Tủ sách Tiếng Quê Hương và Tiếng Chim Báo Bão – Nguyễn Văn Lục


Tủ sách Tiếng Quê Hương và Tiếng Chim Báo Bão 

Inline image 1

Giới thiệu Tủ sách Tiếng Quê Hương và điểm sách Tiếng Chim Báo Bão của Tiêu Dao Bảo Cự

Tin Nhà vừa nhận được cuốn sách Tiếng Chim Báo Bão của Tiêu Dao Bảo Cự do Tủ sách Tiếng Quê Hương in và phát hành. Đây là cuốn sách thứ 20 Tiếng Quê Hương phát hành kể từ năm 2006 đến nay. Thật ra, tôi xem lại thì còn một số sách khác cũng do Tủ sách Tiếng Quê Hương xuất bản mà không có trong danh sách mà một vài cuốn sách xem ra không thể thiếu được như: Hồ Chí Minh, nhận định Tổng Hợp và cuốn Ai giết Hồ Chí Minh của Minh Võ hay cuốn Viết về bè bạn của Bùi Ngọc Tấn. Tôi nghĩ sách đã bán hết nên không giới thiệu nữa chăng?Ở đây, tôi xin nhắc thêm đến một số cuốn sách khác như Thân Phận Ma Trơi và Giữa Đêm Trường của Nguyễn Thụy Long, Thơ Mai Trung Tĩnh,Ngã Tư Hoàng Hôn của Văn Quang, Tâm sự Nước Non của Minh Võ, Trong ánh lửa thù của Uyên Thao, Việt Nam đầu thế kỷ 20 của Dương Kiền, Sau bức màn đỏ của Hoàng Dung, v.v…

Một vài dòng về Tủ sách Tiếng Quê Hương

Quyết định thành lập tủ sách này cũng là một quyết định “liều lĩnh” chỉ có anh Uyên Thao mới dám làm. Phải nói chuyện, nhìn anh với thân hình ốm o, bệnh tật mới thấy cái hết lòng với Văn Học. Một thành công và một cố gắng phi thường của anh và nhóm bạn bè người Việt Hải ngoại trong việc chọn lựa các đầu sách đã xuất bản. Tủ sách có một chủ trương rõ rệt: Ngoài phần in sách của một số tác giả hải ngoại, họ còn in sách của các tác giả từ trong nước mà sách của họ không được in, hay cấm in. Đó là trường hợp Tạ Duy Anh, Tô Hải và lần này là Tiêu Dao Bảo Cự.

Công việc này có ý nghĩa Văn hóa và tác dụng chính trị nữa.

Anh Uyên Thao là người chủ trương, nguyên là chủ bút tờ Sóng Thần đã một thời vang danh với Vụ án báo chí lịch sử ngày 31/10/1974.

Vụ án đó có tên là ngày công lý và báo chí thọ nạn.

Tập Hồ sơ báo chí này dày gần 200 trang với sự thu thập không biết bao nhiêu hình ảnh các nhân vật tranh đấu đủ thành phần như giáo sư đại học, luật sư, các dân biểu, các nhân vật chính trị các nhà sư, linh mục, giới sinh viên với đầy đủ chứng từ, bản cáo trạng, các lời tuyên bố, các phiên xử. Một tập tài liệu báo chí hiếm có mà chính anh Uyên Thao cũng không thể mang theo được.

Nó ghi dấu một thời kỳ sôi động đấu tranh dân chủ khó quên. Nhưng nó cũng báo hiệu một sự sụp đổ miền Nam VN gần kề. Có những phiên tòa xử mà danh sách luật sư bào chữa lên đến 80 vị. Tôi hy vọng một ngày nào đó tập Hồ sơ báo chí này được ra mắt bạn đọc.

Trước tình hình khủng hoảng của hệ thống báo giấy, trước nguy cơ bị tràn ngập bởi sách báo điện tử, sự đóng góp của Nxb Tiếng Quê Hương là một cố gắng phi thường nối tiếp theo sự vắng bóng của những Nxb đã một thời làm nên văn Học miền Nam như nhà Văn Nghệ, Lá Bối.

Vài dòng về các sách đã được xuất bản

May mắn tôi có gần như đầy đủ các tập sách do Tiếng Quê Hương xuất bản do anh Trần Phong Vũ phụ trách phát hành tặng. Có những cuốn “không dễ đọc” đòi sự vận dụng trí tuệ khá cao để hiểu tác giả muốn nói gì như cuốn Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh bị cấm in trong nước. Và sau đó với cuốn Sinh ra để chết cũng của Tạ Duy Anh, tiểu thuyết. Gọi là tiểu thuyết, nhưng thật ra là một bản án chế độ bằng một ngôn ngữ chua chát, mỉa mai và dao thớt, “Từ đấy ông nội mới công nhận bố có tài và quyết tâm cho ăn học nên người để có thể ỉa thẳng vào mặt kẻ thù!”

Cho ăn học chỉ có mục đích ỉa vào mặt kẻ thù thì kinh hãi quá!

Ở trong nước, Tạ Duy Anh cũng có truyện được xuất bản là cuốn Thiên Thần sám hối. Câu chuyện Ti>Thiên Thần sám hối bắt đầu từ một đứa trẻ còn trong bụng mẹ, lúc nó được bảy tháng. Tin đươc hay không tùy bạn đọc. Tác giả là như thế đấy.

