Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng Đảng qua lời trối trăn của ông Cố vấn Ngô Đình Nhu (P2)


Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng Đảng qua lời trối trăn của ông Cố vấn Ngô Đình Nhu (P2) 

Phạm Quang Trình

Inline image 1

Đảng Công Nông với nhân vật Trần Quốc Bửu

Ông Trần Quốc Bửu là một trong những người sát cánh với ông Ngô Đình Nhu trong việc thành lập Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng Đảng. Thật ra, mới đầu ông Ngô Đình Nhu và các Sáng lập viên lấy tên Đảng là Đảng Công Nông, sau vì tránh ngộ nhận với Đảng Lao Động của Việt Cộng nên quý ông đã đổi thành Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng Đảng.

Riêng ông Trần Quốc Bửu chỉ sinh hoạt tích cực trong giai đoạn đầu khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm về chấp chính. Sau khi tình hình Miền Nam ổn định, ông Ngô Đình Nhu đã đích tổ chức Tổng Liên Đoàn Lao Công Việt Nam (TLĐLCVN) và trao cho ông Trần Quốc Bửu vai trò lãnh đạo công nhân toàn quốc. TLĐLCVN là một tổ chức nghiệp đoàn có bề thế và uy tín lớn lao nhờ có Tổng Liên Đoàn Công Kỹ Nghệ Hoa Kỳ yểm trợ. Cá nhân ông Trần Quốc Bửu còn được bầu vào chức vụ Phó Chủ Tịch Tổng Liên Đoàn Lao Công Thế Giới có trụ sở tại Genève, Thụy Sĩ. Sau ngày 1-11-19 63 , nhóm tướng lãnh đảo chính cho người bắt bỏ tù ông Trần Quốc Bửu, nhưng Mỹ đã can thiệp buộc phải thả ông ra ngay. Từ đó, ông Trần Quốc Bửu tiếp tục lãnh đạo TLĐLCVN như trước. Vì thấy các đoàn thể chính trị sinh hoạt chẳng ra gì nên ông đứng ra tổ chức Đảng Công Nông (tên cũ của CLNVCMĐ) cũng do ông làm Chủ Tịch và Dân Biểu Nguyễn Bá Cẩn làm Tổng Thư Ký. Như vậy, có thể nói Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng Đảng hệ phái Trần Quốc Bửu đã công khai xuất hiện theo chiều hướng mới nhằm đáp ứng tình hình đấu tranh chính trị tại Miền Nam trong viễn tượng các bên tham chiến sẽ ký kết với nhau một Hiệp Định đang họp bàn tại Paris, Pháp Quốc. Vì có sẵn nhân sự, cán bộ và cơ sở trong TLĐLCVN nên việc thành lập Đảng Cộng Nông không là điều khó khăn đối với ông Trần Quốc Bửu. Ông chỉ cần sắp xếp nhân sự, bầu Ban Chấp Hành các cấp, và trương bảng hiệu là xong.

Nhận định về hậu thân của Cần Lao Nhân vị Cách Mạng Đảng

Trong phần I về Lời trối trăng của ông Cố vấn Ngô Đình Nhu (7-07- 2011), người viết đã ghi lại một số sự kiện liên quan đến Đảng Cần Lao và có nhận định: “Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng Đảng đã đóng góp nhiều công sức cho việc thành lập nền Cộng Hòa Việt Nam cũng như công cuộc diệt trừ Cộng sản, từ lý thuyết đến hành động. Tất nhiên CLNVCMĐ cũng có khuyết điểm như bất cứ tổ chức chính trị nào khác. Điều đáng tiếc là ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu, Tổng Bí Thư Đảng vì quá đa đoan trong quốc sự có lẽ đã không còn thì giờ quan tâm nhiều đến Đảng. Cho nên, thực tế cho thấy tổ chức và sinh hoạt của Đảng chỉ khá mấy năm đầu, còn về sau thì quá rời rạc, nhất là sau khi ông Ngô Đình Nhu ra lệnh giải tán Liên Kỳ Bộ Nam-Băc thì kể như không còn hoạt động. Việc kết nạp Đảng viên thiếu thận trọng. Những nhân vật được coi là trụ cột của Đảng cũng thiếu Đảng tính, thiếu phẩm chất. Một số phần tử vào Đảng chỉ để kiếm chức vụ mà không lo làm cách mạng, cho nên khi tình thế thay đổi, trước những miếng mồi ngon do ngoại bang đem ra nhử đã vội vàng quay lưng phản Đảng, phản Lãnh tụ. Kết quả, như đã thấy, sau 1-11-1963, những kẻ phản bội đó đã không làm nên trò trống gì mà những Đảng viên trung thành thì không đủ tầm vóc và Đảng tính để tiếp tục con đường của Lãnh tụ đề ra”. Đúng như vậy, những tổ chức hậu thân của Đảng Cần Lao như Việt Nam Nhân Xã Cách Mạng Đảng, Chánh Đảng Cộng Hòa Đại Chúng, Lực Lượng Nhân Dân Kiến Quốc, Đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo, Đảng Cộng Nông với các nhân vật như Trương Công Cừu, Ngô Khắc Tỉnh, Lê Trọng Quát, Trần Chánh Thành, Cao Xuân Vỹ, Hoàng Xuân Việt, Trần Quốc Bửu, Trương Vĩnh Lễ, vân vân… không đủ tầm vóc, thiếu khả năng tổ chức, không có uy tín như một lãnh tụ cách mạng với sức hấp dẫn quần chúng nên không làm nên được việc gì đáng kể, ngoài việc coi đó như là nấc thang để kiếm quyền, kiếm chức. Tất cả đã thất bại về mặt tổ chức Đảng. Sau khi Ông Ngô Đình Nhu bị thảm sát, Đảng Cần Lao như rắn mất đầu. Thân rắn còn lại dù có cố gắng hay ngo ngoe cũng chẳng làm nên cơm cháo gì. Riêng ông Trần Quốc Bửu thành công ít nhiều về mặt Nghiệp Đoàn, nhưng về mặt Đảng vụ cũng yếu kém. Ngay việc Tổng Liên Đoàn Lao Công do ông làm Chủ Tịch dã để cho tình báo Việt Cộng xâm nhập vào tận cấp Trung Ương do Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung khám phá ra đã cho thấy hệ thống an ninh nội bộ của TLĐLCVN quá lỏng léo và yếu kém chứng tỏ ông Trần Quốc Bửu đã quá chủ quan, khinh địch!

Người viết có dịp tiếp xúc với một số nhân vật được gọi là cốt cán của CLNVCMĐ, nhưng không thu thập được tài liệu đặc biệt nào của Đảng. Tài liệu quan trong như các văn kiện của Đảng cũng không có. Ngoài một vài lớp huấn luyện Cán bộ Đảng viên lúc ban đầu ở Hà Nội và Đà Lạt, chưa thấy có văn kiện hay sinh hoạt nào khác như Đại Hội Đảng và Quyết Nghị của Đảng… Tất cả hoàn toàn bí mật hay “không có sinh hoạt Đảng vụ”? Câu trả lời “không sinh hoạt”có lý hơn. Còn những bài viết hay tài liệu được tung ra sau ngày 1.11.1963 nhằm chống đối Đệ Nhất Cộng Hòa và CLNVCMĐ hoàn toàn là bịa đặt, nguỵ tạo như cuốn Đảng Cần Lao của Chu Bằng Lĩnh (một tên ghiền thuốc phiện như lời Cụ Hà Thượng Nhân khi còn sinh thời cho biết). Các tài liệu đánh phá đều do bọn ký giả bất lương viết theo đơn đặt hàng hay chỉ thị của kẻ thù và tập đoàn tay sai phá hoại. Mục đích của chúng tung ra chiêu bài “Cần Lao Ác Ôn”chính là để trả thù và che giấu âm mưu làm tay sai cho ngoại bang. Qua các diễn biến của tình hình Miền Nam từ 1963 đến nhiều năm sau này, cá nhân người viết có cảm tưởng Đảng Cần Lao chỉ là con ngáo ộp mà nhiều người dùng để hù dọa và cũng để gây bất mãn vì nhiều Cựu Đảng Viên Cần Lao vẫn được Đệ Nhị Cộng Hòa trọng dụng. Thật ra, sau cuộc đảo chánh 1-11-19 63 , Miền Nam rơi vào khủng hoảng lãnh đạo trầm trọng. Đúng như nhận xét của Thống chế Tưởng Giới Thạch nhận xét: “Mỹ đã làm một việc hết sức sai lầm là đã hạ sát TT Ngô Đình Diệm. Việt Nam phải hằng 100 năm sau mới có một nhân vật như vậy”.(Bài viết của TS. Pham Văn Lưu: Quan điểm của ông Ngô Đình Nhu về hiểm họa xâm lăng của Trung Cộng). Điều đó cho thấy, Mỹ đã dở, mà bọn tướng tá tay sai lại còn tệ hại hơn.

Đảng Dân Chủ của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu

Trong các chính khách lúc bấy giờ ở Miền Nam, có lẽ ông Thiệu chẳng gờm ai ngoài ông Trần Quốc Bửu, người có uy tín, có khả năng tổ chức và lãnh đạo, lại được sự hậu thuẫn mạnh mẽ của Hoa Kỳ. Nhưng ông Trần Quốc Bửu là người khôn ngoan, biết tính toán. Ông không vội gì ra tay cạnh tranh với ông Thiệu. Ngược lại ông Thiệu, sau khi lập MTQGDCXH chẳng đi tới đâu, lại quyết định lập Đảng Dân Chủ nhằm tạo hậu thuẫn cho cá nhân ông. Ban Lãnh đạo Đảng Dân Chủ của ông Nguyễn Văn Thiệu gồm có:

–         Nguyễn Văn Thiệu , Tổng Thống VNCH, Chủ Tịch Đảng

–         Trần Thiện Khiêm, Thủ Tướng Chính Phủ

–         Trần Trung Dung, Nghị Sĩ  ở Thượng Nghị Viện

–         Trần Minh Tùng, Tổng Trưởng Y Tế, Tổng Thư Ký

–         Nguyễn Bá Cẩn, Chủ Tịch Hạ Nghị Viên

–         Trần Văn Lắm, Chủ Tịch Thượng Nghị Viện

–         Đinh Xuân Minh, Đệ Nhất Phó Chủ Tịch Hạ Nghị Viện

–         Nguyễn Văn Ngân, Phụ Tá Đặc Biệt Liên lạc Các Đoàn Thể

Khi lập Đảng Dân Chủ, ông Thiệu giao hết việc vận động và tổ chức cho Phụ Tá Nguyễn Văn Ngân. Nguyễn Văn Ngân nguyên là tay chân thuộc hạ của Phụ Tá Đặc Biệt Nguyễn Cao Thăng. Khi ông Nguyễn Cao Thăng bị bịnh ung thư phải ra ngoại quốc chữa bịnh thì Nguyễn Văn Ngân được ông Thiệu cho làm nhiệm vụ liên lạc Quốc Hội như ông Thăng đã làm. Sau khi ông Nguyễn Cao Thăng qua đời thì ông Thiệu cử Nguyễn Văn Ngân làm Phụ Tá Đặc Biệt thay ông Nguyễn Cao Thăng. Nhờ vào vị thế này và vì nắm “hầu bao”chi tiền cho các Dân Biểu, Nghị Sĩ thân chính quyền, ông Nguyễn Văn Ngân đã tìm cách lùa các viên chức cán bộ xã ấp, công chức và các sĩ quan đảm nhiệm các chức vụ hành chánh như Tỉnh trưởng, Quận Trưởng vào Đảng Dân Chủ. Phe nhóm ông Ngân tổ chức chia ra hệ thống Đỏ và hế thống Xanh. Đỏ là Quân nhân như Tỉnh Trường, Quận Trường. Xanh là dân sự Viên chức Xã ấp. Có thể nói đây là một Đảng chính trị ô hợp nhất từ xưa đến nay. Ngay bộ phận lãnh đạo nói trên đã cho thấy một sự gượng ép, đồng sàng dị mộng, mà không có sự đồng tâm nhất trí. Dân Biểu Nguyễn Bá Cẩn lúc đó đang là Chủ Tịch Hạ Nghị Viện, và là Tổng Thư Ký Đảng Công Nông của ông Trần Quốc Bửu, đã được ông Thiệu kéo sang Đảng Dân Chủ cùng với một số Dân Biểu thân chính khác, thế là Đảng Công Nông của ông Trần Quốc Bửu bị “hỏng giò”. Nhưng sự việc đó cũng chẳng ăn thua gì lắm đối với khả năng và uy tín của ông Trần Quốc Bửu, khi một số đồng chí vì quyền lợi mà bỏ Đảng Công Nông ra đi theo Đảng Dân Chủ của ông Thiệu.

