguyễn Tường Tam.

Trước tiên là trường hợp Phan Quang Đán, Nguyễn Chánh Thi cảm thấy lẻ loi trong nhóm Vương Văn Đông, nên khi thấy Phan Quang Đán xuất hiện trước Dinh Độc Lập, vội vàng kéo Phan Quang Đán về phe y, cho làm phát ngôn của Thi để cân bằng thế lực với nhóm Vương Văn Đông có Hoàng Cơ Thụy trợ thủ. Phan Quang Đán lên Đài Phát Thanh chửi rủa nhục mạ chính quyền một cách thô lỗ, nhưng lúc bị bắt ra tòa thì mềm nhũn như con chi chi, thái độ ươn hèn khiếp nhược.

Còn trường hợp của Nguyễn Tường Tam lại khác hẳn. Nguyễn Tường Tam có tư cách hơn. Sở dĩ tôi nhắc đến Nguyễn Tường Tam là muốn nói rõ cho hậu thế biết cái chết của ông và nguyên nhân đã đưa ông đến cái chết ấy.

Nguyễn Tường Tam sau khi bị điều tra sơ khởi tại Nha Cảnh sát, Nha An Ninh Quân Đội và thẩm vấn sau cùng tại Tòa Án Quân Sự Đặc Biệt, đã được Đại Tá Lê Văn Khoa ủy viên chính phủ phóng thích ngay, không bị giam giữ một ngày nào. Trong biên bản do chính Đại Tá Lê Văn Khoa thẩm vấn, Nguyễn Tường Tam khai thực sự không biết gì về nội vụ, không có tổ chức căng biểu ngữ, rải truyền đơn chống chính phủ trước Dinh Độc Lập. Nhưng sự việc này hoàn toàn do đám em út của ông (Trương Bảo Sơn, Nguyễn Thành Vinh, Vĩnh Lợi, Trần Tương v.v…) tự động làm ra ông ngăn không nổi. Ông thỉnh cầu Đại Tá Lê Văn Khoa đừng đem đối chất với nhóm thuộc hạ. Sự thỉnh cầu này đưọc ghi rõ ở cuối biên bản thẩm vấn. Đại Tá Lê Văn Khoa chấp nhận lời thỉnh cầu, nên trong hồ sơ không có biên bản đối chất, mặc dầu các thuộc hạ của ông khai ngược lại là đã hành động theo lệnh của ông. Các thuộc hạ của Nguyễn Tường Tam đều bị Đại Tá Lê Văn Khoa tống giam, chỉ một mình Nguyễn Tường Tam được tại ngoại hầu tra. Do dó các thuộc hạ của ông đều tỏ ra bất bình và oán hận, cho rằng chính ông đã đổ hết tội lên đầu của họ. Từ trong khám Chí Hòa, Trương Bảo Sơn viết thư ra cho bà vợ  mới chắp nối là bà Nguyễn Thị Vinh chỉ trích Nguyễn Tường Tam đủ điều, nào là phản bội anh em, nào là thiếu tư cách lãnh tụ v.v… Lá thư được giám đốc khám đường Chí Hòa đệ trình Tòa Đặc Biệt và đưọc lưu giữ lại trong hồ sơ. Lúc bấy giờ hồ sơ đã được Đại tá Lê Văn Khoa kết thúc và đã có án lệnh ra tòa từ lâu, trước khi tôi đến thay thế Đại Tá Lê Văn Khoa. Tôi lưu giữ lá thư trong hồ sơ mà không cho chuyển đi chỉ vì thiện ý. Tôi không muốn vì lá thư nầy mà gia đình các bị can bên ngoài phải trách cứ lẫn nhau, gây thêm sự xáo trộn trong cuộc sống. Nguyễn Tường Tam vẫn được sống tự do tại gia dình.

Vụ án đã có án lệnh đưa ra tòa, nên tôi quyết định không để kéo dài thêm nữa và cho đăng đường xét xử vào phiên tòa ngày 5-7-1963. Theo thủ tục pháp lý, một can phạm bị truy tố về một tội đại hình, nếu được tự do tạm như trường hợp của Nguyễn Tường Tam, phải bị câu lưu lại 3 ngày trước phiên tòa xử. Nhưng đối với Nguyễn Tường Tam, tôi không cho thi hành thủ tục này. Tôi viết thư mời Nguyễn Tường Tam (chứ không ra trát đòi) đến gặp tôi tại Tòa Án Quân Sự Đặc Biệt. Nguyễn Tường Tam đến không sai hẹn, và được tôi tiếp đón nồng hậu. Chúng tôi đã đối diện trò chuyện suốt ba giờ đồng hồ, nghĩa là trọn suốt buổi sáng, tại phòng khách riêng của tôi, không có người thứ ba tham dự, và đề tài đàm thoại, khởi đầu bằng chuyện văn chương, thế tình. Tôi đề cập trước tiên, từ những tác phẩm nổi danh của ông trong Tự Lực Văn Đoàn đến tờ Phong Hóa, Ngày Nay do ông chủ trương trước năm 1945 tại Hà Nội và đồng thời cho ông biết tôi rất hâm mộ tài hoa và sự nghiệp văn chương của ông. Mục đích của tôi là để ông yên tâm. Sau cùng tôi mới nói qua về lý do mời ông đén văn phòng tôi. Tôi cho ông biết vụ Binh Biến 11-11-1960 sắp được đăng đường xét xử và yêu cầu ông ngày đó nhớ đi hầu tòa. Đối với ông, tôi không cho tống dạt trát đòi hầu tòa, cũng như không câu lưu thân thể (theo tiếng Pháp là prise de corps) trước ngày xử án. Tôi hứa sẽ tận tình giúp đỡ ông để sau phiên xử ông vẫn được thong thả và tự do trở về nhà. Thật là một sự dễ dãi chưa từng có trong phạm vi thủ tục pháp lý. Trước sự cởi mở của tôi, ông trầm  ngâm giây lát, tỏ ý cảm kích, và sau cùng hỏi tôi: “Ông ủy viên có thể giúp tôi thêm một chút nữa được không? Tôi xin ông ủy viên giúp tôi tránh khỏi phải đối chất với bọn đàn em thuộc hạ của tôi.”

Tôi hiểu rõ ý muốn của ông, và lần này tôi cũng trầm ngâm như ông trước khi trả lời: “Điều ông yêu cầu thực sự ngoài quyền hạn của tôi, bởi vì hồ sơ đã được đăng đường, trước tòa chỉ có ông chánh thẩm là người duy nhất điều khiển phiên xử và có quyền quyết định tối hậu mọi thủ tục pháp lý. Tôi vì ông sẽ không xin đối chất, nhưng nếu luật sư biện hộ cho thuộc hạ của ông yêu cầu đối chất, tôi sợ ông chánh thẩm khó lòng từ chối. Vì vậy mà tôi không thể hứa chắc về điểm này. Tôi phải tôn trọng ông chánh thẩm trước tòa”.

Câu nói của tôi là một câu nói thành thật chí tình.