Có những cuốn như Tử Tội của họa sĩ Chóe (1943-2003) một trong 10 họa sĩ biếm họa xếp hàng đầu thế giới. Sau 1975, ông đã sống lê lết với đôi cặp mắt mù lòa do bị tù đầy nhiều năm. Những tranh biếm họa mà đối với tôi như một khám phá. Lý thú của cả một thời VNCH. Biếm họa hay đến nỗi nhiều độc giả mua tờ báo hằng ngày là để xem tranh biếm họa trước. Hai nhà biếm họa babui và nguoivehuu trên DCVOnline.net đã có cuốn này chưa? Nếu chưa có, xin mời đọc.

Ông chẳng những là họa sĩ, biếm họa mà còn viết văn, làm thơ, viết nhạc nữa. Không biết bao nhiêu bài thơ hay khiến tôi không biết chọn bài nào:

Môi em mùi son
Môi ta mùi rượu
Giờ uống một mình
Ta pha rượu với son
 (1995)

Đừng trao vào tay phải ta những thứ dễ vỡ
Sự hư đốn rất bất ngờ
Nó đánh rơi dù vàng hay ngọc
Hãy trao vào tay trái ta
Dù sao nó cũng còn trái tim bảo chứng
 (1997)

Sách Viết Về bè bạn của Bùi Ngọc Tấn và Đêm giữa ban ngày của Vũ Thư Hiên, tôi nghĩ khỏi cần giới thiệu. Tự nó, các tên tuổi đó, độc giả tìm đọc.

Có cuốn sách dịch Việt Nam, Quê mẹ oan khiên, Pierre Darcourt do cựu đại tá Dương Hiếu Nghĩa dịch. Cuốn sách có tác dụng gây xúc động vì thứ ngôn ngữ cảm xúc mạnh trong từng trang sách khi viết về cuộc chiến Việt Nam. Phải có lòng với Việt Nam Cộng Hòa lắm tác giả mới có thể viết được như vậy. Chỉ tiếc nhan đề tiếng Pháp của cuốn sách (“Vietnam, qu’as tu fait de tes fils?”) đã không được in ra bên ngoài. Chính tôi cũng nhầm tưởng cuốn sách dịch từ cuốn Triumph Forsaken của Mark Moyar.

Nhưng xét về mặt tài liệu nghiên cứu thì theo tôi cuốn Triumph Forsaken, The Viet Nam war-1954-1965 của Mark Moyar mới là cuốn đáng đọc và đáng dịch vì tài liệu dồi dào của nó. Sách dày 518 trang thì trong đó 112 trang là phần trích dẫn tài liệu. Nhưng cũng rất tiếc, cuốn sách của tác giả đã chấm dứt vào thời điểm 1965 trước khi cuộc chiến đã tàn vào năm 1975.

Còn nhiều cuốn quá, tôi không thể giới thiệu hết được như Hồi Ký Đời Tôi của Nguyễn Liệu, dày 714 trang. Một cuộc đời, một tuổi trẻ “rất khác thường” liên hệ xa gần đến nhóm Hà Thúc Nhơn-Quảng Ngãi Nghĩa Thục, dấn thân nhập cuộc, tù đầy, chống đối, đốt tuổi trẻ vào những dấn thân ước mơ cho một Việt Nam tốt đẹp.

Cũng một chí hướng và tâm trạng vào lúc cuối đời như Vũ Cao Quận ở tuổi 70 nhìn lại cuộc đời chỉ thấy là những hy sinh vô vọng và gửi tâm sự vào trong: Gửi lại trước khi về cõi, v.v…

Lê Thiệp với tạp ghi Lững thững giữa đời và trong Đỗ Lệnh Dũng ghi lại quãng đời của một người tuổi trẻ có mặt trong cuộc chiến rồi chịu thân phận làm tù binh đi hết trại giam, này đến trại giam khác từ Bắc chí Nam. Hình chụp Đỗ Lệnh Dũng trong bộ quân phục nhà binh, ve áo với lon trung úy, có để ria mép. Trông đúng là một mẫu hình tiêu biểu cho một sĩ quan VNCH trước 1975.

Một tác giả trẻ tuổi mà đã có dịp tôi được tiếp chuyện là Nguyễn Kỳ Phong, chuyên nghiên cứu về quân sự của Mỹ với cuốn Vũng Lầy tòa Bạch Ốc, Người Mỹ và chiến tranh VN, viết và làm việc theo phương cách của người Mỹ với rất nhiều phần tài liệu dẫn chứng.. Xin được giới thiệu cuốn sách này tới các bạn trẻ VN.

Và trước khi chấm dứt phần giới thiệu sách này, tôi không quên hai tác giả nữ có đầu sách in ở Tiếng Quê Hương là Lê Mỹ Hân với Quê Hương ngày trở lại và Mai Nguyên. Riêng tác giả Mai Nguyên đã tặng sách cho tôi từ 3 năm nay với lời lẽ trân trọng và quý mến. Nhưng rất tiếc, tôi chưa có dịp được giới thiệu thì ở đây xin giới thiệu cùng với lời tạ lỗi muộn và mời bạn đọc cuốn Thư gửi vào không…

Điều trân quý là hầu hết các sách của Tiếng Quê Hương sau này đều có bìa cứng. Tôi để thành hàng trên kệ sách nhìn mà cảm thấy như một thưởng ngoạn.