Cựu Đảng Viên Cần Lao lại được trọng dụng

Sau khi đảo chánh thành công và nắm được chính quyền, nhưng các chính phủ từ Nguyễn Ngọc Thơ, Nguyễn Khánh, Trần Văn Hương, Phan Huy Quát, không sao ổn định được tình hình vì thiểu khả năng và uy tín nếu không muốn nói là bất lực. Nội các nào cũng chỉ kéo dài được vài ba tháng là đổ. Phải đợi cho tới Quân Đội trở lại cầm quyền và khi Mỹ không còn ủng hộ phe nhóm Thích Trí Quang nữa thì tình hình mới tạm yên.

Trước đây, nhiều thanh phần chống đối TT Ngô Đình Diệm vì cho rằng chính phủ Ngô Đình Diệm chủ trương đàn áp đảng phái đối lập. Nhưng sau khi chính phủ Ngô Đình Diệm bị lật đổ, thì họ mới nhận ra rằng nạn phe đảng từ các giáo phái và các đảng chính trị chỉ làm cho tình hình thêm tệ hại. Những nhân vật có tiếng thuộc các đảng Đại Việt hay Việt Nam Quốc Dân Đảng có cơ hội tham chính nhưng đã tỏ ra hoàn toàn bất lực. Lãnh tụ đã dở mà đảng viên lại thiếu phẩm chất. Đến khi có cơ hội tham chính thì chẳng biết xoay sở ra sao. Nói thì hay mà hành động lại kém cỏi. Cứ nhìn lại các nhân vật như Phan Huy Quát, Trần Văn Tuyên, Nguyễn Tôn Hoàn, Hà Thúc Ký, Nguyễn Ngọc Huy, Nguyễn Tiến Hỷ, vân vân là những lãnh tụ Đảng thì đủ rõ. Lãnh tụ làm việc đã dở, thử hỏi các đảng viên của họ sẽ ra sao? Bởi đó, khi chính phủ Nguyễn Cao Kỳ ra đời, thì đã phải mời một số cựu đảng viên Cần Lao của chế độ Ngô Đình Diệm ra làm việc. Phải nói là các Đảng viên Cần Lao và Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia là những người có khả năng và kinh nghiệm. Nhiều người trong số đó đã ra ứng cử các chức vụ đại diện như Dân Biểu, Nghị Sĩ, Nghị Viên và đã được dân chúng tín nhiệm bầu.

Cả hai ông Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ đều dùng người của Cần Lao. Có điều mỗi ông có lối dùng khác nhau. Ông Kỳ tính bộc trực, không thâm hiểm như ông Thiệu. Trong khi ông Nguyễn Cao Kỳ cho Việt Nam Nhân Xã Cách Mạng Đảng ra đời và dùng nhiều cựu Đảng viên Cần Lao thì ông Nguyễn Văn Thiệu lại rất dè dặt và tình kỹ. Vì ông Thiệu chỉ lo bảo vệ chiếc ghế Tổng Thống nên ông chỉ dùng giới hạn và ăn chắc như trường hợp DS. Nguyễn Cao Thăng, Cựu Dân Biểu Quốc Hội thời Đệ Nhất Cộng Hòa, được ông Thiệu mời làm Phụ Tá Đặc Biệt để “nắm”Quốc Hội. Ngoài ra, nhân vật nào có tiếng và có khả năng là ông Thiệu cho an ninh bám sát, theo dõi ngày đêm. Cụ thể nhất là trường hợp BS Trần Kim Tuyến, nguyên Giám Độc Sở Nghiên Cứu Chính Trị Xã Hội Phủ Tổng Thống thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Nhà bác sĩ Tuyến ở đường Công Lý luôn luôn bị an ninh lảng vảng bên ngoài theo dõi. Ông Tuyến đi đâu là an ninh cặp kè theo sau. Về đến nhà, an ninh lại ngôi canh chừng ngoài cổng!

Câu hỏi cần đặt ra là tại sao Nguyễn Văn Thiệu lại cho người bám sát, theo dõi BS. Trần Kim Tuyến? Thưa vì BS Tuyển là Giám Đốc Sở Nghiên Cứu Chính Trị trông coi về tình báo (nôm na gọi là mật vụ), quen biết và liên hệ với nhiều nhân vật trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực. Có thế nói Sở Nghiên Cứu là hệ thống thần kinh của chế độ. Sở Nghiên Cứu không phải là sáng kiến của TT Ngô Đình Diệm mà là của Mỹ. Chính Mỹ đề nghị TT Ngô Đình Diệm lập cơ quan mât vụ tức Sở Nghiên Cứu Chính Trị Xã Hội tương tự như CIA của Mỹ và chính CIA huấn luyện Bác Sĩ Trần Kim Tuyến trở thanh trùm mật vụ và từng tài trợ ít nhiều cho Sở này. Chuyện tình báo hay mật vụ là chuyện bình thường của bất cứ Quốc Gia nào, dân chủ hay độc tài, kế cả Mỹ. Ở Hoa Kỳ, ngoài Cơ quan Điều tra Liên Bang tức FBI, còn có CIA tức Trung Ương Tình Báo và Sợ Mật Vụ. Bởi vì muốn giữ gìn an ninh và đề phòng sự xâm nhập của đối phương hay kẻ thù thì phải có cơ quan Tình báo hay Mật Vụ, dù danh xưng có khác nhau, nhưng thực chất và nội dung cũng tương tự như nhau. Cái đáng buồn là khi Mỹ muốn lật đổ chế độ Cộng Hòa Việt Nam với Tổng Thống Ngô Đình Diệm thì họ tung ra nhiều đòn phép rất là độc hại không phải chỉ vào thời điểm đó mà di hại cho đến ngày nay. Xin nhắc lại ba đòn phép chính:

– Trước hết là gây ly gián giữa những nhân vật cao cấp và thân tín của TT Ngô Đình Diệm với Tổng Thống bằng những xúi giục, hứa hẹn chức quyền. Họ hứa với PTT Nguyễn Ngọc Thơ và Bộ Trưởng Nguyển Đình Thuần là TT Diệm ra đi thì Nguyễn Ngọc Thơ sẽ lên làm Tổng Thống, và Nguyễn Đình Thuần sẽ lên làm Thủ Tướng sau khi sửa Hiến Pháp. Họ còn liên hệ bí mật với nhiều nhân vật khác như GS. Vũ Văn Mẫu, Bộ Trưởng Ngoại Giao, ông Võ Văn Hải, Chánh Văn Phòng để xúi giục và hứa hẹn. Kết quả cho thấy nhiều nhân vật đã biết rõ âm mưu của Mỹ, được Mỹ hứa hẹn để bất động, không tiết lộ hay báo cáo cho với TT Ngô Đình Diệm. Họ hứa hẹn và tách rời Ông bà Đại sứ Trần Văn Chương (là bố mẹ vợ của Cố Vấn Nhu) với chính phủ Ngô Đình Diệm.

– Họ gặp riêng một số nhân vật và phe nhóm có khả năng, xúi giục lập nhóm đảo chánh mà thực chất là để “cầm chân”và ly gián với TT Ngô Đình Diệm. BS Trần Kim Tuyến, ông Huỳnh Văn Lang và Đại tá Phạm Ngọc Thảo là những nhân vật chủ trương làm đảo chánh, loại trừ ông Ngô Đình Nhu mà giữ lại TT Ngô Đình Diệm yên vị, và những nhân vật này sẽ giữ vai trò chủ chốt của chế độ như Thủ Tướng, Bộ Trưởng, vân vân… Nhưng CIA liên hệ với BS Trần Kim Tuyến rồi lại tiết lộ cái “âm mưu”của BS Tuyến cho ông Ngô Đình Nhu biết. Thế là TT Ngô Đình Diệm liền cất chức Giám Đốc Sở nghiên Cứu của BS Tuyến và cử ông làm Tổng Lãnh Sự tại Le Caire, thủ đô Ai-Cập. Chuyện xẩy ra là CIA không tin cậy vào những nhân vật này, họ chỉ muốn cầm chân và dùng nhóm Quân Đội dễ sai bảo hơn. Chính vì thế, Trần Thiện Khiêm là người thân với ông Huỳnh Văn Lang và Đại Tá Phạm Ngọc Thảo nhưng đã liên lạc chặt chẽ với CIA và nhất là Lou Coenin để thực hiện cuộc đảo chánh 1-11-19 63. Đẩy được BS Trần Kim Tuyến ra khỏi Sàigòn là kể như họ đã nắm chắc phần thắng lợi 50 phần 100, vì hệ thống mật vụ đã bị bỏ ngỏ, không hoạt động gì được dưới quyền tân Giám Đốc Pham Thư Đường.

– Họ xúi giục và hỗ trợ nhóm Phật Giáo cực đoan ở Miền Trung và Thích Trí Quang để gây rối loạn cùng với cuộc “thiêu sống”của TT Thích Quảng Đức. Có thể nói dây là đòn phép, một thủ đoạn độc hại nhất, chẳng những góp phần làm xấu bộ mặt của chế độ Cộng Hòa Việt Nam mà còn gây ra hậu quả chia rẽ nghi kỵ nhau giữa các Tôn giáo từ 1963 cho đến ngày nay.

Dù Đệ Nhất Cộng Hòa đã bị lật đổ, nhưng người của chế độ vẫn còn. Khi làm Tổng Thống, ông Nguyễn Văn Thiệu có dùng một số nhân vật cũ, nhưng ông chỉ nhắm những ai có lợi cho cá nhân ông thì mới dùng. Vì ông Thiệu không có tư cách, tài năng, đức độ và yêu nước như TT Ngô Đình Diệm nên ông không dám dùng người tài mà chỉ dùng tay sai và gia nô để sai bảo. Ông lại càng sợ Mỹ sẽ đối xử với ông như TT Ngô Đình Diệm nên ông chỉ cần được lòng Mỹ, và nghi kỵ bất cứ người nào có tài, trong đó có BS. Trần Kim Tuyến.