Nhưng nghe xong Nguyễn Tường Tam trở nên ray rứt, băn khoăn vô hạn. Ông cuí đầu suy nghĩ. Và trong câu chuyện tiếp theo, ông luôn luôn trở lại vấn đề đối chất và nhiều lần nhắc nhở tôi cố gắng giúp đỡ ông. Đó là lý do vì sao câu chuyện đàm thoại giữa chúng tôi đã kéo dài ba giờ đồng hồ, suốt một buổi sáng. Lúc tiễn ông ra cửa, tôi thấy ông đi thất thểu, nhưng tôi không nghĩ rằng vì vấn đề đối chất nầy mà ông phải tự tử sau đó. Lúc được tin ông đã qua đời, suy nghĩ kỹ lại, tôi mơí nhận rõ điều ông yêu cầu là một điều tối quan trọng đối với ông. Ông không muốn đối diện với bọn đàn em và đối chất với họ trước Tòa, vì đó là một điều sỉ nhục, mất thể diện trọng đại. Trước Tòa, nếu ông tiếp tục giữ lập trường không liên quan vào nội vụ, trong khi bọn đàn em của ông lại nhất quyết cho ông là người cầm đầu, thì cái danh vị lãnh tụ của ông sẽ tiêu tan, và nhân phẩm của ông cũng bị tổn hại rất nhiều. Cho nên chỉ còn một lối thoát duy hất là để tránh sự đối chất là tự tử. Lối thoát này đã giúp ông bảo tồn danh dự và tư cách lãnh tụ, nâng cao nhân phẩm cá nhân và có thể đưa ông vào lịch sử.

Chết là hết! Chết là vạn sự hư không! Nếu cái chết của Nguyễn Tường Tam đến đây chấm dứt, thì có thể nói đó là  một cái chết rất đẹp đẽ, đáng tôn vinh như một điểm son rực rỡ trong cuộc đời chính trị của ông!

Nhưng tiếc thay, điểm son rực rỡ ấy đã bị ông xóa nhòa, bôi đên bằng một mảnh giấy nhỏ được ông để lại khi lâm chung. Trên mảnh giấy ấy ông cho biết ông tự tử vì không muốn bị xét xử trước tòa án của chính quyền Ngô Đình Diệm và xin để lịch sử xét ông về sau. Những dòng chữ này không biết có đánh lạc hướng được lý do tự tử của ông hay không, nhưng chắc chắn đã hạ thấp phẩm giá của ông rất nhiều. Cho đến giờ phút lâm chung ông vẫn còn chưa đạt, vì chưa bỏ được tham vọng lợi danh của mình, chưa giác ngộ  được hành vi tốt hay xấu của mình đối với anh em đồng chí, mà vẫn còn huynh hoang tiếp tục dối trá người đời.  Ông nói không muốn để tòa án chính quyền Ngô Đình Diệm xét xử ông, nhưng thực sự khi ông ra khai cung tại Phòng Dự Thẩm Tòa Án Quân Sự Đặc Biệt thì ông đã bị tòa án của chính quyền Ngô Đình Diệm xét xử rồi, vì trong cơ chế pháp lý, Dự thẩm được xem như là một cấp xử án riêng biệt (une jurisdiction à part), có quyền định tội danh của can phạm, cải tội danh, ra án lệnh miễn tố hay truy tố ra tòa khi tội danh đã được xác định.

Vụ tự tử của Nguyễn Tường Tam về sau có nhiều người khai thác, dựa vào đó để làm nấc thang danh vọng, kể cả những người từng oán hận ông như Trương Bảo Sơn. Sau vụ đảo chánh 1-11-1963, họ được trả tự do, vội vàng tổ chức lễ truy điệu Nguyễn Tường Tam rất trong thể tại Vườn Tao Đàn, để rồi sau đó mỗi người được chính quyền quân phiệt tưởng thưởng một số tiền lớn có thể mua nhà cửa, phố xá, mở tiệm buôn, tiệm thuốc tây v.v… Có người còn được gia nhập chính quyền, học ăn học nói ở Thượng Hạ Nghị Viện. Tôi muốn hỏi những đàn em của Nguyễn Tường Tam họ có bao giờ nghĩ rằng Nguyễn Tường Tam chết cũng vì những lời bài xích xa gần của họ.”

Qua những dòng trên đây cho thấy Nhất Linh thật sự có tham dự vào âm mưu đảo chánh 11-11-19 63 nhằm lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm. Chính con út ông là Nguyễn Tường Thiết trong hồi ký Nhất Linh Cha Tôi do Văn Mới xuất bản năm 2006 trang 29-30 đã xác nhận điều đó: “Thế rồi ông quyết định giã từ tất cả. Đà Lạt, Fim Nôm, dòng Đa Mê và cả trăm giỏ lan mà ông đã chăm sóc từ hai năm qua, để về luôn Sài Gòn, chấm dứt cái thời kỳ mà ông Lê Hữu Mục đã viết trong đoạn kết cuốn sách của ông là “một Nhất Linh nằm trùm chăn ở trên Đà Lạt”. Đối với tôi, thật bụng tôi chỉ mong ông được nằm trùm chăn lâu hơn vì đây chính là thời gian hạnh phúc nhất trong đời ông mà tôi được biết. Nhất Linh “xuống núi”lăn vào cuộc đời làm báo, tham gia đảo chính, thất bại, đi trốn, bị đưa ra tòa, đưa đến cái tự vẫn của ông mấy năm sau, mở đầu một thời kỳ cuối cùng của đời ông với nhiều não nề, nhiều chán chường hơn”.

Đã tham gia đảo chính nhưng tại sao Nhất Linh lại phủ nhận tất cả hành động của mình trước Tòa Án Quân Sự Đặc Biệt? Đọc đoạn viết của LS Lê Nguyên Phu trên đây cũng như đọc mục “Niềm Vui Chết Yểu”từ trang 31-51 trong Nhất Linh Cha Tôi của Nguyễn Tường Thiết cho thấy tâm trạng lo âu sợ sệt của Nguyễn Tường Tam. Tại sao lại sợ và tại sao phải chọn cái chết? Mỗi người có thể suy luận theo nhận định riêng của mình.

Ông Nguyễn Văn Lục trong cuốn “Một Thời Để Nhớ”do Diễn Đàn Giáo Dân xuất bản năm 2011 nơi các trang 187-188 cho rằng Nhất Linh chọn cái chết vì bịnh tâm thần. Xin trích một đoạn sách của ông Nguyễn Văn Lục: “Trong số những nhân vật bị bắt, có nhân vật quan trọng như một thứ biểu tượng thống lãnh và uy tín hàng đầu. Đó là ông Nhất Linh. Trước đây không lâu, tôi có viết một bài nhan đề “Trường hợp Nhất Linh, một cái chết định trước”. Trong đó tôi cho rằng Nhất Linh mắc bệnh tâm thần, bị ám ảnh thường trực ý muốn tự tử. Và cơ hội đã đến trong dịp bị gọi ra tòa về vụ đảo chánh hụt 11-11-1960. Có rất nhiều ý kiến phản bác. Nay cơ hội cho tôi có dịp khẳng định lại một lần nữa để nhận ra suy diễn của tôi không phải là vô bằng cớ mà có căn cơ đứng đắn, có cơ sở lý luận và có chứng liệu thực tìễn.”Ông Nguyễn Văn Lục còn nêu ra những nhận xét của những người thân thiết với nhà văn Nhất Linh như Bác sĩ Nguyễn Hữu Phiếm, Thế Uyên đều xác nhận Nhất Linh mắc bệnh tâm thần hay suy nhược thần kinh. Bài viết và tác phẩm của ông Nguyễn Văn Lục đã làm dư luận xôn xao trong đó, Nguyễn Tường Thiết là con út của Nhất Linh đã viết ba bài phản bác kịch liệt trên các Diễn Đàn Internet để bênh vực cho cha.