Tôi giới thiệu nhiều tác giả như thế thì nay mai cuốn sách của tôi:

“Miền Nam 1955-1975”, Nguyễn Văn Lục, cũng được tiếng Quê Hương xuất bản cho, ai sẽ là người giới thiệu cho tôi đây?

Cuốn sách của TDBC mà theo tôi, chính quyền trong nước sẽ không chấp nhận và cấm in còn đối với bên ngoài nước, nó cũng là cuốn sách controversial, gây vấn đề. Phần tôi thử đưa ra một vài nhận định về cuốn sách này, đặt vấn đề với tác giả và giải mã một số vấn nạn vướng mắc nhận thấy trong cuốn sách.

Tiếng Chim Báo Bão của Tiêu Dao Bảo Cự

 
 

Khi tôi nhận được bút ký Tiếng Chim Báo Bão do anh Trần Phong Vũ gửi thì đã có bài điểm sách của Trịnh Bình An đăng trên DCVOnline.net ngày 03/01/2010. Điều đó không thay đổi gì nhiệm vụ và công việc của tôi khi đã nhận điểm cuốn sách này.

Cuốn sách Tiếng Chim Báo Bão được chia ra hai phần rõ rệt. Phần một được gọi là Suy niệm gói ghém những bãi viết từ 1989-1997 và từ 2005-2008. Phần này gồm 270 trang. Phần hai có nhan đề là: Tôi bày tỏ. Nhật ký trong những ngày bị quản chế từ 1996-1998.

Nói về nhan đề cuốn sách

Đọc nhan đề cuốn sách Tiếng Chim Báo Bão gợi cho người đọc nghĩ đến những dấu hiệu một thay đổi lớn như một cơn bão, hay một cái gì đó tương tự mà tác giả không tiện nói ra. Người ta chờ đợi xem nội dung sách sẽ cho biết những dấu hiệu ấy như thế nào? Dấu hiệu ấy phải chăng như một phê phán quyết liệt (radical), một cảnh báo một nguy cơ sụp đổ?

Hình như tôi không thể tìm thấy những dấu hiệu mà tác giả nêu ra với tư cách một người bất đồng chính kiến. Những vấn đề lớn có nguy cơ sụp đổ về đủ mặt như vấn đề tham nhũng, vấn đề đảng trị độc đoán, bóp nghẹt tự do thông tin và báo chí, vấn đề đàn áp tôn giáo cũng như các vấn đề xã hội và giáo dục.

Trong cuốn sách in trước đó, Mảnh Trời Xanh Trên Thung lũng ông đã có dịp đề cập đến truyện bị đòi lên Công An, bị tra hỏi và bị theo dõi và ông đã dàn trải câu truyện bị Công An tra vấn, làm khó dễ trong suốt 500 trang giấy. Và cuối cùng thì có lẽ sống trong bầu khí nghi kỵ kìm kẹp, tra vấn đến nghẹt thở, ông chỉ còn có Mảnh Trời Xanh Trên Thung Lũng của mảnh trời Đà Lạt làm bè bạn trong sự cô đơn của một người bị thất sủng, bị đảng khai trừ.

Cái day dứt khốn khổ bị theo dõi, bị tra vấn, bị quản thúc ấy ám ảnh ông và một lần nữa, ông đưa vào trong cuốn Tiếng Chim Báo Bão.

Và phải chăng nhật ký hai năm quản thúc là Tiếng Chim Báo Bão về chế độ? Thật sự tôi không rõ nữa.

Trong Tiếng Chim Báo Bão, ông nén chuyện bị công an quản chế còn hơn 200 trang và đặc biệt lần này có ghi chú rõ ngày tháng năm.Tôi nhận thấy ông chỉ bị quản thúc nên việc tra vấn chỉ là một phần trong sinh hoạt đời sống. Ông vẫn có quyền đi lại, vẫn đi uống cà phê, thăm bạn bè, thu thập tin tức trên BBC, nghĩa là vẫn nghe đài, đọc báo chí trong một không gian giới hạn là phường 9. Ông vẫn quanh quẩn ở nhà ông, có vợ con, vẫn cơm nước, vẫn sinh hoạt bình thường trừ có việc công an canh gác trước nhà. Vòng bạn bè vẫn không mất hẳn vẫn được nhắc tới, ngay cả những người cũng thuộc thành phần bất đồng chính kiến như người bạn tâm phúc của ông như Hà Sĩ Phu, Nguyễn Đức Sơn, Hoàng Minh Chính, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Đặng Việt Nga đến Lĩnh và những người trong nhóm Yoga, nhưng nhất là đến Đan Tâm và đến Yến… Những người thân cận này cứ quay vòng vòng chung quanh những suy nghì miên man của ông trong từng chi tiết nhỏ như đi chợ, đưa con đi học, ngày ngày đưa Yến đi làm, rồi ốm đau.