Ngưởi thứ hai là ông Dương Văn Hiếu, Trưởng Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung. Gọi là Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung nhưng hoạt động tỏa rộng khắp Miền Nam để truy tầm các ổ gián điệp Cộng sản. Dưới sự chi huy của ông Dương Văn Hiếu, Đoàn Công Tác Đặc Biệt đã phá vỡ bao mạng lưới tình báo của Cộng Sản Bắc Việt cài vô trong Nam, truy lùng và bắt giữ được nhiều tên trùm gián điệp cỡ gộc như Trần Quốc Hương, Đại Tá Lê Câu, vân vân. Tiếc rằng sau đảo chánh, Mai Hữu Xuân, Đỗ Mậu và Hà Thúc Ký đã lần lượt thả chúng ra như thả cọp về rừng nên chúng có cơ hội gây dựng lại các cơ sở đã bi Đoàn Công Tác Đặc Biệt phá vỡ. Thật là mối nguy không sao lường được! Sau một thời gian bị cầm tù được thả ra, ông Dương Văn Hiếu lại được chính quyền của TT Nguyễn Văn Thiệu mời làm việc trở lại tại Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia. Ông Dương Văn Hiếu than phiền chưa khi nào làm việc mà chán ngán như thời gian này. Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu mời làm việc nhưng chẳng giao việc gì cả. Họ chỉ có ý cầm chân ông Hiếu thôi! Thật đáng buồn cho nền Đệ Nhị Cộng Hòa. Thật đáng buồn cho thân phận quê hương bị trao vào tay những kẻ vô tài bất xứng nên đã rơi vào tay Cộng Sản.

Tưởng Niệm Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm

Sau khi chính quyền của TT Ngô Đình Diệm bị lật đổ thì coi như Mỹ toàn quyền quyết định số phận của Việt Nam Cộng Hòa trước sự bất lực và yếu kém của bọn tướng lãnh phản phúc và các chính phủ sau ngày 1-11-19 63. Mỹ tưởng rằng hạ bệ được Tổng Thống Ngô Đình Diệm rồi thì với phương tiện viện trợ dồi dào của Mỹ, tình hình miền Nam sẽ sáng sủa hơn. Nào ngờ Miền Nam lâm vào cuộc khủng hoảng lãnh đạo, không sao giải quyết được vì không có một nhân vật nào đủ tầm vóc như TT Ngô Đình Diệm để có thể ổn định tình hình. Bây giờ, người ta mới thấy rằng cuộc đảo chánh 1-11-19 63 là một trò chính trị tệ hại nhất mà Hoa Kỳ đã thực hiện và mắc kẹt vào vũng lầy ở Việt Nam . Cũng từ ngày đó, người ta mới thấy tài năng, đức độ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm trổi vượt và không có ai để thay thế được. Người ta lấy làm tiếc ông Diệm cùng những công trình mà Đệ Nhất Cộng Hòa dưới sự lãnh đạo của ông đã thực hiện cho Miền Nam trong 9 năm cầm quyền. Nhớ để thương tiếc một nhân vật lãnh đạo vì độc lập và chủ quyền quốc gia đã phải hy sinh một cách tức tưởi dưới bàn tay thô bạo của bọn người phản phúc và đồng minh. Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu không còn nữa. Ngày 1-11 đã trở thành ngày tang tóc, mở đầu cho những thất bại triền miên đưa miền vào ách thống trị của Cộng sản.

Ngay sau khi TT Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu bị thảm sát, thời đã có nhiều nơi ầm thầm làm lễ cầu nguyện cho anh linh Tổng Thống và bào huynh. Rồi từ đó, hằng năm, cứ đến ngày 2-11-19 63 , rất nhiều nơi đã làm Lễ tưởng niệm và cầu nguyện cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Mới đầu thì ít ỏi vị sợ mang tiếng Cần Lao sẽ bị trả thù. Nhưng dân dần, khi bọn người phản phúc bị đá văng ra khỏi chính trường thì việc Cần Lao tái hoạt động và việc tổ chức Lễ Tưởng Niệm TT Ngô Đình Diệm đã ở mức quy mô, hầu như toàn quốc. Bây giờ người ta mới thấy âm mưu lật đổ chính quyền của TT Ngô Đình Diệm là do CIA chủ động. Ngày 1-11-19 63 , Lou Coenin đã ngồi ngay trong phòng làm việc của Đại Tướng Lê Văn Tỵ (lúc đo đang đi chữa bệnh tại Hoa Kỳ), gác hai chân lên bàn để chỉ đạo cuộc đảo chánh. Nhóm tướng lãnh thực hiện đảo chánh (Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, Trần Thiện Khiêm, Mai Hữu Xuân, vân vân) chỉ là bọn tay sai đâm thuê chém mướn bằng một cái giá rẻ mạt 42 ngàn Dollars do Lou Coenin trực tiếp trao cho Trần Văn Đôn để chia nhau sau đảo chánh. Đó là giá máu được trao cho những tên Giu-đa tân thời!

Sự thật càng được phơi bầy thì bọn đâm thuê chém mướn lại càng cảm thấy nhục nhã!  Không một tên nào dám nhận ra lệnh giết hại Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố vấn Ngô Đình Nhu. Chính vì thế uy tín của TT Ngô Đình Diệm và nền Đệ Nhất Cộng Hòa lại càng tăng, được tôn vinh và đề cao.

Trong hai năm sau Đảo chính, tình hình chính trị miền Nam thêm rối ren chưa từng thấy. Cuộc Chỉnh lý của Nguyễn Khánh càng không giải quyết được gì hơn, ngoài việc loại trừ nhau giữa bọn phản phúc. Tình hình cứ xáo trộn mãi cho đến khi nhóm tướng trẻ (Thiệu, Kỳ, Có) loại được Nguyễn Khánh cũng như nhóm dân sự ra đi để Quân Đội trở lại nắm chính quyền. Lúc đó (vào khoảng tháng 6-1965) bộ ba Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ và Nguyễn Hữu Có nắm toàn quyền với sự hậu thuẫn mạnh mẽ của Mỹ. Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia (đóng vai Quốc Trưởng). Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ Tịch Ủy ban Hành Pháp Trung Ương (tức Thủ Tướng) và Trung Tướng Nguyễn Hữu Có làm Phó Chủ Tịch UBHPTƯ (Phó Thủ Tướng) kiệm Bộ Trưởng Quốc Phòng và Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực VNCH. Tuy là Phó Thủ Tướng kiêm Bộ Trưởng Quốc Phòng, kiêm Tổng Tham Mưu Trưởng, nhưng Văn phòng làm việc của Tướng Có lại đặt ở Bộ Tổng Tham Mưu. Vì sợ tình hình còn biến loạn nên Nguyễn Hữu Có đã chỉ thị cho đàn em phải dời hai phần mộ của TT Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu ra Nghĩa Trang Mạc Đĩnh Chi, đặt gần ngay mộ của Cố Đại Tướng Lê Văn Tỵ (qua đời năm 1964).

Thật vậy, suốt hai năm (1963-1965), vì tình hình miền Nam xáo trộn liên miên nên nhiều ông Tướng tin rằng vì TT Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu bị thảm sát và thi thể hai ông lại đem chôn ở trong khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu nên bị hai ông phá. Từ ngày Nội Các Chiến Tranh và Tướng Có cho lệnh dời thi hài hai vị ra Nghĩa Trang Mạc Đĩnh Chi thì tình hình Miền Nam bắt đầu tạm ổn định.

Lễ giỗ cho TT Diệm lần đầu tiên được tổ chức công khai ngay tại Sài Gòn năm 1966 là do Cố Đại tá Nguyễn Hữu Duệ, cựu Tham Mưu Trưởng Lữ Đoàn Liên Binh Phòng Vệ Tổng Thống Phủ  và Cựu Trung Tá Nguyễn Văn Minh, nguyên Chánh Văn Phòng Cố Vấn Chỉ Đạo Miền Trung của ông Ngô Đình Cần, lúc đó cũng làm việc với ông tại Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị. Khi được biết Bộ Tổng Tham Mưu đã cho đưa thi hài Tổng Thống Diệm và Cố vấn Nhu ra Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, vì họ tin rằng để  TT Diệm và CV Nhu trong khuôn viên Bộ TTM nên bị phá, các Tướng cứ lật nhau hoài. Cuối năm ấy hai ông đã thông báo địa điểm phần mộ Tổng Thống Diệm và Cố vấn Nhu ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi cho một số hội đoàn của ít nhất 7, 8 xứ đạo lân cận Sài gòn, đồng thời xin lễ cầu hồn cho hai Vị tại nhà thờ Xóm Chiếu. Ngày 2/11 năm 1966 đã có một đoàn hàng chục xe Lam chở bà con đem bông, nhang, nến, đến thắp, đặt bông, đọc kinh cầu nguyện cho hai Vị tại Nghĩa Trang Mạc Đĩnh Chi. Trong khi đó, tại nhà thờ Xóm chiếu do Linh mục Phạm Hoàng Thanh nhận thực hiện. Cha Thanh đã đặt một bàn mồ lớn giữa nhà thờ với đèn nến, bông hoa rất trang trọng. Trên 2 lối vào nhà thờ, cha căng 2 biểu ngữ lớn, nền tím chữ vàng “Lễ Cầu Hồn cho cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm”. Có 2, 3 thông tín viện ngoại quốc đến chụp hình, quay phim.

Những năm kế tiếp, việc tổ chức Lễ Giỗ TT Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu được tổ chức liên tục hằng năm tại Nhà Thờ Dòng Chúa Cứu Thế số 38 đường Kỳ Đồng, sau đó là Nhà Thờ Đức Bà tức Vương Cung Thánh Đường tại Công Trường Hòa Bình, Sài Gòn ngay trước Bộ Nội Vụ và Tổng Nha Bưu Điện.

Năm 1971, Lễ Tưởng Niệm và Cầu Nguyện cho Cố TT Ngô Đình Diệm tại Vương Cung Thánh Đường tức Nhà Thờ Đức Bà Sài Gòn có thể được coi như là ngày long trọng và lớn lao nhất. Hàng ngàn đại diện Dân, Quân, Cán, Chính và đồng bào đã tề tựu đông đủ vào sáng ngày 2-11-1971 . Ban tổ chức đã phân công cho chúng tôi, Cựu Trung Tá Trần Thanh Chiêu và người viết phụ trách vận động đồng bào vùng Thủ Đức, Hố Nai, Biên Hòa. Phái đoàn Thủ Đức, Hố Nai, Biên Hòa được hướng dẫn đến Công Trường Hòa Bình, nhưng thay vì đến thẳng mặt tiền Nhà Thờ Đức Bà, đã đáp xuống đầu đường Duy Tân rồi sắp hàng thật dài diễn hành chung quanh nhà thờ mà đi đầu là ban kèn Tây Cecilia thuộc Giáo xứ Chân Phúc Khang Thủ Đức với bức chân dung Tổng Thống Ngô Đình Diệm được rước đi trước. Khi đoàn diễn hành tiến bước thì ban kèn đồng đã liên tục cử hành bài Suy Tôn Ngô Tổng Thống vang lên khắp đường phố. Dân chúng đứng chung quanh đã túa ra xem và sáp nhập vô đoàn diễn hành, hô to khẩu hiệu “Ngô Tổng Thống Muôn Nam !”. Các phóng viên ngoại quốc chạy đôn đáo chụp hình, quay phim làm bản tin gửi đi khắp nơi khiến dư luận phấn khởi và súc động.