Nguyễn Tường Tam viết rằng đời ông để Lịch sử xét xử. Cái chết của ông đã ngót nửa thế kỷ. Chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa cũng đã bị lật đổ ngót nửa thế kỷ. Bao nhiêu tài liệu đã được giải mật, phơi bầy, chẳng còn gì dấu kín. Những lời của LS Lê Nguyên Phu và của Nguyễn Tường Thiết viết ra về Nhất Linh đã sáng tỏ về con người của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam: “Nhất Linh xuống núi, lăn vào chính trị, tham gia đảo chính hụt, thất bại, sợ sệt, trốn tránh, bị điều tra và ở thế cùng, chọn cái chết”, chứng tỏ Nhất Linh không phải là người có bản lĩnh chính trị, không có viến kiến chính trị. Nhất Linh thành công về văn học và thất bại ê chề về chính trị.

Người viết tự hỏi: nếu quả thực nhà văn Nhất Linh không dính gì vụ Binh Biến 11-11-19 60 thì tại sao lại phải trốn tránh, và tại sao lại nài nỉ xin Ủy viên chính phủ Lê Nguyên Phu tránh cho chuyện đối chất với thuộc hạ đàn em? Còn nếu Nhất Linh đã có gan tham gia Binh Biến thì tại sao không có gan đứng trước Tòa Án Quân Sự Đặc Biệt mạnh dạn phản bác mọi cáo buộc, công khai lên án sự chà đạp tự do của chính quyền Ngô Đình Diệm? Nếu Nhất Linh có can đảm làm như thế thì liệu chính quyền Ngô Đình Diệm có dám kết án nặng nề hay phải nhượng bộ ông? Nếu Nhất Linh có viễn kiến chính trị, nhìn thấy sự thay đổi sẽ xẩy ra trong tương lai gần trong tinh hình xáo trộn tháng 7/1963, thì có lẽ Nhất Linh đã không tự tử. Biết đâu rằng sự gan dạ và mạnh dạn ra Tòa Án sẽ là một bản Cáo Trạng lớn lao hơn với chế độ và là một thành tích lẫy lừng của Nhất Linh để sau khi biến cố 1-11-19 63 xẩy ra sẽ đưa Nhất Linh lên hàng lãnh đạo quốc gia, vượt xa những Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Trần Thiện Khiêm? Thật tiếc cho ông đã bỏ lỡ mất cơ hội ngàn năm một thuở.

Theo thiển ý, muốn đấu tranh kết quả, ít nhất phải giữ mạng sống của mình đã. Bị bắt ra Tòa đâu có phải là điều sỉ nhục. Trong lịch sử đấu tranh, có hàng ngàn, hằng vạn, hàng triệu người bị đưa ra Tòa có sao đâu. Chỉ có gian dối hay có điều gì khuất tất sợ sự thật mới trốn tránh. Nhất Linh đã không làm thế? Nhất Linh muốn đời ông để lịch sử xét xử thì nay sự thật lịch sử đã được phơi bầy rồi đó kể cả sự thật về Nhất Linh Nguyễn Tường Tam. Lịch sử cho thấy mọi biến cố chính trị liên hệ đến Việt Nam Cộng Hoà đều có bàn tay của ngoại bang. Bàn tay ấy giống như một con bạch tuộc với trăm ngàn cái vòi đã len lỏi, thọc sâu vào mọi cơ cấu từ thượng tầng đến hạ tầng quốc gia để đạo diễn mọi biến cố rất tinh vi mà người đưong thời ít ai biết được. Cái chết của Nhất Linh không chắc đã đem lại ích lợi gì cho đất nước, nhưng rõ ràng là giúp thêm cho chiến dịch tuyên truyền lưu manh của ngoại bang đang muốn khai thác nhằm lật đổ chế độ Cộng Hòa Việt Nam với TT Ngô Đình Diệm, một người mà thù phải sợ, bạn phải nề.

Trường hợp Giáo sư Vũ Văn Mẫu: kẻ khôn làm đầy tớ thằng ngu hai lần!

Khi Mỹ âm mưu lật đổ TT Ngô Đình Diệm  và nền Đệ Nhất Cộng Hòa bằng việc mua chuộc một số tướng lãnh đóng vai trò chủ chốt thì mặt khác, Mỹ cũng liên hệ và mua chuộc những nhân vật dân sự bằng những hứa hẹn quyền lợi và chức tước. Những nhận vật đó gồm: Ông bà Đại sứ Trần Văn Chương ở Hoa Kỳ, Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ, Bộ Trưởng Phủ Tống Thống Nguyễn Đình Thuần, Chánh Văn Phòng Phủ Tổng Thống Võ Văn Hải và đặc biệt là Bộ Trưởng Ngoại Giao Vũ Văn Mẫu. Người viết muốn nhấn mạnh đến nhân vật Vũ Văn Mẫu ở đây.

Giáo sư Vũ Văn Mẫu có bằng Thạc sĩ Tư Pháp, được chính phủ Ngô Đình Diệm cho làm Khoa Trưởng Trường Đại Học Luật Khoa Sài Gòn, sau cất nhắc lên làm Bộ Trưởng Ngoại Giao từ 1955 đến 1963. Trên cương vị Bộ Trưởng Ngoại Giao, nhờ nội bộ ổn định và nhất là bằng vào uy tín của chính quyền  Đệ Nhất Cộng Hòa và cá nhân TT Ngô Đình Diệm, Giáo sư Vũ Văn Mẫu nghiễm nhiên trở thành một trong những khuôn mặt sáng giá của chế độ. Trong thời gian làm Bộ Trưởng Ngoại Giao, Giáo sư Vũ Văn Mẫu vẫn được tiếp tục giảng dạy tại Đại Học Luật Khoa các lớp ban Cử Nhân và ban Cao Học. Đặc biệt, các sách giáo khoa (Cours) do Giáo sư biên soạn như Dân Luật Khái Luận, Dân Luật Lược Khảo, vân vân đã được các sinh viên đón mua cách nồng nhiệt, và đó cũng là món huê lợi không phải là nhỏ. Chức vụ, quyền hành và lợi lộc tưởng chưa mấy nhân vật nào được ưu đãi hơn. Theo Giáo sư Vũ Quốc Thúc, TT Ngô Đình Diệm tỏ ra rất nể trọng GS Vũ Văn Mẫu và GS Vũ Quốc Thúc. Cả hai ông đều được TT Ngô Đình Diệm trân trọng kêu bằng “Ngài”. Vậy mà sau khi được Mỹ móc nối và hứa hẹn, GS. Vũ Văn Mẫu đã trở mặt, quay đúng 180 độ ngay sau biến cố Phật Giáo cũng do CIA Mỹ đạo diễn, cạo đầu, xin từ chức và xin đi hành hương Ấn Độ. Việc làm của GS Vũ Văn Mẫu dĩ nhiên như đổ thêm dầu vào lửa sau vụ “bị thiêu sống”của TT Thích Quảng Đức làm cho tình hình bang giao Việt – Mỹ đang căng thẳng, trở nên gay cấn hơn, tạo thêm lý do để Mỹ xúi giục bọn tướng lãnh phản bội chuẩn bị ra tay. Tưởng rằng sau đảo chánh 1-11 thành công, GS. Vũ Văn Mẫu sẽ nắm vai trò quan trọng như chức vụ Thủ Tướng, nào ngờ được bố thí cho chức Đại Sứ tại Anh Quốc. Nhưng chưa đấy 4 tháng thì cuộc Chỉnh Lý của Nguyễn Khánh xầy ra khiến Giáo sư mất luôn chức Đại sứ để trở về Trương Luật dạy học kiếm ăn.