Đó đây, ông tả lại cái tâm trạng một người sống trong chế độ công an mà cái cảm giác bất an lúc nào cũng cánh bên mình qua kinh nghiệm kể lại của Nguyễn Ngọc Lan trong cuốn sách xuất bản trước của ông:

“Tôi chấp hành cũng như người bị dí súng vào lưng thôi.”

Quả đúng vậy, Nếu tôi chống lại, chắc chắn, họ sẽ dùng biện pháp hơn và tôi phải bị phiền phức, thiệt hại nhiều hơn. Rồi có người khuyên, “Trên đường đi, nếu anh gặp tảng đá quá lớn thì anh nên đi đường vòng, chứ không nên đấm tay vào đá.”

Trích Mảnh Trời Xanh trên Thung Lũng, Tiêu Dao Bảo Cự, trang 603.

Đặc biệt phần hai cuốn sách, ở trong cuốn in trước, ông đã đổi tựa đề từ Tôi tố cáo và thay vào đó tựa đề Tôi bầy tỏ. Tựa đề Tôi bày tỏ nhẹ nhàng đi nhiều chẳng khác gì Tôi góp ý với đảng. Hay ở chỗ khác, trong bài Thư ngỏ gửi những người cộng sản Việt Nam, ông viết:

“Tôi viết thư ngỏ này để trang trải tấm lòng và quan điểm của mình đối với những vấn đề lớn của đất nước một cách tự do và thẳng thắn.”

Viết để trang trải tấm lòng thì không đủ tư cách nói đến một quan điểm, một lập trường, một khác biệt, một bất đồng chính kiến hay hơn nữa một đối kháng.

Với một lá thư trang trải nỗi lòng như thế, phản ứng của Đảng sẽ như thế nào? Có cần nghe, có cần đọc, có cần trả lời, có cần đưa ra biện pháp sửa đổi hay bỏ qua không đếm xỉa đến?

Vì thế, khi đọc xong cuốn sách, tôi bị confused không biết phải xếp tựa đề Tiếng Chim Báo Bão vào phần nào? Tiếng chim báo báo phải là một nguy cơ, một bắt mạch, một phân tích rạch ròi kiểu Nguyễn Trung về kinh tế, một nói thẳng kiểu Trần Độ, một cảnh báo, một phê bình gay gắt kiểu Hoàng Minh Chính liên quan đến sự sống còn của tổ chức, của cơ chế, của tương lai chế độ.

Tiếng Chim Báo Bão mà chẳng báo gì cả, ngay cả thông báo thời tiết và treo lơ lửng trong suốt hai phần của cuốn sách, lúc treo thấp, lúc treo cao, lúc là là mặt đất không đụng chạm vào đâu cả, không làm ai nhột cả, có lúc nhỏ nhẹ, hiền lành bầy tỏ như người trong nhà.

Có một khoảng cách lằn ranh rõ rệt giữa tựa đề cuốn sách Tiếng Chim Báo Bão và nội dung bày tỏ trong toàn cuốn sách.

Về việc bị quản chế của Tiêu Dao Bảo Cự

 
 

TDBC đã hao tổn khá nhiều công sức để viết hồi ký về hai năm quản chế của mình Tôi đã chịu khó theo dõi, chịu khó đọc những chi tiết lan man đến tủn mủn của hai năm quản chế ấy. Tôi cũng chịu khó xem lại cuốn Hồi ký của Trần Vàng Sao nhan đề: Tôi bị bắt và Tiếng chi, báo bão của TDBC có nhiều điểm tương đồng như đều có thẻ đảng, đều bị khai trừ, đều bị tra vấn hạch hỏi. Nhưng nội dung chuyển tải, chưa cho thấy một bi kịch như cuốn Le Procès của Kafka. Chưa cho thấy được cái bạo tàn, cái máy móc, cái lạnh lùng của cơ chế nghiền nát con người của một guồng máy độc tài và mất nhân tính.

Nó vẫn chưa phải là một bi kịch của một con người, một nạn nhân trong một guồng máy.

Đọc xong nhật ký Trần Vàng Sao không đem lại cho tôi ấn tượng gì về cái tinh xảo, cái tàn độc, cái cỗ máy ghiền của đảng.Tôi nghĩ bụng: các anh còn sướng quá. Sướng lắm so với những người đi tù cải tạo và với một số nhà văn miền Nam bị bắt sau 1975.

Cái cảm giác ấy khi đọc Trần Vàng Sao cũng không khác mấy khi đọc hồi ký của TDBC.

Xin được trích dẫn một đoạn trong nhật ký Tôi đi tù của Trần Vàng Sao:

“- Anh uống nước.

Tôi lấy thuốc hút và uống nước…(…) Ông ta bắt đầu nói, trong lúc tôi dựa người lên ghế và duỗi chân ra dưới bàn. (Thái độ thoải mái và ngon ghê!)

‒ Chúng tôi đưa anh về đây là để tiếp tục làm việc với anh. Hiện nay quần chúng, cán bộ và đảng viên ở K65 hết sức bức xúc, để anh ở đó chúng tôi xét không có lợi. Số phận và tương lai của anh bây giờ là do anh quyết định đó. Anh chưa nói hết và thành thật với đảng. Đây là cơ hội cho anh hối cải.. Anh phải nói hết, nói thật, chỉ có cách đó anh mới cứu được anh. Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh kẻ chạy lại.. Đảng rất độ lượng, mặc dù anh đã có thái độ và hành động chống đảng.”