Sau Thánh Lễ cầu nguyện, thay vì dùng xe di chuyển như các năm trước, Ban Tổ Chức đã quyết định tất cả sẽ cùng diễn hành (đi bộ) từ đại lộ Thống Nhất đến Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi để viếng mộ TT Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Thời gian di chuyển tuy có kéo dài thêm vì số người tham dự quá đông diễn hành trên quãng đưởng khá dài từ Nhà Thờ Đức Bà đến nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, nhưng tất cả đều diễn ra rất trật tự và tốt đẹp.

Anh em nhớ đến tôi thì làm…

Sau khi Chính Quyền của TT Ngô Đình Diệm bị lật đổ và sau khi chứng kiến những thất bại và bất lực của các Chính Phủ sau ngày 1-11-19 63, người ta mới thấy việc làm của Mỹ và bọn đâm thuê chém mướn là sai lầm không sao sửa chữa được. Thật đúng như lời nhận định của Cụ Phạm Xuân Ninh tức nhà thơ Hà Thượng Nhân, nguyên Trung Tá Giám Đốc Đài Phát Thanh Quân Đội VNCH:

“Tôi nghĩ sự thật vẫn là sự thật. Các ông tướng lấy tiền của Mỹ có thể giết được thể xác anh em họ Ngô, nhưng họ không thể giết được thanh danh, tinh thần và uy tín của họ Ngô. Khi các ông tướng xuống tay thì chính cũng là lúc họ tự sát. Họ chết khi còn đang sống.

Muốn nói gì thì nói, miền Nam từ 1948 đén 1975, chỉ duy nhất có chế độ Ngô Đình Diệm là xứng đáng. Chỉ dưới chế độ ông, quốc gia mới có kỷ cương, có thể thống.

Không thể đem so sánh chế độ ấy với bất cứ chế độ nào từ Nguyễn Văn Xuân đến Nguyễn Văn Thiệu. Giết anh em họ Ngô, các ông tướng đã vô tình giết cái chính nghĩa quốc gia mà họ vẫn hô hào phục vụ,

Dù sao người chết đã chết rồi. Chỉ còn một điều đáng ân hận anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm còn một chính sách, một kế hoạch cần phải thực hiện.

Tổng Thống Ngô Đình Diệm cùng các ông Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn mới lo củng cố được chính quyền. Họ chưa có thì giờ thực hiện được những điều mà tác giả Nguyễn Văn Minh đề cập đến trong cuốn sách này.”

(Trích Lời Đề Tựa cuốn sách “Dòng Họ Ngô Đình, Giấc Mơ Chưa Đạt”của cựu Trung Tá Nguyễn Văn Minh, nguyên Chánh Văn Phòng Cố Vấn Chỉ Đạo Miền Trung, nguyên Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Hạ Sĩ Quan Chiến Tranh Chính Trị QLVNCH).

Tưởng niệm TT Ngô Đình Diệm và ông Cố vấn Ngô Đình Nhu thật sự không phải chỉ để tiếc nuối chế độ Cộng Hòa đã đem lại an bình, hạnh phúc cho người dân trong suốt chin năm trời mà phải đi vào hành động cụ thể. Chín năm xây dựng không phải là dễ dàng, bởi vì từ khi về VN chấp chánh, chính phủ Ngô Đình Diệm đã trải qua muôn vàn khó khăn, từ việc ổn định tình hình, dẹp tan các Giáo phái, thống nhất lực lượng Quốc gia, định cư gần một triệu đồng bao di cư từ Bắc vào Nam, vân vân. Sau đó đến việc xây dựng và đặt nền móng căn bản cho chế độ Cộng Hòa, bầu cử Quốc Hội, cải tổ Hành Chánh, tổ chức Quân Đội ở tầm mức quy mô, xây dựng và phát triển các ngành, cùng các lãnh vực kinh tế, tài chánh, xã hội, văn hóa, giáo dục… Rồi khi Cộng Sản Bắc Việt cùng với quan thầy Cộng sản Quốc Tế gia tăng xâm nhập phá hoại thì chính phủ Ngô Đình Diệm đã đề ra Quốc Sách Ấp Chiến Lược để đối phó với giặc Cộng. Nhìn lại chặng đường ngắn ngủi 9 năm với bao công việc như thế, phải nói là một kỳ công có một không hai ở Đông Nam Á. Các chính phủ sau ngày 1-11-19 63 chỉ là những kẻ thừa kế các di sản đó. Cái khó là đặt nền móng xây dựng chế độ Cộng Hòa và TT Ngô Đình Diệm đã hoàn tất một cách tuyệt hảo. Nếu như các chính phủ sau 1-11-19 63 biết bảo trì và phát triển những thành quả của nền Đệ Nhất Cộng Hòa thì lợi ích biết bao. Tiếc rằng bọn đâm thuê chém mướn cho CIA chỉ lo ăn chơi, phá hoại nên Miền Nam trở thành miếng mồi ngon cho Cộng sản thôn tính và nuốt trọn trong ngày bi thảm 30 tháng 04 năm 1975.

Trở lại Lời Trối Trăng của ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu, thì hai điều đầu tiên là (1) “Lý thuyết Nhân Vị và (2) đưa lý thuyết Nhân Vị vào trong Hiến Pháp bằng chủ trương Nhân Vị Cộng Đồng, Đồng Tiến Xã Hội”thời dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa đã làm rồi và trên đà triển khai lý thuyết này qua Quốc sách Ấp Chiến Lược. Sau ngày 1-11-19 63, trên hình thức lý thuyết Nhân vị bị bãi bỏ và Đảng Cần Lao bị ngưng hoạt đông. Nhưng trên thực tế thì nó vẫn được duy trì dưới một hình thức khác nếu mọi người hiểu cho rằng chủ thuyết Nhân Vị nhằm đấu tranh bảo vệ quyền tự do và phẩm giá của con người. Nói rộng ra thì lý thuyết nhân vị hoàn toàn hướng vể con người, là nhân bản, là nhân quyền. Nội dung Tuyên ngôn Nhân Quyền của Cách Mạng Pháp (1789), Tuyên Ngôn Độc lập Hoa Kỳ (1776) và Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc 1948 cũng đã bao hàm chủ thuyết Nhân vị. Hãy đọc và so sánh hai bản Hiến Pháp 1956 và Hiến Pháp 1967 có khác nhau nhiều đâu. Từ bố cục đến nội dung hầu như Hiến Pháp 1967 đã rập khuôn và sửa đổi lại một số điều khoản. Phần nói về quyền lợi và bổn phận công dân thì hầu như là không thay đối. Đây chính là nội dung chủ thuyết Nhân Vị đó thôi. Nghĩ lại cũng tức cười. Mấy ông to mồm chống đối “chế độ độc tài”Ngô Đình Diệm, vậy mà khi đắc cử làm Dân Biểu Quốc Hội Lập Hiến 1966 thì đã sao chép lại Hiến Pháp 1956 rồi đem sửa đổi một số điều, có khác chi nhổ ra rồi lại nuốt vô! Nếu chịu khó đọc các bản Hiến Pháp của Pháp, Đức, Hoa Kỳ, Liên Sô, Trung Cộng, Việt Cộng và Hiến pháp VNCH 1956 rồi đem so sánh và tự hỏi: Hiến Pháp VNCH 1967 giống bản Hiến Pháp nào nhất? Chắc chắn là giống Hiến Pháp 1956 thời TT Ngô Đình Diệm hơn bất cứ bản Hiến Pháp nào khác trên thế giới.

Còn luận điệu cho rằng Hiến Pháp 1956 là hiến pháp độc tài thì xin hãy bình tĩnh mà suy xét.

Khi về chấp chánh năm 1954, TT Ngô Đình Diệm đã phải đương đầu với tình hình muôn vàn khó khăn ở Miền Nam . Nạn sứ quân mà điển hình là mỗi Giáo phái hung cứ một vùng đang khi nhu cầu cấn thống nhất lực lượng để đối phó với Cộng sản, thử hỏi TT Ngô Đình Diệm làm gì để thống nhất lưc lượng quốc gia?  Tất nhiên phải dẹp tan nạn Giáo phái. Với tình hình ấy, nhiều nhân vật cho rằng chính phủ Ngô Đình Diệm khó lòng tồn tại được 6 tháng. Vậy mà nhờ sự cương quyết và khôn khéo, chính phủ Ngô Đình Diệm đã vượt qua mọi thử thách để thống nhất lực lượng quốc gia và xây dựng Nền Cộng Hòa ở Miền Nam được 9 năm trời. Lúc khó khăn, chính phủ Ngô Đình Diệm kêu gọi các nhân vật, các chính đảng hợp tác thì thấy nguy cơ, chính đảng và các nhân vật toan bỏ chạy theo Thực dân Pháp. Rồi sau mấy năm đầu tạm ổn định nhờ Phong Trào Tố Cộng quét sạch các ổ “Việt Cộng năm vùng”, tình hình bỗng trở nên khó khăn khi tập đoàn CS Hà Nội và quan thầy Nga Hoa âm mưu thôn tình Miền Nam, thời các chính khách sa lông lại giở trò tranh đấu đòi chia ghế. Vậy làm sao có thể nhượng bộ những đòi hỏi phi lý ấy?

Sau 1-11-19 63 , tình hình trở nên hỗn loạn là do đâu? Phải chăng hệ thống an ninh đã bị phá vỡ tạo cơ hội cho Việt Cộng xâm nhập phá hoại? Phải chăng bọn đội lốt Tôn giáo đã lợi dụng sự tự do quá trớn để tiếp tục gây xáo trộn?

Thí dụ dưới đây sẽ cho thấy Hiến Pháp VNCH 1967 và TT Nguyễn Văn Thiệu đã thao túng Quốc Hội như thế nào?

Hiến Pháp VNCH 1967 quy định Quốc Hội gồm có hai viện: Thượng Nghị Viện và Hạ Nghị Viện. Các Dân Biểu trong Quốc Hội Lập Hiến đưọc bầu ngày 11-9-19 66 (trong đó có các ông Phan Khắc Sửu, Trần Văn Văn, Phan Quang Đán…) nghĩ rằng Quốc Hội lưỡng viện sẽ dân chủ hơn Quốc Hội Nhất Viện! Nhưng các ông đã tính sai và lầm to nếu biết rằng Hiến Pháp 1967 đã dành cho Hạ Nghị Viện nhiều quyền hơn Thượng Nghị Viện. Hãy coi lại điều 43 khoản 5, 6, và 7  Hiến Pháp 1967 về thủ tục làm luật ở Quốc Hội thì đủ rõ. Hành Pháp chỉ cần nắm được Hạ Viện là có thể chi phối Quốc Hội dể dàng. Thực tế, TT. Nguyễn Văn Thiệu qua Phụ Tá Nguyễn Cao Thăng đã “nắm”được Hạ Nghị Viện. Sau đó, khi ông Nguyễn Văn Thiệu tái đắc cử Tổng Thống nhiệm kỳ 2 (1971-1975), ông đã sai đàn em sửa Nội Quy áp dụng thể thức bầu Liên danh Văn Phòng Quốc Hội (cả Thượng Viện và Hạ Viện) trong chủ trương “lấy thịt đè người”thay vì áp dụng thể thức đơn danh như thời Quốc Hội pháp nhiệm 1 (1967-1971). Chính vì chủ trương độc tài của phe nhóm ông Thiệu mà Nghị Sĩ Nguyễn Văn Huyền đã từ chức để phản đối và ra khỏi Quốc Hội.