Sau một thời gian thậm thụt đi theo phe Phật Giáo Ấn Quang không ăn cái giải vì đám  sư này quyết liệt tẩy chay mọi hoạt động của Chính quyền VNCH thì sự nghiệp chính trị của GS Vũ Văn Mẫu kể như kết thúc. Nhưng đột nhiên, đám sư sãi Phật Giáo Ấn Quang nghĩ lại nếu cứ tiếp tục tẩy chay chính quyền thì tự cô lập mình và phe Phật Giáo Việt Nam Quốc Tự của TT Thích Tâm Châu được chính quyền công nhận sẽ thắng thế. Phật Giáo Ân Quang liền tung ra Liên Danh Hoa Sen ứng cử vào Thượng Nghị Viên 1973 do GS. Vũ Văn Mẫu đứng Thụ Uỷ cùng một số nhân vật như Bác sĩ Nguyễn Duy Tài, Tôn Thất Niệm, Tôn Ắi Liêng, Trần Quang Thuận, vân vân đồng thời ủng hộ Dương Văn Minh ra tranh cử Tổng Thống. Nhưng khi thắng cử vào Thượng Nghị Viện rồi, Liên danh Hoa Sen cũng vẫn chỉ là thiểu số không nắm được một chức vị nào cả. Đã vậy, Nghị sĩ Nguyễn Duy Tài trong Liên danh Hoa Sen lại trở cờ chạy theo phe thân chính quyền, được chức Chủ Tịch Ủy ban Ngoại Giao Thượng Viện.  Suối gần 2 năm trời ở Thượng Viện, Liên danh Hoa sen và NS Vũ Văn Mẫu chẳng làm nên trò trống gì. Qua năm 1975, tình hình mỗi ngày thêm biến đổi, ông được phe Ấn Quang cử làm Chủ Tịch Lực Lượng Hòa Giải Dân Tộc mà Văn phòng đặt tại Khối Dân Tộc Xã Hội Hạ Nghị Viện. Nghị sĩ Vũ Văn Mẫu theo chỉ đạo của Ấn Quang đang nhắm đóng vai trò đại diện “Thành thành phần thứ ba”trong Chính Phủ ba thành phần. Nhưng vì thiển cận không nhìn xa trông rộng, không thấy được nước cờ Hoa Kỳ và đối phương đang đi nên cuối cùng trở thành công cụ hốt rác cho Mỹ. Ngày 28-04-1975, vừa mới nhậm chức, thì cùng với Dương Văn Minh, ông nhân danh là Thủ Tướng Chính Phủ tuyên bố: “Yêu cầu Mỹ rút khỏi Việt Nam trong vòng 24 giờ”không phải để có “Chính Phủ Hòa Hợp Hòa Giải”mà là đầu hàng cách nhục nhã Cộng Sản ngày 30-04-1975.

Nhiều nhân vật cho biết, vào những giờ phút cuối, khi Dương Văn Minh bị áp lực của Việt Cộng sắp sửa tuyên bố đầu hàng, “Thủ Tướng một ngày”Vũ Văn Mẫu đã tỏ ra hoảng sợ cũng muốn tìm đường chạy trốn nhưng quá muộn, đành phải cúi đầu theo Dương Văn Minh vào Dinh Độc Lập đón tiếp bọn ăn cướp!  Bị kẹt lại Việt Nam, Vũ Văn Mẫu cũng như Dương Văn Minh, nhờ “công lao hãn mã đầu hàng vô điều kiện”nên Cộng Sản tha cho khỏi phải đi “học tập cải tạo”trong các trại tù như bao Quân Dân Cán Chính VNCH khác, mà chỉ bị học tập tại chỗ.  Mấy năm sau, khi tìmh hình ổn định, Việt Cộng cho ông qua Pháp định cư.

Năm 1988, ông viết Hồi Ký “Sáu Tháng Pháp Nạn của Minh Không Vũ Văn Mẫu”để kể tội chế độ Ngô Đình Diệm, một chế độ đã đối xử rất tử tế với ông: cử làm Bộ Trưởng Ngoại Giao suốt từ 1955 dến 1963, một Bộ Trưởng ở lâu nhất trong chức vụ.

Đọc bài giới thiệu Hồi Ký “Sáu Tháng Pháp Nạn”của GS. Vũ Văn Mẫu do Giao Điểm xuất bản năm 2003 trên Internet, người ta thấy ông chê bôi, chỉ trích chế độ Ngô Đình Diệm và các nhân vật trong gia đỉnh Tổng Thống Diệm một cách gay gắt không tiếc lời. Chưa hết, ông tấn công Dụ Số 10 do Bảo Đại đưa ra nhưng lại đổ tội cho TT Ngô Đình Diệm là thủ phạm vì nó mà gây nên Pháp nạn!

Người viết tự hỏi: Giáo Sư Vũ Văn Mẫu, một nhân vật chính trị lớn, một nhà ngoại giao có tầm vóc, một Luật gia nổi tiếng, một Kẻ Sĩ thời đại tại sao lại có hành động như vậy?  Đáng lý ra với tư cách là một Luật gia nổi tiếng, một nhân vật lớn của chế độ (Bộ Trưởng Ngoại giao), một tín đồ Phật Giáo thuận thành với “Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi”, một kẻ sĩ thời đại “Phú quý bất năng dâm, Bần tiện bất năng di, Uy vũ  bất năng khuất”, đã được chế độ ưu đãi trân trọng, thì nếu có những gì sai trái xẩy ra, phải có bổn phận lên tiếng can ngăn, cảnh giác, trình bày điều hơn lẽ thiệt để sửa đổi và để cứu nguy chết độ, chớ sao lại bỏ ngang chơi trò “cạo đầu”, đổ thêm dầu vào lửa, đâm sau lưng Lãnh Tụ? Là một nhân vật được Tổng Thống rất nể trọng, tại sao ông không có can đảm đặt thẳng vấn đề với Tổng Thống khi họp Hội Đồng Nội Các hay lúc gặp gỡ riêng liên hệ đến lãnh vực ngoại giao? Vậy mà ông ngậm tăm, không làm gì cả ! Có phải vì ông cũng là thứ người hèn nhát, chỉ biết gọi dạ bảo vâng? Nếu quả tình GS Vũ Văn Mẫu xứng đáng với những danh xưng đó, thì những ai chịu suy nghĩ cũng khó mà tìm được lời giải đáp. Vì cho đến giờ phút này, vẫn chưa có ai chứng mình được rằng Dụ Số 10 đã gây thiệt hại những gì cho Phật Giáo, ngoại trừ luận điệu xuyên tạc chế độ Ngô Đình Diệm là “gia đình trị”và “kỳ thị tôn giáo”. Nói cho cùng, Dụ số 10 chỉ là cái cớ để mấy nhà sư tranh đấu lợi dụng nhằm gây bất mãn cho mục tiêu lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Còn trên thực tế, vì nhu cầu tổ chức của chính phủ Quốc Gia Việt Nam, vua Bảo Đại ban hành Dụ số 10 để cơ quan hành chánh căn cứ vào đó mà làm việc với các tổ chức đoàn thể. Trên nguyên tắc, Phật Giáo là một tổ chức thì cũng phải ghi tên, đăng ký như các đoàn thể tổ chức khác. Nhưng cũng trên thực tế là Chính quyền của TT Ngô Đình Diệm không hề áp dụng Dụ số 10 với Phật Giáo. Chẳng những thế, chính phủ Đệ Nhất Cộng Hòa còn tỏ ra trân trọng giúp đỡ tận tình Phật Giáo xây Chùa, cho sư tăng xuất ngoại du học, vân vân và có thể nói đó là thời Phật Giáo phát triển mạnh nhất.