Trích: Tôi bị bắt, Trần Vàng Sao. Người sưu tầm phổ biến, Lữ Phương với lời nhận xét mở đầu: chúng ta có thể nghe thêm một tiếng nói của một người đã có đầy đủ lý do để không còn phải đứng về phe nào trong hai phe ấy. Sai gòn ngày 2-11-2005.

Tôi còn nhớ khi đọc xong tập Hồi ký này, tôi nói với một người bạn thân nhất của tôi cũng gốc Huế là: “đúng là thứ đi tù cha rồi còn gì.” Chúng tôi đều cười đồng ý.

Giới thiệu Tủ sách Tiếng Quê Hương và điểm sách Tiếng Chim Báo Bão của Tiêu Dao Bảo Cự

Phần TDBC chỉ bị quản chế theo diện quản lý hành chánh. Ông đã liệt kê hàng vài chục trang giấy tờ hành chánh với Nghị Định thủ tướng, Quyết định, biên bản liên quan đến việc quản lý này đã được trình bày trong sách. Tôi xin phép được tóm gọn những biên bản quy định như sau:

‒ Vẫn được ở nhà số 35/1 Nguyễn Đình Chiểu.
‒ Đời sống gia đình, vợ con vẫn sinh hoạt bình thường.
‒ Vẫn được đi lại trong trong địa bàn phường 9.
‒ Ở nhà có cơm ăn cơm, có gì ăn nấy. Có tivi thì coi, có sách báo thì đọc, có điện thoại thì cứ liên lạc, có bạn bè thì cứ tiếp, thích nghe BBC thì cứ nghe.
‒ Dĩ nhiên, phải trình diện theo quy định, đi ra khỏi quận huyện, phải có giấy phép.

 
 

Dù việc quản chế xem ra không mấy ngặt nghèo và dù có thể nào đi nữa thì ở góc nhìn nhân loại, tôi cũng cảm thấy phải chia xẻ về những hạn chế và khó khăn vật chất, tinh thần gây ra cho tác giả. Có thể có những trắng đêm, lo nghì, tính toán để đối đầu. Có những mất mát về vật chất không tránh khỏi, như không còn được đi làm, phải ở nhà trồng rau, mà lợi tức không là bao. Hai cậu con trai vì bố mà long đong trong việc ăn học. Và nhất là người vợ tên Yến phải biểu, phải nhẫn nhục, tần tảo gánh trên đôi vai oằn đi vì những hệ lụy do việc bị quảm chế này. Chưa kể dư luận chung quanh, vòng bạn bè có thể nới lỏng hoặc đứt giây liên lạc Và người đọc có cảm tưởng rằng vợ ông, đồng chia sẻ những quan điểm, những điều xác tín của người đàn ông trong việc viết và sáng tác và vì thế sẵn sàng chia sẻ những khó khăn do hoàn cảnh cay nghiệt đó.

Và nếu thế dù đời sống trong những năm tháng bị trù dập, vất vả và lo âu. Nhưng ở nơi ấy, trong căn nhỏ số 35/1 Nguyễn Đình Chiểu, phường 9, TP Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng vẫn ánh lên con lửa tin yêu và hy vọng. Phải chăng dù mất trơ trụi tiền bạc, danh vọng, cái còn lại trong phần nửa đời sau của tác giả là những thứ hiếm hoi còn sót lại?

Yến vẫn là khung trời xanh trên thung lũng và gối ngủ yên cho TDBC.

Ấy là chưa kể những bạn bè quen biết và nhất là không quen biết ở Hải ngoại đã chìa tay ra như Lê Đình Điểu, tờ người Việt đã hỗ trợ để in cuốn truyện đầu tay(1), Nửa đời nhìn lại của tác giả cùng với sự tiếp tay của Đặng Tiến, Nguyễn Thị Hoàng Bắc.

Dưới đây, tôi xin được so sánh một trường hợp bắt giam một trí thức miền Nam sau 1975, một trong số hơn 200 văn nghệ sĩ bị bắt từng đợt để thấy sự khác biệt như thế nào? Xin trưng dẫn rất tóm tắt một giấy tờ bắt rồi biệt giam trong 6 tháng trời xem nỗi lo sợ và khổ cực như thế nào.

Cộng Hòa, Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Độc Lập – Tự Do- Hạnh Phúc

Bộ Nội vụ

Sở Công An Tp. HCM Biên bản bắt, khám xét

Tên tuổi, Sinh quán, Ngề nghiệp, Thi hành lệnh số…

Can tội (7) Phản Cách mạng

Sau khi kiểm tra căn cước, xác định dúng người này là.. có tên trong lệnh bắt và ở tại địa điểm trên. Tôi đã tuyên bố lệnh bắt bị can.

Sau khi tuyên bố lệnh bắt thì thái độ bị can: Bình thường

Thái độ thân nhân: bình thường

Sau khi bắt bị can, chúng tôi khám xét nhà ở thì thấy có những vật kê dưới, nghi có liên quan đến vụ án (19)

‒ Một giấy chứng nhận của trường đại học.
‒ Một số sách báo tài liệu, cắt báo và chép tay
‒ Một máy đánh chữ
‒ Một giấy chứng nhận được chính quyền cho phép giữ sách vở, tài liệu, báo chí cũ.