Chế độ Cộng sản là nguyên nhân của đói nghèo, lạc hậu và bán nước

Sau khi tấn chiếm miền Nam, ngụy quyền CS Hà Nội đã biến Việt Nam thành một trong những nước đói nghèo và lạc hậu nhất thế giới. Nhân quyền bị tước bỏ, tài sản nhân dân bị cướp đoạt, Tôn giáo bị đàn áp. Hơn nửa triệu quân, cán, chính VNCH bị sung vào các trại học tập cải tạo. Nói tóm lại, cả nước là một nhà tù vĩ đại. Cho nên hàng triệu người đã bỏ nước ra đi tìm tự do bất kể những hiểm nguy đến tính mạng, trong đó nửa triệu người đã biến thành mồi cho tôm cá ở dưới lòng biển. Tệ hơn nữa, tập đoàn CS Hà Nội còn dâng đất, dâng biển cho Trung Cộng nhằm trả món nợ xâm lăng VNCH. Trong tài liệu Chính Đề Việt Nam , ông Cố vấn Ngô Đình Nhu từng viết:

“Các nhà lãnh đạo miền Bắc, khi tự đặt mình vào sự chi phối của Trung Cộng, đã đặt chúng ta trước một viễn ảnh nô lệ kinh khủng. Hành động của họ, nếu có hiệu quả, chẳng những sẽ tiêu diệt mọi cơ hội phát triển của chúng ta, mà lại còn đe dọa đến sự tồn tại của dân tộc.

Sở dĩ ngày nay, sự thống trị của Trung Cộng đối với Việt Nam chưa thành hình, là vì hoàn cảnh chính trị thế giới chưa cho phép, và sự tồn tại của miền Nam dưới ảnh hưởng của Tây phương là một trở lực vừa chính trị vừa quân sự cho sự thống trị đó. Giả sử mà Nam Việt bị Bắc Việt thôn tính, thì sự Trung Cộng thôn tính Việt Nam chỉ là một vấn đề thời gian.

Trong hoàn cảnh hiện tại, sự tồn tại của miền Nam vừa là một bảo đảm cho dân tộc thoát khỏi ách thống trị của Trung Cộng, vừa là một bảo đảm một lối thoát cho các  nhà lãnh đạo Cộng Sản Bắc Việt, khi họ ý thức nguy cơ họ đang tạo cho dân tộc. Nhưng ngày nào họ vẫn tiếp tục thực hiện ý định xâm chiếm miền Nam thị họ vẫn còn chịu sư chi phối của chính sách xâm lăng của Trung Cộng, thay vì chính sách sống chung hòa bình của Nga Sô.

Vì vậy cho nên, sự mất còn của miền Nam, ngày nay, lại trở thành một quyết định sự mất còn trong tương lai của dân tộc. Do đó, tất cả nỗ lực của chúng ta trong giai đoạn này phải dồn vào sự bảo vệ tự do và độc lập, và sự phát triển cho miền Nam để duy trì lối thoát cho miền Bắc và cứu dân tộc khỏi ách thống trị một lần nữa.”(CĐVN tr. 302)

Lời tiên đoán của ông Ngô Đình Nhu từ nửa thế kỷ trước, nay đã ứng nghiệm. Đất nước hiện đang rơi vao vòng nô lệ ngoại bang và tập đoàn CSVN khó lòng thoát khỏi bàn tay không chế và tham vọng bá quyền của Bắc Kinh. Chính Hồ Chí Minh và tập đoàn CSVN là thủ phạm đã rước chủ nghĩa Mác Lê đầy ác ôn đó vào để con cháu chúng ta ngày nay đang phải lãnh nhận một hậu quả vô cùng khốc hại. Bởi tập đoàn Cộng Sản ác ôn đã không còn nhân tính nên dân chúng khắp hai miền cũng không còn được sống trong bầu khí tự do với phẩm giá của một kiếp người. Đảng Cộng sản tự hào là đấy tớ phục vụ nhân dân đã biến thành ông chủ với quyền năng vô hạn. Nhân dân bị chúng lừa bịp xưng tụng là ông chủ đã bị biến thành những tên đầy tớ phục vụ cho các ông chủ tư bản Đỏ! Thật đúng như Engels và Lênin đã khẳng định: “Nhà nước là công cụ của giai cấp này để đàn áp giai cấp khác. Nhà nước được lập nên không phải vì tự do. Nói cách khác, có nhà nước thì không có tự do. Mà có tự do thì không có nhà nước.”Cứ xem từ Đông Âu, Liên Sô, qua Cuba đến Việt Nam , dưới chế độ Cộng sản, có nơi nào dân chúng được tự do? Có nơi nào dân chúng được làm chủ? Bởi vì nơi nào Cộng sản ngự trị thì cuộc sống con người sẽ không còn là người đích thực nữa. Từ thế kỷ thứ 19, dưới chế độ phong kiến và thực dân, Tú Xương đã chứng kiến được xã hội loài người không còn được sống như con người, nên đã thốt lên lời thơ thật vô cùng thấm thía:

Bắt chước như ai, chúc mấy lời.

Chúc cho khắp hết cả tên đời:

Vua, quan, sĩ, thứ, người muôn nước

Sao được cho ra cái giống người.

Nhưng Văn hóa miền Nam vẫn sống mạnh

Sau ngày 30-04-1975 , Miền Nam đã bị nhuộm đỏ. Chế độ Cộng Hòa trên thực tế không còn nữa và Việt Nam hoàn toàn đặt dưới sự thống trị của Cộng sản. Nhưng cũng trên thực tế, tuy thắng trên mặt trận quân sự và chính trị nhưng CSBV đã thua trên mặt trận Văn Hóa. Cái gọi là văn hóa đồi trụy của Miền Nam mà Cộng sản Bắc Việt rêu rao đòi tiêu diệt tận gốc rễ lại là vũ khí sắc bén gậm nhấm và âm thầm đồng hóa cái văn hóa xã hội chủ nghĩa phi nhân của Miền Bắc. Nếp sống văn hóa Miền Nam tràn ra Miền Bắc cũng như văn hóa nông nghiệp đồng hóa văn hóa du mục. Bao công trình văn hóa giáo dục của Miền Nam chẳng những không bị tiêu diệt mà còn sống mạnh. Sài Gòn vẫn hơn Hà Nội và Hà Nội mong bắt chước để đuổi kịp Sài Gòn. Giới thanh niên nam nữ và cả những ông bà đại cán của Hà Nội cũng mong bắt kịp lối sống văn hóa văn minh của Miền Nam . Sách báo Hà Nội xưa dùng những ngôn từ ăn nói du côn mất dạy đã phải tự thay đổi để theo nếp sống văn hóa đạo đức có lễ giáo của Miền Nam . Chỉ lấy một thí dụ đơn sơ là mẫu áo dài bà Ngô Đình Như thì đủ rõ. Trước đây, đã bao người chửi rủa bà Ngô Đình Nhu thế nọ thế kia, nhưng cái áo dài bà Ngô Đình Nhu lại là kiểu mẫu áo đẹp, cấp tiến, rất được trân trọng. Phải nói khắp nơi, phụ nữ hai miền Nam Bắc và cả ở hải ngoại đều ưa thích mẫu áo dài đó. Quả đúng về phương diện mỹ thuật, chiếc áo dài bà Ngô Đình Nhu là thời trang đẹp và hấp dẫn, không ai có thể phủ nhận. Đã vậy, nhờ nó mà các nhà vẽ kiểu thời trang đã cải tiến thêm giúp cho phụ nữ Việt Nam đẹp thêm khi bận chiếc áo dài này. Rồi đến nhạc vàng của Miền Nam bỗng dưng sống lại và được dân chúng khắp hai miền đua nhau hát thay cho thứ nhạc sản xuất khô khan của Miền Bắc!

Câu hỏi được đặt ra là cái gì đã làm cho Văn hóa Miền Nam (VNCH) sống mạnh và lướt thắng văn hóa xã hội chủ nghĩa miền Bắc? Thưa chính là những công trình văn hóa, giáo dục, xã hội ở miền Nam được xây dựng trên tình người, trên nền tảng tự do, dân chủ và nhân quyền đáp ứng được lòng dân mà biểu tượng bằng lá Cờ Vàng ba sọc đỏ. Tất cả những yếu tố đó đều nằm sẵn trong hai chữ Nhân Bản, Nhân Vị mà ra. Người ta không cần phải nói ra nhưng những công trình xây dựng và sinh hoạt đã thấm nhiễm vào đời sống người dân Miền Nam . Dân chủ ở Miền Nam đã di trước Miền Bắc ít nhất hai thập niên. Cho nên sau ngày 30-04-1975 mà nhất là sau năm 1991, khi chủ nghĩa Cộng sản sụp đổ ở Đông Âu và Liên Số thì người ta không lạ gì sức đồng hóa cùa Văn hóa Miền Nam còn gia tăng gấp bội. Dân chủ, nhân quyền, và quyền tự do của con người đã được người dân công khai bảy tỏ trên báo chí và các diễn đàn Internet khiến Cộng Sản Hà Nội chóng mặt, phải dùng bạo lực để đàn áp. Rõ ràng chủ trương Tự do, Dân chủ và Nhân quyền luôn đáp ứng yêu cầu của thời đại, là xu thế của thời đại không có gì cưỡng lại được, không phải chỉ ở Âu châu hay Mỹ Châu mà khắp cả thế giới. Chính vì thế mà sau 70 năm trời bị đặt dưới sự thống trị của chế độ Cộng sản phi nhân, người dân từ Ba Lan, Đông Đức qua đến Liên Sô đã đồng loạt đứng lên đánh đổ chế độ độc tài ác ôn nhằm xây dựng chế độ tự do, dân chủ, tôn trọng quyền tự do và phẩm giá của con người. Chủ nghĩa Cộng sản là thứ chủ nghĩa phi nhân độc hại, phải bị loại trừ ra khỏi xã hội loài người. Còn bị nó thống trị thì xã hội loài người còn đói khổ, chết chóc. Còn bị nó thống trị thì người dân còn là nô lệ, bị bóc lột. Xin hãy coi lại những lời nhận định chân thành của các nhân vật đầy uy tín trên thề giới:

  1. TT Nga Dmitry Medvedev tuyên bố tại Washington : Stalin was a killer (Stalin là tên sát nhân, ngày 15.04.2010).
  1. Russia President Vladimir Putin, TT Nga: “He who believes the communists has no brain. He who follows the communists has no heart”. Ai tin cộng sản là không có cái dầu. Ai theo lời của Cộng sản là không có trái tim.
  1. Russia President Boris Yeltsin (Tổng Thống Nga): You can build a throne with bayonets, but you can’t sit on it for long. Communists are incurable, they must be eradicated. Anh có thể xây ngaì vaàg bằng lưỡi lê, nhưng anh không thể ngồi lâu trên đó. Cộng sản không thể nào sửa chữa, mà cần phải đào thải chúng nó đi.
  1. Soviet Secretary Mikhail Gorbachev (Tổng Bí Thư Sô Viết): I have devoted half of my life foe communism. Today, I am sad to say that The Communist Party only spread propaganda and deceives. Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng Cộng sản. Hôm nay, tôi đau buồn mà thú nhận rằng: Cộng sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá.
  1. German Chancellor Angela Merkel (Thủ Tướng CHLB Đức/gốc Đông Đức): “The Communists make the people deceitful. Cộng sản dã làm cho người dân trở thành gian dối.
  1. Secretary General Milovan Djilas (Tổng Bí Thư Đảng CS Nam Tư): “At 20, if you are not a communist, you are heartless. At 40, if you don’t abandon communism, you are brainless. 20 tuổi không theo cộng sản là không có trái tim. 40 tuổi mà không bỏ cộng sản là không có cái đầu.
  1. Russian writer Alexandre Soljenitsyn (Nhà văn Nga): “When a communist lies to you, stand up and tell him that he is lying. If you don’t  dare to say that he lies, walk away. If you don’t dare walk away, do not recite the lie that you heard to anybody. Khi thằng cộng sản nói láo, ta phải đứng lên nói nó nói láo. Nếu không can đảm nói nó nói láo, ta phải bỏ đi. Nếu không can đảm bỏ đi, ta sẽ không nói lại những lời nó nói láo với người khác.
  1. Dalai Lama: “The communists are wild weeds that sprawl on devastation of war. The communists are venomous insects that breed on the garbage. Cộng sản là loài cỏ dại, mọc trên hoang tàn của chiến tranh. Cộng sản là loài trùng độc, sinh sôi, nẩy nở trên rác rưởi của cuộc đời.
  1. USA President Abraham Lincoln (Tổng Thống Mỹ). You can fool some of the people all the time, and and all of people some of the time, but you cannot fool all of the people all the time. Anh có thể lừa dối một số người trong mọi lúc, và lừa dối mọi người mọi người trong vài lúc, nhưng anh không thể mãi mãi lừa dối tất cả mọi người.
  1.   USA General Sheridan (Tướng Mỹ): “The only good communist is a dead communist”. Thằng cộng sản tuyệt với nhất là thằng cộng sản chết.
  1. USA President Ronald Reagan (Tổng Thống Mỹ): “How do you tell a communist? – Well, it’s someone who reads Marx and Lenin. Anh how do you tell an anti-Communist? – It’s someone who understands Marx and Lenin. Làm sao biết ai là Cộng sản?  Đó là người đọc về Marx và Lenin. Làm sao biết ai chống Cộng? Đó là ngươì hiểu về Marx và Lenin.Chấm dứt chiến tranh VN, không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong. Vì lẽ cái giá phải trả cho loại Hòa bình đó, là ngàn năm tăm tối, cho thế hệ sinh ra tại VN về sau.”
  1. TT Nguyễn Văn Thiệu: “Đừng nghe những gì Cộng sản nói. Hãy nhì kỹ những gì Cộng sản làm.”Don’t listen to the communist, but take a good look at what they have done.
  1. Nhà văn Nguyễn Tuân, nổi tiếng cao ngạo trong văn đàn miền Bắc. Sau mấy chục năm nín thở qua sông, vào đến miền Nam , gặp lại bạn bè, đã phát ra một câu để đời “Tao còn sống đến ngày nay, là nhờ biết sợ.”Nhà văn Vũ Thư Hiên cũng đã thuật lại câu nói của Nguyễn Tuân: “Muốn yên thân thì phải biết chia động từ sợ. Tôi sợ, anh sợ, chúng ta sợ…”
  1. Tướng độc nhãn Moshe Dayan, Do Thái: “Cộng sản là con ký sinh trùng, đem ra ánh sáng mặt trời sẽ chết.”
  1. Nguyễn Chí Thiện: “Nếu nhân loại mọi người đều biết: Cộng sản là gì tự nó sẽ tan đi..”

Cho nên, có ý kiến trên Diễn Đàn Internet nói rằng: “Muốn thoát chế độ cộng sản thì đừng sợ những gì Cộng sản làm, mà hãy làm những gì Cộng sản sợ.”

Về các Nhóm Tinh Thần Ngô Đình Diệm

Tháng 4/1975, Miền Nam rơi vào tay Cộng Sản. Các đoàn thể quốc gia lớp chạy ra hải ngoại cùng với đồng bạo tị nạn Cộng sản, lớp còn lại ở trong nước bị bắt đi tù đày, lớp “nằm im”chờ thời cơ. Những hậu thân của Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng Đảng cùng chung số phận. Những Đảng viên Cần Lao Nhân Vị chạy thoát ra được hải ngoại bỗng nhớ lại những gì mà ông Cố vấn Ngô Đình Nhu đã nói trước kia đồng thởi nhờ biết thêm những tin tức liên quan đến tình hình VN, nhất là sau khi nhiều tài liệu đã được giải mật nên họ muốn làm một cái gì đó cho quê hương. Các Nhóm Tinh Thần Ngô Đình Diệm được hình thành là như thế. Nhưng trước khi viết về các Nhóm Tinh Thần Ngô Đình Diệm, người viết xin lược thuật lại tình hình đó như sau:

Biến cố 30 tháng 04 năm 1975 xẩy ra trước sự ngỡ ngàng của Dân Tộc Việt Nam cũng như của nhiều nước trên thế giới: Việt Nam đã bị đặt hoàn toàn dưới ách thống trị của Cộng Sản. Có thể nói đó là cao điểm của phong trào Cộng sản trên thế giới, nhưng cũng là khởi điểm sự  thoái trào của chủ nghĩa Mác Lê. Trước 30-04-1975, người ta luôn đinh ninh rằng trên mặt trận chống Cộng, Hoa Kỳ sẽ không bao giờ có thể bỏ rơi đồng minh Việt Nam Cộng Hòa bởi vì ai cũng cho rằng Việt Nam là tiền đồn chống Cộng của Thế Giới Tự Do do Hoa Kỳ lãnh đạo. Người ta đã luôn luôn đưa ra lập luận rằng nếu để mất Miền Nam thì Cộng sản sẽ tràn xuống khắp vùng Đông Nam Á.  Quả thật lúc ấy, phe Cộng sản chiến thắng đã huênh hoang tuyên bố rằng chúng sẽ “giải phóng”Thái Lan và tương lai sẽ “giải phóng”luôn cả Đế Quốc Mỹ sau khi đã chiếm trọn Đông Dương. Cộng Sản Hà Nội còn vênh vang tự đắc lên mặt đòi Mỹ phải bồi thường chiến tranh theo Hiệp Định Paris 1973 nếu muốn lập quan hệ ngoại giao với chúng. Lúc ấy Mỹ trả lời rằng Việt Cộng xâm lăng Miền Nam là đã vi phạm Hiệp Định Paris và số vũ khí chiếm được của Miền Nam cũng tới 5 tỹ Mỹ kim rồi đó.

Thật ra thì bàn cờ quốc tế đã thay đổi từ thời Tổng Thống Richard Nixon (1968 – 1974) khi Cố vấn An Ninh Quốc Gia Henry Kissinger bí mật thăm Bắc Kinh qua ngả Pakistan năm 1971 để rồi năm sau Tổng Thống Hoa Kỳ Richard Nixon chính thức thăm Hoa Lục, gặp gỡ Mao Trạch Đông và công bố Thông Cáo Chung tại Thượng Hải 1972. Từ biến cố đó và sau này qua diễn biến của tình hình và các tài liệu được giải mật, người ta mới thấy Nixon đã chơi đòn chính trị rất độc là chặt đôi Khối Cộng Sản ra làm hai mảnh mà biểu tượng là Nga Sô và Trung Cộng. Trung Cộng được Mỹ chấp thuận cho vô Liên Hiệp Quốc thay thế vai trò Trung Hoa Quốc Gia của TT Tưởng Giới Thạch. Trung Cộng được gia nhập Liên Hiệp Quốc đồng thời là thành viên thường trực của Hội Đồng Bảo An, đứng ngang hàng với Mỹ và Nga Sô. Trước đó, khi chưa được Mỹ chấp thuận thì Trung Cộng luôn phải đóng vai trò đàn em Nga Sô trong khối Xã Hội Chũ Nghĩa, một sự kiện mà Trung Cộng luôn cảm thấy khó chịu. Sự thật thì chuyện xích mích giữa Nga Sô và Trung Cộng đã ngấm ngầm từ lâu nhưng Trung Cộng vẫn bị lép vế vì ở vai trò đàn em. Nay nhờ Mỹ được đứng ngang hàng với cả Nga và Mỹ tất nhiên Trung Cộng rất hãnh diện. Điều đó dễ hiểu vì dù dưới danh nghĩa nào, dù tự do hay Cộng sản thì hầu như chủ nghĩa Dân Tộc đã luôn luôn là chủ đạo của bất cứ quốc gia nào. Trung Cộng bề mặt theo Mác Lê, nhưng thực chất chủ nghĩa Dân Tộc Đại Hán và Bá Quyền vẫn tồn tại chỉ chờ cơ là vùng dậy. Cộng Sản hay Phong Trào Giải Phóng chỉ là chiêu bài nhằm ru ngủ các dân tộc chậm tiến của cả hai Đế Quốc Đỏ Tầu Nga nhằm thống trị thế giới. Đúng là một thứ bánh vẽ của bọn Đế quốc Thực Dân mới mà biểu tượng là Nga Sô và Trung Cộng.

Từ bước đầu này, Mỹ đã khởi sự lập quan hệ ngoại giao với Trung Cộng bằng việc nói chuyện công khai, đặt Đại diện thường trực, dần  dần mở cửa cho Trung Cộng vào Liên Hiệp Quốc. Song song những hành động như thế, Mỹ chấp thuận cho Trung Cộng ngang nhiên chiếm quần đảo Hoàng Sa của VNCH vào tháng 01 năm 1974 bất kể lời kêu cứu của VNCH. Mục đích lâu dài của Mỹ là dùng Trung Cộng ngăn chặn Liên Sô tràn vào Vùng Đông Nam Á sau khi Mỹ rút khỏi Miền Nam . Việc Mỹ đi đêm với Trung Cộng không phải là mới bắt đầu từ năm 1971, nhưng đã có ngay từ năm 1949 khi Mao Trạch Đông đánh đuổi phe Tưởng Giới Thạch phải chạy ra Đi Loan. Từ lúc đó, dù vẫn công nhận Trung Hoa Quốc Gia trên cương vị là thành viên thường trực của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, nhưng Mỹ vẫn có những cuộc tiếp xúc mật hằng năm với Trung Cộng tại thủ đô Varsovie của Ba Lan (Đông Âu). Nay thì sự thể đã rõ: Mỹ đã làm một ván bài mới và tình hình Đông Nam Á bắt đầu thay đổi. Số phận Việt Nam Cộng Hòa coi như đã được quyết định và chỉ chờ thời gian đến 1975 là hoàn tất.