Xin hỏi lại mấy ông sư tranh đấu: Ai cho tiền xây Chùa Xá Lợi? Ai cho đất để xây Chùa Vĩnh Nghiêm? Ai cho các vị sư nổi tiếng như Thích Quang Liên, Thích Thiên Ân, Thích Nhất Hạnh, vân vân du học ngoại quốc? Có phải là chính Phủ Ngô Đình Diệm hay ai khác?  Hỏi tức là trả lời. Vậy mà chính phủ Ngô Đình Diệm chỉ vì Chủ quyền Quốc gia, chống đối lại việc Mỹ muốn đưa quân vào Việt Nam đã bị hàm oan và trở thành nạn nhân?

Luận điệu nói rằng chính phủ Ngô Đình Diệm kỳ thị tôn giáo cũng sai. Tầm cỡ như TT Ngô Đình Diệm hay ông Cô vấn Ngô Đình Nhu đâu có ngu xuẩn hay dại dột làm những điều tệ hại như thế. Còn đối với Giáo Hội Công Giáo thì vì chưa được Tòa Thánh Vatican coi là trưởng thành, nên vẫn còn nằm dưới sự quản trị của Hội Thừa Sai Paris tức là MEP (Mission Étrangère de Paris) chớ chẳng phải ưu đãi gì. Vậy mà mấy ông đã “vọng ngữ”tức là nói láo rằng Chính phủ Ngô Đình Diệm kỳ thị tôn giáo, thật không thể tưởng tượng được mồm ép của mấy ông “sư hổ mang”! Các ông đả kích Chính quyền Ngô Đình Diệm về Dụ số 10 để rồi lại gửi văn thư 13-01-1964 xin phép Bộ Nội Vụ của Chính quyền quân phiệt ban hành Nghị định cho phép thành lập Giáo Hội, công nhận Hiến Chương  của mấy ông thì có khác gì “nhổ ra rồi lại nuốt vô”! Bởi thế, càng hô hào thống nhất lại càng chia rẽ! Thống nhất rồi mới tự chia ra hai phe: Việt Nam Quốc Tự và Ấn Quang! Vì có Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất nên ngày nay mới có Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (quốc doanh). Gieo nhân nào thì gặt quả nấy. Đó cũng là luật nhân quả của nhà Phật!  Pháp nạn ở đâu mà ra? Pháp nạn nằm trong lòng mấy ông đó! Nhưng Dụ Số 10 thì vẫn còn giá trị pháp lý và nó vẫn chưa hề bị hủy bỏ, ít ra là cho đến ngày 30-04-1975 .

Trở lại trường hợp GS Vũ Văn Mẫu, quả thật làm Kẻ Sĩ không phải dễ. Có học vị cao, có chức tước lớn cũng chưa bảo đảm hành động tốt và có đạo lý làm người. Khi đã tối mắt vì quyền lợi và chức tước thì Đạo Lý cũng sẽ bị giục vô thùng rác, dù đó là thùng rác của lịch sử. Tất cả những hành động của GS Vũ Văn Mẩu kể từ khi cạo đầu đã lột trần bản chất con người ông. Càng về sau thì sự thật con người của ông càng lộ ra những cái mà người có lương tri, đạo lý phải lắc đầu: một tên hoạt đầu chính trị!

Nhân danh là một trí thức, một nhà ngoại giao lớn, một chính trị gia có hạng, một luật gia nổi tiếng, vậy mà ông Vũ Văn Mẫu đã nghe lời dụ dỗ của ngoại bang, cạo đầu chống đối chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa, một chế độ hợp hiến, hợp pháp, hợp đạo lý để làm tay sai cho Dương Văn Minh, một tên tướng tham, hèn, ngu dâng nốt Miền Nam cho Cộng Sản.

Người ta nói: “Làm đầy tớ cho thằng khôn hơn làm thầy thằng ngu.”GS Vũ Văn Mẫu, thay vì làm thầy thằng khôn, lại dại dột đi làm đầy tớ cho thằng ngu, không phải một lần (1963) mà tới hai lần (1975) cho tên tướng tham, hèn, ngu Dương Văn Minh nên thân bại danh liệt là cái chắc.

Thời thế biến chuyển. Lòng người thay đổi. Chỉ vị lợi lộc và thiếu suy nghĩ, những kẻ võ biền như bọn tướng lãnh đâm thuê chém muớn xuất hiện. Những trí thức nửa mùa hoạt đầu như Hoàng Cơ Thụy, Phan Quang Đán, Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Xuân Oánh, và sau cùng như Vũ Văn Mẫu nổi lên a dua cũng không thiếu. Người ta nói: “Khôn ba năm dại một giờ”. Bọn chính khách hoạt đầu điếm đàng này thì “khôn ba năm, dại một đời”. Cái dại chẳng những làm hại chính bản thân nó mà làm hại cả một dân tộc!

Sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ ngày 1-11-19 63 thì Việt Nam Cộng Hòa rơi vào tình trạng xáo trộn và khủng hoảng lãnh đạo chưa từng thấy. Cha con bọn đảo chánh từ thầy đến tớ toàn là một lũ ngu xuẩn, lo vơ vét, ăn chơi đàng điếm, không biết làm việc. Hệ thống an ninh bị bỏ ngỏ. Quốc sách Ấp Chiến Lược bị phá vỡ. Việt Công gia tăng xâm nhập phá hoại. Tình hình Miền Nam từ nông thôn đến thành thị trở nên nguy ngập. Mỹ phải cấp tốc đổ nửa triệu quân vào cứu vãn. Và như đã nói trên suốt hai năm trời sau đào chính (1963-1965), Miền Nam đã trở thành vũng lầy đầy những xáo trộn và bất ổn. Bây giờ thì Mỹ và bọn đâm thuê chém mướn mới biết nhân vật lãnh đạo quan trọng như thế nào? Cũng từng ấy nhân sự, cũng từng ấy cơ sở mà tại sao tình hình trước và sau ngày 1-11-1963 thay đổi một cách khác thường như vậy? Bây giờ thì người ta cũng mới biết tài năng, đức độ của TT. Ngô Đình Diệm và những cộng sự viên đắc lực trong việc điều hành guồng máy quốc gia qua hai tổ chức Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng Đảng và Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia là quan trọng.