Tôi đã tuyên bố tạm giữ những vật kể trên, đưa về cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu giải quyêt.

Việc bắt giữ và khám xét đã kết thúc vào hồi 18 giờ 30, ngày 14-6-1978.
Biên bản này đã đọc cho người nhà và bị can..

Cán bộ phụ trách khám xét: Nguyễn Ngọc Biên

Đại diện chính quyền: Nguyễn Văn Thành

Người ghi biên bản:Nguyễn Văn Thành

Sau 6 tháng tù biệt giam để chịu sự tra hỏi và viết không biết bao nhiêu lần bản tự khai thì được Trưởng phòng chấp pháp là ông Ngô Văn Dần ký giấy: tạm tha.

Bắt người vô tội biệt giam 6 tháng, rồi tạm tha. Thử hỏi đó là thứ pháp luật gì?

 
 

Chúng ta nghĩ sao về bản án phản quốc dành cho một trí thức miền Nam “phạm tội vô tội”? Kể từ đó đến nay, đã có bao nhiêu trí thức miền nam, nhà văn bị bắt trong tù vào khoảng hơn 200 người đã viết nổi một nhật ký trong tù? Người nào được thả và được đi ra mướcv ngoài đều có lời dặn dò riêng: Ông ra ngoài xin nhớ đừng viết điều gì nói xấu chế độ. Đừng quên những lời khai của ông, chúng tôi còn giữ đây. Đó là cách khóa miệng tất cả những người đã bị cộng sản bắt cầm tù như Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, Doãn Quốc Sĩ, Đoàn Viết Hoạt, Duyên Anh, Trần Dạ Từ, Nhã Ca…

Họ vẫn bị trói tay đấy chứ, dù ở xa.

Về nội dung cuốn sách Tiếng Chim Báo Bão.

Tôi rất tiếc chưa được đọc cuốn truyện đầu tay của tác giả TDBC, Nửa Đời Nhìn Lại, Văn Nghệ, 1977.

Tuy nhiên bằng hai cuốn sách tôi có trong tay, tôi vẫn bắt được những điểm chủ yếu, cái chung về nội dung giữa hai cuốn sách.

Niềm tự hào của tác giả

Có thể đây là phần mà tác giả nâng niu nhất vì nó bàng bạc trong cả hai cuốn sách. Một tuổi trẻ tự coi mình và đồng bạn có ý thức, có lý tưởng, sống đẹp, có chiến đấu trong cái hào hùng của tuổi trẻ. Tác giả đã phủ định những “huyền thoại” về miền Nam, dân chủ, tự do, no ấm đồng thời chống lại cuộc chiến tranh bạo tàn và phi nghĩa để rồi chọn đứng sang phía bên kia. Đứng xong mới thấy hụt hẫng và không khỏi thất vọng nên mới có Nửa Đời nhìn lại. Nhưng trong cái nạn triều cường bất nhân, gian dối mà tác giả là nhân chứng dấy lên đôi lời phản kháng và rồi phải chịu đựng nhừng hệ lụy không tránh khỏi sự trù dập của Đảng.

Niềm tự hào tắt dần, chỉ còn lại những cay đắng

Thật ra cái niềm tự hào ấy, cái trăn trở thao thức tìm cho VN một lối ra đã có rất nhiều người đi trước tác giả đã viết, đã đăng hàng ngàn bài báo, có tiếng vang và ảnh hưởng sâu rộng trong giới thanh niên, trí thức thành thị trong đó có thể có nhiều tác giả đa dạng với nhiều quan điểm, thái độ, nhiều mức độ dấn thân, nhiều mầu sắc.

Họ là những tên tuổi như Châu Tâm Luân, Bùi Khải Nguyên, Nguyễn Văn Trung, Lý Chánh Trung, Cao Thanh Tùng, Diễm Châu, Nguyễn Khắc Ngữ, Nguyễn Tường Văn, Thuận Giao, Trần Tuấn Nhậm, Thế Uyên, Thế Nguyên, Nguyên Sa, Nguyễn Đăng Thường, Hoàng Ngọc Biên, Phạm Ngọc Lư, Mai Trung Tĩnh, Thảo Trường, Trương Đình Hòe, Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín, Trương Bá Cần, Nguyễn Ngọc, v.v…

Họ đưa ra những vấn nạn cho mọi người cùng suy nghĩ, xem phải làm gì như:

“Sau khi đã tranh đấu, sau khi đã cách mạng, đã biểu tình, đã đảo chánh, đã lật đổ, đã hành quân, đã thuyết pháp, đã câu nguyện, đã hội thảo, đã thụt két, đã hành lạc, đã đập phá, đã đau khổ, đã hy sinh, đã đến lúc phải làm một cái gì?”

Nguyễn Ngọc Lan hung hăng nhất với bài bút chiến: Những kẻ sợ hòa bình và 50 bài báo chửi VNCH, Mỹ in thành tập trong: Cho cây rừng còn xanh lá.