Sau khi Mỹ để Miền Nam rơi vào tay Cộng Sản rồi thì Liên Minh Phòng Thủ Đông Nam Á tức SEATO không cần thiết nữa, liền bị giải tán vào năm 1977 và sau đó là Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á hình thành gọi tắt là ASEAN. Thật ra Hiệp Hội AEAN này đã được manh nha từ năm 1967, nhưng kể từ 1977 thì Hiệp Hội ASEAN đã đóng vai trò quan trọng hầu như thay hẳn Liên minh SEATO. Như vậy, rõ ràng là thuyết Domino với chủ trương bao vây (Domino: bao vây, cô lập và tấn công tiêu diệt) của Mỹ đã được thay thế bằng chủ trương hòa hoãn (Détente: hòa hoãn, hợp tác và phát triển). Trong khi các nước khác hiểu ván bài chính trị của Mỹ và bàn cơ thế giới sẽ thay đổi thì hai phe ở Việt Nam vẫn ngủ mê. Thật vậy, sau khi chiếm được miền Nam như một món quà từ trời rớt xuống, tập đoàn Cộng Sản Hà Nội đã say men chiến thắng với thái độ vênh vang tự đắc hồ hởi tiến lên Chủ Nghĩa Xã Hội, biến Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thành Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khiến cả nước lâm cơn đói rã họng phải lạy Mỹ cứu Đảng. Còn Việt Nam Cộng Hoà với TT Nguyễn Văn Thiệu vẫn một mực tin tưởng Mỹ sẽ không bao giờ bỏ rơi Miền Nam là tiền đồn chống Cộng của Thế Giới Tự Do trong khi Mỹ đi đêm với Trung Cộng nhằm thực hiện ván bài mới, sẵn sàng nhường Miền Nam cho Cộng sản. Thế nên nhìn lại tình hình VN, người ta có thể nói một câu mà không sợ lầm rằng “Kẻ thắng người thua đều thất bại!”

Người viết dài dòng nhăc lại một số sự kiện nêu trên để thấy rằng thân phận của các nước nhược tiểu như VN thật là bi đát. Những nước chậm tiến này (trong đó điển hình là Việt Nam ) chỉ là quân cờ cho các siêu cường (Super Powers) chơi, điều khiển, chỉ huy. Khi cần thì họ dùng. Khi không cần thi họ bỏ không một chút thương tiếc. Nói như thế nghe thê thảm quá, nhưng đó là sự thật mà những người làm chính trị hay lãnh đạo quốc gia phải biết. Vì trong chính trị, chẳng có gì là nhân nghĩa, tín trung, liêm sỉ mà chỉ có quyền lợi quốc gia dân tộc. Hày nghe Lord Palmerstom, the stateman who proclaimed of Britain in the 19th century, “We have no eternal allies, and we have no perpetual ennemies. Our interests are eternal and perpetual”. (Chúng tôi không có đồng minh vĩnh viễn. Chúng tôi cũng không có kẻ thủ vĩnh viễn. Chỉ có quyền lợi của chúng tôi là vĩnh viễn.”Câu nói của Lord Palmerston đã là khuôn vàng thưóc ngọc cho các chính trị gia và các nước nhất là những siêu cường ở phương Tây. Chỉ tội cho các nước chậm tiến, các lãnh tụ vì quá thiển cận, không nhìn xa trông rộng nên đã trở thành quân cờ thí cho Đế quốc. Ở VN chỉ có một Ngô Đình Nhu của Đệ Nhất Cộng Hòa nhìn ra vấn đề thì lại bị giết hại. Còn tập đoàn Hồ Chí Minh ở Miền Bắc và những chính phủ sau 1-11-19 63 ở Miền Nam cứ nhắm mắt tin tưởng vào đàn anh Nga, Tàu, Mỹ nên khi mở mắt ra thì đất nước đói nghèo lạc hậu và đang là miếng mồi ngon cho chủ nghĩa Bá quyền Dân tộc Đại Hán. Nhưng dù thế nào thì người Việt nhất định không thể buông xuôi cho số phận quyết định mà phải đấu tranh. Đó là lý do mà các đoàn thể chính trị bắt đầu hình thành, trong đó có Nhóm Tinh Thần Ngô Đình Diệm.

Các nhóm Tinh Thần Ngô Đình Diệm không phải là hậu thân của Đảng Cần Lao, dù trong đó có nhiều người từng là Đảng viên Cần lao. Trước biến chuyển của tình hình Việt Nam và thế giới, người Việt hải ngoại ý thức rằng, ở xứ tự do, có thể và phải làm những gì mà người dân trong nước không thể làm được. Đó là tiếp tục đấu tranh cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền. Các Nhóm Tinh Thần Ngô Đình Diệm tất nhiên cũng nhắm những mục tiêu ấy, nhưng dựa trên tinh thần đấu tranh mà Tổng Thống Ngô Đình Diệm là tiêu biểu. Vì chính nhờ tinh thần ấy mà Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã đem lại cho Miền Nam một bộ mặt mới, dân chúng được sống trong thanh bình hạnh phúc, khác hẳn không khí tù đày ở Miền Bắc với tập đoàn Cộng sản Hồ Chí Minh.

Có nhiều nhóm Tinh Thần Ngô Đình Diệm ở hải ngoại từ Hoa Kỳ , Canada , qua Âu Châu đến Úc Châu. Tại mổi Châu, trong đó có nhiều nước, nhiều thành phố, dân chúng đã tự động ngồi lại với nhau thành lập Nhóm Tinh Thần Ngô Đình Diệm với mục đích tiên khởi là tỏ lòng biết ơn với vị lãnh tụ sáng lập nền Cộng Hóa Việt Nam bằng việc tổ chức Nghi Lễ Tưởng Niệm trong ngày Giỗ và cầu nguyện cho người cùng các chiến sĩ. Ngoài ra, Nhóm còn phổ biến các tin tức và các tài liệu liên quan đến tình hình Việt Nam đồng thời kêu gọi và khuyến khích giời trẻ dấn thân. Thường các nhóm ngồi lại với nhau trong tình thân hữu và bình đẳng, không ai là lãnh tụ của ai. Có lẽ nổi bật nhất là Nhóm Tinh Thần Ngô Đình Diệm ở New Orleans do ông Đỗ La Lam khởi xướng. Ông Đỗ La Lam là đảng viên Cần Lao kỳ cựu nhất, từng dự khóa Huấn Luyện đầu tiên của Đảng do ông Ngô Đình Nhu tổ chức tại Đà Lạt năm 1951. Sau khi TT Ngô Đình Diệm về chấp chính 7-7-19 54, ông Đỗ La Lam được ông Ngô Đình Nhu chỉ định làm Chủ Nhiệm Nhật báo Cách Mạng Quốc Gia, là cơ quan ngôn luận của Phong Trào Các Mạng Quốc Gia và Đảng Cần Lao. Sau cuộc đảo cháng 1-11-19 63 , ông bị chính quyền quân nhân bắt giam một thời gian. Sau khi được thả ra, ông làm việc cho Viện Dại Học Minh Đức ở Sài Gòn.  May mắn chạy thoát qua Hoa Kỳ tháng 4/1975 có mang theo được một số tại liệu quý giá của Đệ Nhất Cộng Hòa, ông làm Tổng Thư Ký Nguyệt San Dân Chúa Mỹ Châu ở New Orleans, Louisiana và nhờ cơ hội thuận tiện, ông đã cho phát hành Tập San Chính Nghĩa được ba số, ghi lại một số văn kiện quan trọng của nền Đệ Nhất Cộng Hòa và Đảng Cần Lao. Tiếc rằng tuổi gia sức yếu, ông không làm được gì hơn ngoại việc phổ biến tin tức tài liệu và khuyến khích giới trẻ dấn thân. Ông qua đời tại New Orleans , Tiểu Bang Louisiana năm 2010. Tài liệu quan trọng mà người viết đã suy diễn và trình bày chính là Lời Trối Trăng của ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu được in trong Tập san Chính Nghĩa số 1 năm 1983. Khi còn ở Louisiana, người viết cũng đã có dịp gặp gỡ ông Đỗ La Lam và trao đổi với ông về một số vấn đề của Đệ Nhất Cộng Hòa và Đảng Cần Lao.

Nhóm thứ hai cũng nổi bật do các ông Cao Xuân Vỹ, nguyễn Tổng Giàm Đốc Thanh Niên, GS Lê Tinh Thông, Cựu Nghị Sĩ Lê Châu Lộc, nguyên Sĩ Quan Tùy Viên của TT Ngô Đình Diệm và Cựu Trung Tá Nguyễn Văn Minh, nguyên Chánh Văn Phòng Cố Vấn Chỉ Đạo Miền Trung Ngô Đình Cẩn. Nhóm đã có công vận động các Hội Đoàn hằng năm tổ chức Lễ Tưởng Niệm TT Ngô Đình Diệm tại tượng đài Việt – Mỹ ở Quận Cam (Orange County) với sự tham dự đông đảo của các Hội đoàn Quân, Dân, Cán, Chính và đồng bào. Ngoài ra tại nhiều Nhà Thờ và Nhà Chùa cũng tổ chức Lễ Gìỗ cầu nguyện cho Linh hồn TT Ngô Đình Diệm, Cố vấn Ngô Đình Nhu cùng các chiến hữu đã hy sinh mạng sống vì Tổ Quốc.

Việc làm của Các Nhóm Tinh Thần Ngô Đình Diệm, đặc biệt là 3 số Tập San Chính Nghĩa do ông Đỗ La Lam soạn thảo và ấn hành đã gây được tiếng vang lớn tại Hải Ngoại. Từ đó, nhiều nơi, những người hiểu biết về Nền Đệ Nhất Cộng Hòa đã tự động đứng lên lập Nhóm Tinh Thần Ngô Đình Diệm để sinh hoạt. Đặc biệt, hằng năm, hầu như các nơi trên thế giới có Cộng Đồng người Việt, người ta cũng tự động đứng ra thành lập Ban Tổ Chức Lễ Giỗ Tổng Thống Ngô Đình Diệm cùng các Chiến hữu đã hy sinh vì Tổ Quốc đã trở thành một thông lệ và được dư luận tán thưởng nhiệt liệt. Nhờ những sinh hoạt trang trọng và ý nghĩa như vậy mà người ta càng hiểu sâu sắc thêm về hoàn cảnh đau thương của Dân tiộc Việt Nam cùng những công trình mà TT Ngô Đình Diệm và nền Đệ hất Cộng Hòa đã đem lại cho Dân Tộc suốt 9 năm cầm quyền. Thật vậy, sau ngày Miền Nam rơi vào tay Cộng sản cũng như trước đó, ngay sau khi TT Ngô Đình Diệm bị sát hại, người ta đã nhận ra rằng hành động của Mỹ và bọn tướng lãnh tay sai là một sai lầm vô cùng tệ hại. Cuộc đảo chính ngày 1-11-19 63 do Mỹ chủ trương chẳng có gì là cách mạng mà đó chỉ là cuộc đảo chánh vụng về và thô bạo làm mất uy tín của Mỹ, một siêu cường quốc lãnh đạo Thế giới Tự do, nhưng đã hành xử như một thứ Đế Quốc Thực Dân. Và đó cũng là khởi điểm cho những sai lầm và thất bại không sao tránh khỏi và sửa chữa được dẫn đến cảnh sụp đổ của Miền Nam vào tay Cộng Sản ngày 30-04-1975 !