Cầu cứu Đảng viên Cần Lao

Sau khi Nguyễn Khánh làm cuộc Chỉnh Lý 30-01-1964 rồi lên làm Thủ Tướng thì Liên Hiệp Nghị Sĩ Quốc Tế nhóm họp Đại Hội hằng năm gửi thư mời Đại diện Việt Nam Cộng Hòa tham dự vì Quốc Hội thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa đã là hội viên thường trực của tổ chức này. Nguyễn Khánh đã cử một nhân vât mới nào đó (người viết không nhớ tên) qua Ba Lan phó hội nhưng bị từ chối. Nguyễn Khánh phải cho người vào khám Chí Hòa mời Cựu Dân Biểu Cần Lao Nguyện Phương Thiệp ra hướng dẩn phái đoàn VNCH qua phó hội vì DB Nguyễn Phương Thiệp đã từng là Trưởng Phái Đoàn Quốc Hội VNCH (trong phái đoàn thời đó có bà Ngô Đình Nhu nhũ danh Trần Lệ Xuân) đã được bầu làm Chủ Tọa hai khóa họp thường niên. Tưởng cũng nên biết Liên Hiệp Nghị Sĩ Quốc Tế là tổ chức quy tụ các Đại Biểu Quốc Hội thuộc các Quốc gia trên toàn thế giới (cả Tự do lẫn Cộng sản), trong đó Việt Nam Cộng Hòa được thậu nhân mà Cộng Sản Bắc Việt bị từ chối, lý do vì Quốc Hội Việt Cộng suốt từ 1946 đến 1960 không hề được bầu lại.

Đó là mặt đối ngoại.

Về đối nội, thì sau khi Nguyễn Khánh bị Hội Đồng Quân Lực cho xuất ngoại làm “Đại Sứ Lưu Động”ở Hoa Kỳ (25-02-1965), thì các Đảng Viên Cần Lao và Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia cũng được thả dần. Lý do rất đơn giản là các chính phủ mới cần người biết làm việc và lấy hậu thuẫn trong cuộc bầu cử Tổng Thống, Phó Tổng Thống và Quốc Hội VNCH năm 1967 sau khi Hiến pháp Đệ Nhị Cộng Hòa đã được ban hành. Lúc đó TT Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia (vai trò như Quốc Trưởng hay Tổng Thống) và Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (Thủ Tướng). Tuy Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu ở cương vị lãnh đạo cao hơn, nhưng quyền hành lại nằm trong tay Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ. Vì cả hai đều muốn ra làm Tổng Thống nên tranh chấp nhau kịch liệt. Ông Thiệu nắm được đa số thành viên trong Hội Đồng Quân Lực. Còn ông Kỳ nắm guồng máy Chính Phủ. Để nắm chắc phần thắng, cả hai đều đi tìm hậu thuẫn từ các đoàn thể quần chúng. (Vì ngoài việc vận động Hội Đồng Quân Lực, còn phải vận động các đoàn thể quần chúng.) Đảng Cần Lao tuy đã bị giải tán nhưng rất nhiều Đảng viên Cần Lao vẫn còn làm việc hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp trong các cơ quan chính phủ, trong Quân đội hay ngoài dân sự. Cả hai ông Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ đều cho người vận động các Đảng viên Cần Lao vì hai ông đều biết rằng số Đảng viên này có khả năng và uy tín.

Ông Thiệu nhắm những cựu Đảng viên Cần Lao còn trong Quân Đội.

Ông Thiệu đã chỉ thị cho Đại Tá Cục Trưởng Quân Cụ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thời đó và vị Đại Tá này đã nhờ một Đại Uý đang làm việc với một Sĩ quan cựu Đảng Viên Cần Lao trong một đơn vị thuộc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị để mời vị Sĩ quan Đảng viên Cần Lao này dùng cơm gia đình tại tư thất, nhân thể chuyển lời của Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu muốn vị này vận động các Đảng viên CLNVCMĐ ủng hộ ông trong kỳ bầu cử Tổng Thống. Theo tiết lộ của vị Sĩ quan Đảng Viên Cần Lao này thì trong một buổi lễ do Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị tổ chức, ông Thiệu đã đích thân đến bắt tay và nói nhỏ (vì ông Thiệu có quen biết và từng nhờ vả khi trước). Nhưng vị này đã khéo léo trả lời: “Thưa Trung Tướng, chúng tôi như những người con gái đã lấy chồng và chồng lại vừa mới chết mồ mả chưa xanh cỏ. Nếu chúng tôi ra tay công khai ủng hộ Trung Tướng thì e rằng dư luận phê phán và như vậy cũng không mang lại lợi ích gì cho Trung Tướng. Riêng cá nhân tôi, tôi hết lòng ủng hộ Trung Tướng”.

Phần ông Nguyễn Cao Kỳ, đang trên cương vị Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương tức là Thủ Tướng, lại nhắm những nhân vật dân sự củng một số cựu Đảng viên trong Quân đội bị cho giải ngũ. Những cựu Đảng viên này nói với ông Kỳ rằng Đảng Cần Lao từ ngày 1-11-19 63 đã bị chính phủ giải tán, đặt ra ngoài vòng pháp luật. Nay ông muốn chúng tôi giúp thì ông phải trả tự do cho những Đảng viên đang còn bị chính quyền cầm tù và phải cấp giấy phép cho tại lập Đảng với danh xưng mới. Kết quả ông Kỳ đồng ý cấp giấy phép và Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng Đảng tái hoạt động với tên mới là Việt Nam Nhân Xã Cách Mạng Đảng.

Việt Nam Nhân Xã Cách Mạng Đảng: hậu thân của Cần Lao

Việt Nam Nhân Xã Cách Mãng Đảng có trụ sở tại 86 Bà Huyện Thanh Quan, Sài Gòn. Ba nhân vật lãnh đạo gồm các ông:

– Giáo sư Trương Công Cừu, nguyên Bộ Trưởng Đặc Trách Văn Hóa Xã Hội (thời Đệ I CH) kiêm Bộ Trưởng Ngoại Giao sau khi GS Vũ Văn Mẫu xin từ chức.

– Dược Sư Ngô Khắc Tỉnh, Cựu Dân Biểu thời Đệ I VNCH, sau làm Bộ Trưởng Thông Tin và Bộ Trưởng Giáo Dục thời chính phủ Trần Thiện Khiêm (1970-1975)

– Luật sư Lê Trong Quát, Cựu Dân Biểu Đệ I VNCH.

VNNXCMĐ đã tổ chức được gần 40 Tỉnh, Thị Bộ trên toàn quốc, nhờ móc nối và sinh hoạt lại được với các thành viên Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia và Đảng viên Cần Lao.

Tại Quốc Hội:

Ở Hạ Nghị Viện VNCH pháp nhiệm I (1967-1971) đã quy tụ được 14 Dân Biểu.

Năm 1971, ông Ngô Trọng Hiếu ra ứng cử Dân biều Hạ Nghị Viện pháp nhiệm 2 (1971-1975) đơn vị Biên Hòa (Hố Nai) đã đắc cử với số phiếu thật lớn vì nhờ uy tín khi làm Bộ Trưởng Công Dân Vụ thời Đệ Nhất Cộng Hòa với TT Ngô Đình Diệm.

Tại Thượng Nghị Viện thỉ Liên danh Mặt Trời của Cựu TT. Huỳnh Văn Cao và Liên danh Bạch Tượng của ông Trần Văn Lắm đều có người là cựu Đảng viên Cần Lao Nhân Vị, nhưng người viết không nhớ rõ Nghị sĩ nào đã tham gia VNNXCMĐ.

Cựu Thiếu Tá Nguyễn Đức Xích, nguyên Tỉnh Trưởng Gia Định, là Tổng Thư Ký VNNXCMĐ (trước Nguyễn Kim Khánh, cựu Tỉnh Trưởng Phan Rang thời Đệ Nhất Cộng Hòa), ứng cử và đắc cử vô Viện Giám Sát. Sau 1975, Thiếu Tá Nguyễn Đức Xích bị Việt Cộng bắt vô trại tù Vườn Đào (Tiền Giang, Mỹ Tho), và bị bắn chết sau một cuộc tranh luận tay đôi và công khai với Việt Cộng.