Tất cả những người trên sau đó đã mỏi mệt. Nhiều người rút lui, nhiều người đứng ngoài, nhiều người đứng giữa hai lằn đạn, nhiều người nhập cuộc nay trở thành kẻ phản kháng, trở thành tù nhân của lương tâm.

Họ được gì, mất gì?

Phần tác giả TDBC tôi thấy ông lúng túng trong những luận điểm, lúng túng trong chọn lựa dứt khoát. Suy luận vì thế mang tính nhị nguyên (dualité), bênh có, chê trách có như nửa nạc nửa mỡ. Luận chứng phê phán ngập ngừng nửa vời đưa tới một kết luận lưỡng tính hay mơ hồ (ambiguité).

Phần người đọc rơi vào tình trạng confused, không biết phải nghĩ thế nào. Tôi đã hỏi một người có thẩm quyền nghĩ thế nào sau khi đọc xong cuốn sách. Câu trả đúng như tôi nghĩ: confused. Người phía bên này cũng thấy có mình trong đó và dơ tay đón nhận nâng đỡ, phía bên kia cũng thấy không đến nỗi nào, cộng trừ ra cũng còn có lời cho Đảng. Đôi khi lại có lợi cho chính quyền trong lúc này so với những người trẻ bây giờ bày tỏ sự chống đối một cách bất khoan nhượng, trực diện với những vấn đề cấp bách sinh tử với nhà nước cộng sản.

Phía hải ngoại, ông trở thành tiếng nói tiêu biểu của những người bất đồng chính kiến đáng tôn trọng, đáng được nâng đỡ.

Phản biện, bất đồng chính kiến nay trở thành thời thượng. Nó chẳng khác gì mấy những thành phần trí thức trước 1975 tự đặt mình trong tư thế thành phần thứ ba đối lập với chính quyền VNCH.

Nó có xu hướng trở thành thương hiệu cho một xu thế chính trị trước một xã hội có nguy cơ sụp đổ.

Có tình trạng đó vì tác giả không dứt khoát, nhuốm tư tưởng tiểu tư sản thành thị quen với những suy nghĩ tự do, dân chủ. Nhưng mặt khác không dám đụng thẳng tới những vấn đề cụ thể sai lầm của đảng cộng sản. Không dám vì tin rằng Đảng vẫn có thể sửa đổi nên hợp tác dưới những ngôn ngữ “bình phong” như Thư cho Thủ Tướng Võ Văn Kiệt, Thư gửi cho Quốc Hội CHXHCNVN.

Thư ngỏ gửi những người cộng sản, nói gián tiếp, nói xa nói gần về bài học Nhân Văn, v.v…

Tôi xin nêu ra đây một trường hợp cụ thể về việc: góp ý với Đảng để làm gương cho những loại người ngây thơ tin vào đảng. Năm 1989, có xu hướng trong đảng phê bình việc giảng dạy chủ thuyết Marxít-Lêninít. Trần Văn Giàu cũng đã chính thức lên tiếng. Đã nói hết cả. Lý Chánh Trung tưởng thời cơ thuận tiện lên tiếng và yêu cầu cho vào chương trình giáo dục triết học Tây Phương. Và ông đã nổi danh với câu nói:

“Một môn học mà thầy không muốn dạy, trò không muốn học.”

Ngay sau đó, Lê Đức Anh và Nguyễn Văn Linh gọi Lý Cháng Trung “sát xà bông”. Từ đó, họ Lý từ đó im tiếng. Mẹ kiếp, đảng của chúng tôi, chúng tôi biết chứ. Nó thối nát. Đau sót lắm chứ. Nhưng chúng tôi mới nói được. Đảng có sai, đảng cần sửa đổi gì thì anh có tư cách gì mà đòi lên tiếng?

Cũng vậy, nhiều tổ chức trong Đảng chỉ là “cây kiểng” như Mặt trận Tổ Quốc. Cây kiểng có vai trò cây kiểng, anh lên tiếng đòi dẹp là bỏ mẹ.

Đối với cái Đảng độc tài toàn trị ngay cả khi họ yêu cầu góp ý với đảng. Đợi cho góp xong, họ thu ý kiến lại, và cho vào sọt rác.

Cho nên, tốt nhất theo ông Emmanuel d’Astier , một người thiên tả trong một cuốn sách viết về Stalin cho rằng chẳng có cách nào khác đối với một đảng cộng sản. Cách tốt nhất là, “Il faut laiciser le communisme.” Cần phải thế tục hóa đảng cộng sản.

Đảng cộng sản nó như một tôn giáo mà các lãnh tụ như các ông giám mục, giáo hoàng ai cũng phải tuyệt đối tuân phục. Muốn thay đổi thì phải tục hóa giáo hội tức là để cho giáo dân làm chủ. Cũng vậy, phải tống cổ mấy tay Trung ương đảng, kéo cổ bọn họ xuống, bầu cử để dân chúng lên lãnh đạo.

Vì thế tất cả những thư của TDBC ai đọc? Đọc xong đã có phản ứng gì và quyết định gì? Đã có được một lần có thư phản hồi?