Cần Lao Nhân Vị còn thích hợp hay không?

Đất nước và Dân tộc bị đặt dưới chế độ độc tàì đảng trị gần bốn chục năm và đang phải đối diện với họa xâm lăng và diệt chủng vì âm mưu bành trướng của chủ nghĩa bá quyền. Thật ra thì từ ngàn xưa, nhân dân đã luôn luôn phải đương đầu họa xâm lược của giặc phương Bắc. Nhưng nhờ tinh thần kiên cường và khôn ngoan của tổ tiên, nên bao lần bị độ hộ, nhân dân ta vẫn có thể vùng lên đánh đuổi kẻ thù để giành lại độc lập. Thời đó là thời của phong kiến, đế quốc thực dân, âm mưu xâm lược chỉ đơn độc từ bên ngoài, việc đánh đuổi chúng đã là vô cùng khó khăn. Nay thì sự thể có khác và nguy hiểm hơn bởi chính chủ thuyết và Đảng Cộng Sản VN đã là thứ giặc ngoại xâm trá hình biến đất nước thành chư hầu cho Đế Quốc Đỏ!  Cho nên việc đối phó thật vô cùng cam go nếu như không vận dụng được sức mạnh vô địch của toàn dân.

Từ thế kỷ trước, Cụ Phan Bội Châu từng cảnh giác đồng bào về ba thứ giặc: giặc đói, giặc dốt, và giặc ngoại xâm. Ba thứ giặc đó có liên hệ mất thiết với nhau. Vì ngu dốt không biết làm ăn nên sinh ra đói nghèo lạc hậu. Đói nghèo lạc hậu thì yếu đuối, không đủ sức chống cự nên biến thành miếng mồi ngon cho giặc ngoại xâm thống trị, bóc lột. Thực dân xâm lược bóc lột nên ta lại sinh ra đói nghèo lạc hậu. Đói nghèo lạc hậu và không được mở mang phát triển nên lại yếu đuối không đú sức vùng dậy đánh đuổi ngoại xâm. Cái vòng luẩn quân đó cứ liên tục quay làm cho nước mình chậm tiến. Nếu như không có thế chiến thừ hai xẩy ra thì liệu các nước chậm tiến có sớm thoát khỏi ách nô lệ của thực dân đế quốc không? Rất là khó. Bởi ngay khi thế chiến thứ hai kết thúc, Thực dân Pháp vẫn muốn trở lại thống trị Đông Dương và đất nước ta, không chịu trao trả độc lập sớm nên Việt Nam đã trở thành miếng mồi ngon cho Đế quốc Cộng sản.

Thời Đệ Nhất Cộng Hòa, chính phủ Ngô Đình Diệm ngay khi chấp chánh đã cảnh giác dân chúng về ba thứ giặc: Thực dân, Phong kiến và Cộng sản với khẩu hiệu “Bài Phong, Đả Thực, Diệt Cộng”. Ba thức giặc này cũng liên hệ mật thiết với nhau. Phong kiến muốn nhờ Thực dân cứu nguy để quay trở lại. Thực dân sẽ lợi dụng cơ hội trở lại để tiếp tục khai thác bóc lột. Cứ thế, Thực dân và Phong kiến trở thành đối tượng cho giặc Cộng tuyên truyền đánh đuổi để nắm chính quyền. Thực tế là hoạt động của Cộng sản nằm vùng với sư tiếp tay hỗ trợ tử Đế Quốc Đỏ đã gia tăng, cho nên qua Quốc sách Ấp Chiến Lược, chính phủ VNCH lại phải cảnh giác về ba thức giặc mới:  Giặc chia rẽ, Giặc chậm tiến và Giặc Cộng sản. Ba thứ giặc này cũng liên hệ chặt chẽ với nhau như những mắt xích, cái nọ là nguyên nhân phát sinh ra cái kia, cứ thế liên tục, đưa dân tộc vào vực thẳm nô lệ!

Cộng sản luôn hô hào giải phóng người lao động (giải phóng công nông) với khẩu hiệu “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân Dân làm chủ”. Thực tế, khi Cộng sản nắm chính quyền thì quyền làm chủ của nhân dân đã bị dồn vào bàn tay sắt của Đảng. Nhà nước chỉ là công cụ đàn áp bóc lột và Nhân dân trở thành đầy tớ, nô lệ. Bởi đó, chủ thuyết Cần Lao Nhân Vị là chủ thuyết đấu tranh giành lại quyền làm chủ cho người dân tức là Tự do, Dân chủ và Nhân quyền. Cần Lao Nhân Vị là đem sức lao động làm việc cần mẫn để phục vụ con người. Nói như thế có nghĩa là bất cứ ai đem sức lao động ra để làm việc phục vụ con người với sự chăm chỉ cần mẫn là Cần Lao Nhân Vị đấy. Tuy dù cho họ chưa hiểu hay không hiểu rõ tường tận cụm từ “Cần Lao Nhân Vị”nhưng nếu lòng họ nghĩ và muốn dùng sức lao động đẻ làm việc hầu thăng tiến đời sống con người và chính họ thì cũng là mang trong mình tinh thần Cần Lao Nhân Vị rồi đó. Từ ngữ này đã được cụ Phan Bội Châu xử dụng chớ không phải mới mẻ gì. Vậy thì khi tinh thần Cần Lao Nhân Vị còn đáp ứng nhu cầu đấu tranh của con người thì chúng ta nên hành động theo tinh thần ấy.

Trong lời trối trăng, ông Cố vấn Ngô Đình Nhu không nói đến Đảng Cần Lao mà chỉ nói đến Lý Thuyết Nhân Vị và đưa lý thuyết Nhân Vị vào Hiến Pháp. Nhưng Việt Nam Cộng Hòa không còn, Hiến Pháp VNCH cũng bị ngưng thi hành thì công cuộc đấu tranh giành lại chính quyền đề đưa Lý Thuyết Nhân Vị vào Hiến Pháp thay thế chủ thuyết Cộng sản lỗi thời là điều khẩn thiết phải làm. Muốn được như thế thì Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng Đảng phải tái tục hoạt động, cần phải được phục hoạt dưới một hình thức nào đó đáp ứng được nhu cầu của tình hình để giải thể chế độ Cộng sản và thực hiện cuộc Cách Mạng Nhân Vị lần thứ hai cho cả nước Việt Nam. Một nhân vật lãnh đạo từng nói: “Thời đại mới, nhu cầu mơí, phương pháp mới”. Tất nhiên phải có nhân sự mới. Cho nên các chiến sĩ Cần Lao Nhân Vị ở trong nước cũng như ở hải ngoại, các nhóm Tinh Thần Ngô Đình Diệm ở khắp nơi trên thế giới cùng với các tổ chức chính trị đứng đắn của Khối Người Việt Quốc Gia hãy vững tâm bắt tay mà mạnh dạn đứng lên.

Nhờ tinh thần Nhân Vị, miền Nam dưới chế độ Cộng Hòa đã thực sự đem lại hạnh phúc tự do cho nhân dân. Cuộc sống của dân chúng Miền Nam dưới chế độ Cộng Hòa hơn hẳn cuộc sống của dân chúng Miền Bắc. Phong trào dân chủ ở Miền Nam đi trước Miền Bắc cả một thế hệ. Miền Nam dưới chế độ Cộng Hòa cũng không để mất một tấc đất cho ngoại bang xâm lược cho đến khi bị đồng minh phản bội. Dưới chế độ Cộng Hòa Nhân Vị, nhân dân ấm no, thù sợ bạn nể. Không phải như hôm nay, một Việt Nam thống nhất nhưng đã trờ thành tôi đòi, nô lệ cho ngoại bang. Cả một tập đoàn cung cúc lệ thuộc vào đàn anh Trung Cộng đầy tham vọng và hiểm độc, luôn tìm cách kiềm chế, thôn tính để nuốt trọn quê hương thân yêu cùng Biển Đông, gây xáo trộn cho cả vùng Đông Nam Á. Cho nên muốn thoát ra khỏi nguy cơ này thì phải dẹp chế độ Việt gian Cộng sản. Mà muốn dẹp chế độ Việt gian Cộng Sản phải làm Cách Mạng. Muốn làm Cách Mạng phải có tổ chức Cách Mạng. Nhưng làm thế nào để có tổ chức cách mạng? Ông Cố vấn Ngô Đình Nhu chỉ cho một phương thức: “Không dám nói là anh hùng tạo thời thế. Nhưng những việc làm hữu cơ và quyết tâm đều có thể tạo nên cơ quan.”

Tổng Thống Ngô Đình Diệm khi chuẩn bị về chấp chánh, từ Paris ngày 5-6-1954, đã gửi điện văn về Việt Nam cho các chiến hữu với lời nhăn nhủ “Hãy dũng cảm và quyết tâm”.

Trước khi cuộc đảo chánh 1-11-19 63 xẩy ra, trong một buỗi gặp gỡ với các nhân vật tại Dinh Gia Long, như linh cảm thấy số phận cá nhân mình sẽ như thế nào đó trong tương lai rất gần, TT Ngô Đình Diệm đã nói trong lúc đầy súc cảm: “Tôi tiến, tiến theo tôi; Tôi lùi hãy giết tôi; Tôi chết hãy nối chí tôi”. Nay thì TT Ngô Đình Diệm đã bị bọn tay sai CIA sát hại khiến đất nước lâm vào cơn nguy biến tệ hại hơn 50 năm trước. Trong thì dân chúng bị bọn Việt gian Cộng sản đàn áp bóc lột; ngoài thì bị Bá quyền Trung Cộng lấn dần. Cái chết của TT Ngô Đình Diệm và nền Đệ Nhất Cộng Hòa càng nói lên Con Đường Chính Nghĩa mà nền Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam đem lại là chính đáng, nó cần phải được phục hoạt và phát huy để đem lại Tự do, Dân Chủ và Nhân quyền cho Việt Nam. Mong rằng các chiên sĩ Cần Lao Nhân Vị và hậu duệ cùng tất cả những ai ôm ấp lý tưởng đấu tranh bảo vệ quyền Tự do và phẩm giá con người sẽ ý thức, ghi nhớ và hành động theo lời trối trăng của ông Cố vấn và lời nhắn nhủ của vị Lãnh tụ anh minh. Đó là cách biểu lộ lòng thương mến và biết ơn tích cực nhất đối với người đã hy sinh mạng sống để bảo tồn nền độc lập và tự chủ của Nhân Dân Việt Nam.

Nhân giỗ lần thứ 50 ngày Tổng Thống Ngô Đình Diệm

và Cố vấn Ngô  Đình Nhu bị thảm sát

( 02/11/1963 – 02/11/2013 )

Phạm Quang Trình

http://hon-viet.co.uk/PhamQuangTrinh_CanLaoNhanViCachMangDangQuaLoiTroiTranCuaOngCoVanNgoDinhNhu.htm

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s