Tại sao lại chọn tên là Việt Nam Nhân Xã Cách Mạng Đảng?

Sự hình thành VNNXCMĐ không hẳn là do sự việc hai ông Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ cậy nhờ anh em Đảng viên Cần Lao, mà còn một nguyên nhân khác, có tầm vóc chiến lược hơn. Số là sau biến cố 1-11-19 63, một vài nhân vật thời Đệ Nhất Cộng Hòa nhận thấy khoảng trống chính trị lớn lao ở Miền Nam và sự thiếu sót một chủ thuyết chống Cộng, cho nên đã họp bàn và đi đến quyết định tái phục hoạt Đảng Cần Lao tại nhà ông Trần Quang Ngọc. Nhưng thay vì dùng danh xưng Cần Lao Nhân Vị Các Mạng Đảng như trước, họ đã quyết định đổi thành Việt Nam Nhân Xã Cách Mạng Đảng. Với danh xưng mới này thì có hai chữ Nhân Xã được thay thế cho hai chữ Nhân Vị. Nhân Xã là Nhân Bản Xã Hội, nhưng thực chất hay nội dung cũng là Nhân Vị mà thôi.

Mới đầu, VNNXCMĐ có gây được sự chú ý của dư luận. Nhưng sau một thời gian, nhất là sau khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu thành lập Mặt Trận Quốc Gia Dân Chủ Xã Hội đồng thời mời hai nhân vật Ngô Khắc Tỉnh và Lê Trọng Quát đảm trách Bộ Thông Tin thì sinh hoạt của VNNXCMĐ bắt đầu đi xuống mà nguyên nhân chính là thiếu lãnh đạo. Cũng mới đầu, bộ ba “Trương Công Cừu, Ngô Khắc Tỉnh và Lê Trọng Quát”làm việc có vẻ khắng khít, thì nay bỗng nhiên chia tay vì đòn ly gián của ông Thiệu. Thật ra, chẳng riêng gì Việt Nam Nhân Xã Cách Mạng Đảng mà 5 Đảng kia trong Mặt Trận (Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt Cách Mạng, Lực Lượng Đại Đoàn Kết, Việt Nam Dân Xã Đảng và Liên Minh Dân Tộc Cách Mạng Xã Hội) cũng vậy, nghĩa là đều ở trong tình trạng khủng hoảng lãnh đạo. Các lãnh tụ Đảng như Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Gia Hiến, Phan Bá Cầm, Hà Thúc Ký, Nguyễn Văn Hướng đều là những nhân vật có tiếng tăm, nhưng khả năng lãnh đạo và tổ chức lại yếu kém. Những chính Đảng này đã không đề ra được một chương trình hành động cụ thề đáp ứng tình hình. Mặt khác, tổ chức lỏng lẻo, kết nạp đảng viên bừa bãi, vụ số đông, sinh hoạt rời rạc nên không gây được ảnh hưởng gì. Thực lực lúc đó là Quân Đội, được mệnh danh là Đảng Kaki. Dư luận xem ra cũng không chú ý đến các chính Đảng và cũng không đặt niềm tin hay kỳ vọng gì vào các Đảng chính trị. Phần lớn các lãnh tụ Đảng chỉ mong có chức, có quyền, có ghế chớ không chủ trương làm cách mạng. Ngay từ đâu, Việt Nam Nhân Xã Cách Mạng Đảng đã mắc vào tệ nạn phe phái, đầu óc địa phương. Nhân Xã là hậu thân của Cần Lao nhưng lại do nhóm Miền Trung lãnh đạo với bộ ba Trương Công Cừu, Ngô Khắc Tỉnh và Lê Trọng Quát, nên dư luận nội bộ mệnh danh là nhóm Phủ Cam. Nhóm này kỳ thị Đảng Viên Cần Lao khác như các ông Trần Chánh Thành, Cao Xuân Vỹ chẳng hạn và không mời họ tham gia. Bởi đó, sự phân hóa hay chia rẽ là chuyện đương nhiên phải xẩy ra.

Chánh Đảng Cộng Hòa Đại Chúng

Vì không được mời tham gia vào Việt Nam Nhân Xã Cách Mạng Đảng nên hai ông Trần Chánh Thành, nguyện Bộ Trưởng Thông Tin thời Đệ Nhất Cộng Hòa và ông Cao Xuân Vỹ, nguyên Tổng Giám Đốc Thanh Niên đã cùng một số đồng chí đứng ra thành lập Chánh Đảng Cộng Hòa Đại Chúng (CĐCHĐC), trụ sở đặt tại Lầu 2 Thương Xá Tax, Đại Lộ Lê Lợi Sài Gòn, gần trụ sở Hạ Nghị Viện. Dư luận cho rằng CĐCHĐC được một nhóm có phương tiện tài chánh yểm trợ như bà Dược sĩ Nguyễn Thị Hai, chủ Hãng Thuôc Tây Trang Hai, nhưng nói chung hoạt động của CĐCHĐC cũng không có gì đặc biệt. Ông Trần Chánh Thành ở trong Liên Danh Bạch Tượng do ông Trần Văn Lắm đứng thụ ủy đắc cử Nghị sĩ Thượng Viện, sau được TT Nguyễn Văn Thiệu mời ra làm Bộ Trưởng Ngoại Giao trong nội các Trần Thiện Khiêm. Riêng ông Cao Xuân Vỹ năm 1971 ra ứng cử Dân Biểu Hạ Nghị Viện đơn vị Bình Tuy nhưng thất bại. Bà Nguyễn Thị Hai đắc cử Dân biểu Pháp nhiệm 2 và được bầu làm Đệ Nhị Phó Chủ Tịch Hạ Nghị Viên trong liên danh Nguyễn Bá Cẩn.

Báo Nhân Xã và Đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo của Ô. Hoàng Xuân Việt

Ông Hoàng Xuân Việt là một học giả, một nhà văn chuyên về biên khảo với trên 60 tác phẩm thuộc loại sách Học Làm Người. Ông là Đảng viên Cần Lao giầu kiến thức và nhiệt huyết, làm việc trong Sở Nghiên Cứu với BS. Trần Kim Tuyến. Chủ trương lập Đảng của ông có lẽ sớm hơn so với các lãnh tụ Việt Nam Nhân Xã Cách Mạng Đảng và Chánh Đảng Cộng Hòa Đại Chúng. Khoảng tháng 8 năm 1965, nghĩa là chưa đầy 2 năm sau cuộc đảo chánh 1-11-63, ông Hoàng Xuân Việt đã cho ra tờ Tuần Báo Nhân Xã địa chỉ 33 đường Hai Bà Trưng, Sài Gòn làm cơ quan tuyên truyền đồng thời đứng ra lập Đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo. Người viết có lần đến thăm ông Hoàng Xuân Việt và ông Nguyễn Văn Triều (Chủ tịch Hội Đua Ngựa (?) ở địa chỉ 33 đường Hai bà Trưng, Sài Gòn  thì được ông Hoàng Xuân Việt cho biết đã chính thức thành lập Đảng. Người viết hỏi tên Đảng là gì? Ông Hoàng Xuân Việt trả lời bằng tiếng Pháp: “Democrate chrétien”tức là Đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo. Người viết hỏi lại cái tên đó (Đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo) liệu có thích hợp với tình hình Việt Nam hay không? Ông Hoàng Xuân Việt bảo rằng bên Đức cũng có Đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo thì có sao đâu?

Đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo của nhóm ông Hoàng Xuân Việt và Nguyễn Văn Triều không có tiếng tăm gì vì ít sinh hoạt, nhưng tờ tuần báo Nhân Xã là cơ quan ngôn luận của Đảng đã it nhiều nói lên tinh thần của Cần Lao Nhân Vị và chủ thuyết Nhân Vị. Cái tên Nhân Xã rõ ràng bao gồm cụm từ Nhân Bản Xã Hội.  Chính ông Hoàng Xuân Việt đã giải thích rõ cho người viết khi đến thăm ông ở địa chỉ 33 Hai Bà Trưng, Sài Gòn.

Mặt Trận Quốc Gia Dân Chủ Xã Hội của TT Nguyễn Văn Thiệu

Sau khi đắc cử Tổng Thống nhiệm kỳ 1 (1967-1971) của Đệ Nhị Cộng Hoà, ông Nguyễn Văn Thiệu bắt đầu củng cố quyền lực để chuẩn bị cho nhiệm kỳ sau. Phía Quân Đội coi như ông đã nắm vững và loại được phe phái của Nguyễn Cao Kỳ. Vì áp lực của Quân Đội và nhất là của Mỹ, ông Nguyễn Cao Kỳ đã phải chấp nhận làm Ứng cử viên Phó Tổng Thống cho ông Thiệu trong Liên danh với một số hứa hẹn nào đó của ông Nguyễn Văn Thiệu như chấp nhận Thủ Tướng phải là người của ông Kỳ đưa ra. Tạm thời, ông Thiệu đã nhượng bộ ít điều, cho LS. Nguyễn Văn Lộc là người của ông Kỳ đưa ra làm Thủ Tướng. Sau đó, ông Thiệu tìm cách loại dần anh hưởng của nhóm ông Kỳ. Thực tế, ông Thiệu cao cơ hơn, đã vin vào Hiến Pháp thẳng tay loại dần ảnh hưởng của ông Kỳ ra khỏi Chính Quyền.

Ngoài ra, nhằm thực hiện quy chế lưỡng đảng để lấy lòng Mỹ và tạo sự đoàn kết thống nhất, TT Nguyễn Văn Thiệu đã đứng ra thành lập Mặt Trận Quốc Gia Dân Chủ Xã Hội do ông lãnh đạo như là phe nắm chính quyền. Mặt khác, ông Thiệu lại kêu gọi các Đảng phái khác nếu không muốn hợp tác với Chính Phủ có thể đứng ra lập Liên Minh đối lập.

Kết quả phía chính quyền với Mặt Trận Quốc Gia Dân Chủ Xã Hội do TT Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ Tịch Chủ Tịch Đoàn quy tụ 6 Đảng sau đây:

Việt Nam Quốc Dân Đảng (Vũ Hồng Khanh)

Việt Nam Nhân Xã Cách Mạng Đảng (Trương Công Cừu)

Việt Nam Dân Xã Đảng (Phan Bá Cầm)

Đại Việt Cách Mạng (Hà Thúc Ký)

Lực Lượng Đại Đoàn Kết (Nguyễn Gia Hiến)

Liên Minh Dân Tộc Cách Mạng Xã Hội (Nguyễn Văn Hướng)

Phía đối lập cũng rục rịch vận động lập Liên minh. Người viết có đến trụ sở Chánh Đảng Cộng Hòa Đại Chúng thăm quý ông Trần Chánh Thành và Cao Xuân Vỹ, tình cờ gặp Giáo sư Vũ Quốc Thông đại diện cho Lực Lượng Dân Chủ Phật Giáo và một vài vị thuộc đảng phái khác nhưng không nhớ tên. Quý vị đã họp bàn về việc hình thành Liên minh Đối lập nhưng chưa đi đến kết quả nào.

Khi cho ra đời Mặt Trận Quốc Gia Dân Chủ Xã Hội, TT Nguyễn Văn Thiệu đã gây được sự chú ý của dư luận. Hoa Kỳ hoan nghênh nhiệt liệt. Còn Cộng Sản Bắc Việt thì liền tung ra chiến dịch đả kích thậm tệ trên các Đài phát thanh của chúng mấy tuần liền. Điều đó chứng tỏ CSBV rất sợ một thế Liên Minh chống Cộng chặt chẽ của Khối Người Việt Quốc Gia ở Miền Nam . Mặt Trận này sẽ là mũi xung khích đánh văng Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam một công cụ bù nhìn của Hà Nội. Vì dầu sao các Đảng phái chính trị ở Miền Nam vẫn là những tổ chức có quá trình đấu tranh quyêt liệt mà đồng bào Nam Bắc đều biết đến. Tiếc rằng, ông Nguyễn Văn Thiệu không biết khai thác chiêu bài lớn lao này. Vì TT Nguyễn Văn Thiệu lập Mặt Trận chỉ nhằm hậu thuẫn cho cá nhân ông mà không nghĩ đến sự đoàn kết quốc gia trong một mặt trận chống Cộng của toàn dân. Thực chất, các tổ chức chính trị này khi tham gia Mặt Trận lại chỉ mong kiếm ghế. Nhưng ông Thiệu chỉ mời một số nhân vât thân tín tham gia Nội Các như Dược sư Ngô Khắc Tỉnh là người bà con của ông làm Bộ Trưởng Thông Tin, và Luật Sư Lê Trọng Quát làm Thứ Trưởng Thông Tin. Ngoài ra những vị khác chỉ được mời đến họp để lấy ý kiến mà ông Thiệu không đề ra chương trình hành động chung cho Mặt Trận. Kết quả chỉ sau mấy tháng thì Mặt Trận tan rã, ai về nhà nấy. Ông Ngô Khắc Tỉnh lúc đó lại được ông Thiệu thuyên chuyển qua làm Tổng Trưởng Quốc Gia Giáo Dục nên LS Lê Trọng Quát mất chức Thứ Trưởng Thông Tin phải về vườn.

Như đã nói trên, Việt Nam Nhân Xã Cách Mạng Đảng, sau khi ông Ngô Khắc Tỉnh tham chính từ Tổng Trưởng Thông Tin qua Tổng Trưởng Giáo Dục thời ông không còn ngó ngàng gì đến Đảng nữa. Ông Trương Công Cừu chán nản không làm việc. Tờ Thời Báo do ông Ngô Trọng Hiếu đứng Chủ bút và ông Kièu Văn Lân làm Quản nhiệm cũng tự đình bản. LS Lê Trọng Quát liền đứng ra thành lập Lực Lượng Nhân Dân Kiến Quốc do ông làm Chủ Tịch. Đảng Nhân Xã sau đó đưa ông Trương Vĩnh Lễ ra làm Chủ Tịch một thời gian cũng không làm nên cơm cháo gì. Năm 1971, Ông Trương Vĩnh Lễ lập liên danh ứng cử vào Thượng Viện nhưng thất bại. Ông liền bỏ cuộc. Việt Nam Nhân Xã Cách Mạng Đảng lại biến thể thành Đảng Tự Do do LS Nguyễn Văn Huyền làm Chủ Tịch cho đến khi Miền Nam rơi vào tay Cộng sản ngày 30/04/1975 là chấm dứt.

(Mời Xem Tiếp Phần 2)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s