Hay đều là những loại thư gửi vào không? (Tựa đề một cuốn sách của Mai Nguyên)

Mặt khác đề cao một vài người lên tiếng phản biện tiêu biểu như Hà Sĩ Phu với hai, ba bài: Biểu tượng cho tự do và trí tuệ…

Sự nhận thức nhị nguyên dễ đưa đến kết quả lưỡng tính, mơ hồ, mặt nào cũng có thể được và đó là con đường dẫn đưa tới ngụy tín (mauvaise foi). Ngụy tín với chính mình cho yên lương tâm và huyễn hoặc người khác.

Sự ngụy tín ấy biểu lộ qua các bài thiếu căn bản suy luận và che đậy như các bài: Hòa Hợp Hòa Giải, Suy nghĩ sau Vesak 2008 ở VN, Giao Lưu, Hội nhập Văn Học VN trong và ngoài nước, Hội chứng chính nghĩa và bi kịch chúng ta.

 
 

‒ Hòa Hợp Hòa giải cái gì, với ai ? Đã hơn 30 năm nay, sao bây giờ mới nói tới hòa giải? Ngay từ ngày 17/02/1976, người ta đã ra thông cáo không được dùng những chữ xách mé như ngụy quân ngụy quyền mà phải được gọi là: “Người trong quân đội và chính quyền cũ.” Đã có ai nghe một lần họ gọi tử tế như thế chưa? Rồi bọn phản động nay vẫn thấy sài thả cửa như bọn phản động nước ngoài. Một cái bia tưởng niệm người chết trên biển cũng phá bỏ thì hòa giải cái gì? Đã có một cơ quan nhà nước nào nghĩ tới số phận các thương phế bình VNCH trên 30 năm nay ? Nghĩa trang Biên Hòa ra sao? Nạn nhân Tết Mậu Thân có ai làm một Trai đàn hay một lời xin lỗi dân Huế không?

‒ Ai cũng biết GHPG nhà nước bây giờ bản chất nó là gì Và cái gọi là Vesak 2008 đem lại lợi cho ai? Và đây là cách lập luận ngụy tín của tác giả: “Phật tử tới chùa vì tin vào giáo lý Đức Phật, trước chùa dù có treo bảng Giáo Hội Phật giáo VN hay Giáo Hội Phật giáo VN thống nhất cũng không thành vấn đề. Chẳng lẽ trước khi vào chùa phải xem bảng hiệu? Chẳng lẽ Phật tử vào chùa có bảng GHPGVN đều thân chính quyền? Và vào chùa có bảng GHPGVNTN đều chống chính quyền?”

‒ Về giao lưu, Hội Nhập Văn Học chỉ nói cho sướng miệng nào cụ thể làm được gì ? Chỉ mới tuần vừa qua, có một Hội nghị Quốc tế về dịch thuật diễn ra tại Hà Nội với hơn 100 Hội Thảo viên. Một người có tham dự hội thảo đưa ra nhận xét: Họ không thèm lý gì đến Văn Học miền Nam trước 1975 cũng như các nhà văn trước 1975…

 
 

‒ Trong bài viết “Hội Chứng Chính Nghĩa” và “Bi kịch chúng ta” TDBC muốn đưa ra trường hợp Hoàng Phủ Ngọc Tường (HPNT) nhân bài viết của Ngô Minh và gián tiếp nghĩ rằng trường hợp HPNT là một “Hội chứng chính nghĩa” và rồi bị dư luân hiểu lầm đổ oan, biến thành “Bi kịch Hoàng Phủ Ngọc Tường”, HPNT trở thành nạn nhân. Rồi từ bi kịch HPNT đánh đổ đồng là Bi kịch của toàn thể người Việt Nam sau 30 ngưng tiếng súng, nhưng vẫn chưa thực sự kết thúc. TDBC ngoài cái bệnh ngụy tín còn mắc thêm một cái bệnh Chủ nghĩa Chauvin địa phương, đặc biệt là Huế theo tiêu chí Huế bênh Huế và đồng thời Huế giết Huế. Mặc dầu có rất nhiều bài viết từ hai phía bênh và chống HPNT, nhất là trên Talawas.

Nay trong một bài viết sắp tới, tôi sẽ chỉ dựa vào DVD, Viet Nam, A Televsion History và tài liệu phỏng vấn trực tiếp của nhóm Stanley Karnov về HPNT năm 1983 do chính anh ta nói cũng như bài phỏng vấn của Thụy Khuê với HPNT 15 năm sau. Tôi hy vọng sau khi so sánh hai cuộc phỏng vấn này xong thì những tranh luận về HPNT chắc sẽ không cần thiết nữa.

Và hy vọng sau đó TDBC không có lý do thuận lý và lô gích nào để đổ thừa cái Bi kịch HPNT lên đầu người Việt Hải ngoại. Bi kịch HPNT là không có; tự anh ta mà nó có; vì anh ta đã nói dối trá và cũng chỉ tự HPNT một lần dám nói đúng sự thật thì bi kịch ấy sẽ không còn nữa. Và không có lý do gì Bi kịch HPNT là trở thành bi kịch của người Việt sau 1975.

Bài điểm sách của tôi tạm ngưng ở đây và bạn đọc có thể tự mình kiếm mua cuốn sách để thực chứng hay phản biện những luận cứ nêu trên. Ít ra cuốn sách có giá trị của một thứ sách thuộc loại controversy nên đọc.

https://sites.google.com/site/gsnguyenvanluc/bai-viet-2014/phan-3

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s