QLVNCH: (Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân): Thành Kính Vinh Danh Những Anh Hùng Bình Thuận – Mường Giang


Thành Kính Vinh Danh Những Anh Hùng Bình Thuận – Mường Giang
May 16, 2016 | by Ban Tu Thư |
Inline image 1

THÀNH KINH VINH DANH NHỮNG ANH HÙNG BÌNH THUẬN ÐÃ TỬ TRẬN VÀ CHẾT TRONG NGỤC TÙ CS SAU THÁNG 5-1975

Trong cuộc chiến sinh tử của người Việt Quốc Gia chống lại tập đoàn Cộng Sản bán nước – suốt 30 năm từ 1945 tới ngày 30-4-1975 – để gìn giữ quê hương, có thể nói được là không một miền đất nào tại VNCH có thể so sánh nổi với Bình Thuận về ‘đống xương vô định đã cao hơn đầu‘ của đồng bào vô tội và Quân, Cán, Chính.. qua một cuộc chiến tàn khốc bi thảm.

Người lính Bình Thuận các cấp từ dân mà tới, họ là những người con thân yêu của bản địa, xuất thân trong đủ mọi thành phần xã hội nhưng mang chung môt lý tưởng duy nhất ‘chống lại đế quốc Cộng Sản Nga-Tàu do VC dẫn giặc về dầy xéo mồ mã tổ tiên và chính quê hương mình‘. Hai chục năm can trường chiến đấu, bốn lần đánh đuổi giặc ra khỏi phố phường Phan Thiết vào Tết Mậu Thân 1968, giữ vẹn toàn lãnh thổ Bình Thuận trong đêm thi hành hiệp định ngưng bắn 27-1-1973, và sau rốt là hiên ngang chiến đấu cho tới giờ phút cuối cùng khi không còn có thể chiến đấu được nữa, thì đoàn quân của Bình Thuận mới đành rút về Nam bằng tàu thuyền trong trật tự, để lại sát cánh cùng đồng đội tiếp tục chiến đấu tại Phước Tuy vào những ngày cuối tháng Tư 1975.

Cái tức tưởi và đau đớn nhất của QLVNCH nói chung và quân dân Bình Thuận nóí tiêng: Là Họ đã không đánh được trận đánh cuối cùng với giặc Bắc mà đã phải buông súng qua sự đầu hàng nhục nhã của cá nhân tổng thống hai ngày Dương Văn Minh và bè nhóm. Ðau hơn nữa là họ đã không chết tại những chiến trường kinh khiếp nhất, vào Tết Mậu Thân 1968, tại Kampuchia 1970, Hạ Lào 1971, Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972 và những ngày cuối tháng 4-1975.. mà bị giặc phỉnh gạt lọt vào rọ, để chịu chết tức tưởi oan khiên trong tù ngục vì sự trả thù đê tiện và dã man của rợ Hồ.

Sau khi cưỡng chiếm được lảnh thổ VNCH, tại Quân Khu II CSBV lập nhiều trại tù để giam giữ quân nhân và công chức miền Nam. Tại các tỉnh Bắc Cao Nguyên Trung Phần, có Tổng Trại 4 và 5. Tổng trại 6 ở Phú-Khánh (Khánh Hòa & Phú Yên), Tổng Trại 8 tại Thuận Hải (Bình Thuan – Binh Tuy và Ninh Thuận) gồm trại tù Cà Tót và Sông Mao. Ðầu tháng 6-1975, VC tập trung các sĩ quan trình diện tại Phan Thiết, chở lên trại Cà Tót. Nhưng trước khi anh em tới, ở đây cũng đã giam giữ hàng ngàn quân cán cảnh VNCH, đa số thuộc các Tiểu Khu Quảng Ðức, Tuyên Ðức, Lâm Ðồng chạy về vào đầu tháng 4-1975. Ngoài ra còn có nhiều quân nhân, cán bộ của các quận Nam Hàm Thuận và Thiện Giáo, cũng bị giam giữ tại đây.

Theo lời kể của các nhân chứng hiện còn sống sót thì người sĩ quan Bình Thuận đầu tiên gục ngã tại trại tù VC (trại Sông Cái) là Ðại Úy Long, sĩ quan phụ tá cho Ðại Úy Ðặng Vũ Ðàng (trưởng Phòng 2/TK).Vợ Anh Long đã tới được Hoa Kỳ qua diện HO9. Vì Cà Tót nước độc không thể tả, nên dù là người Thượng địa phương như Koho, Roglai cũng không tránh khỏi bệnh. Ðó là nguyên nhân khiến cho hầu hết tù nhân tới đây đều bị sốt rét rừng, cấp tính, tiêu chảy vì đêm ngủ trần không mùng mền, trong lúc đó muỗi bay đặc sệt khắp trời đêm lẫn ngày. Sự hành hạ trả thù của VC đối với mọi người, đâu có khác gì các tội nhân Do Thái bị Hitler đầy đọa trong các lò hơi ngạt thời Ðệ Nhị Thế Chiến tại Âu Châu hay ở các trại giam trừng giới của Nga-Tàu tại Tây Bá Lợi Á và Thanh Hải…

Ðể gạt anh em vào rọ, qua cái gọi là ‘đi học tập cải tạo’, VC ra lệnh mọi người chỉ mang theo 21 ký gạo trắng, lương khô, thuốc men, mùng mền.. Nhưng khi tới nơi vào lúc 10 giờ tối, toán đầu tiên gồm 105 người sau khi bị chưởi bới, thì bắt nằm ngủ ngay dưới đất chờ tập họp, trong khi láng trại tại Cà Tót bốn bề không có vách nên gió núi thổi vào lạnh buốt xương. Sáng hôm sau, chúng đã cướp toàn bộ đồ đạc của anh em mang theo kể cả giầy dép, chỉ chừa lại một bộ đồ mỏng manh đang mặc. Sau đó phát lại cho mọi người thứ gạo hư mốc, mọt sạn, đã chôn giấu dưới hầm sâu trong rừng núi lâu năm mới bốc lên. Tóm lại VC không có chế độ ăn uống được quy định cho các tù binh. Ðã thế chúng còn sử dụng bạo lực và thủ đoạn khủng bố tinh thần mọi người, nên hầu hết anh em đều mang bệnh. Vì đói khát lại phải lao động cực nhọc, nên tù nhân phải kiếm măng sống, bắp đá, nấm dại và lá rừng để ăn thêm. Ðêm ngủ không mùng, quần áo chỉ có một bộ không thay đổi nên rất dơ dáy, sinh nhiều chấy rận, gây bệnh sốt rét, buồn ngủ, thương hàn, ngày nào cũng có người chết.

Tại Cà Tót, sĩ quan từ thiếu úy tới đại úy ở hơn 100 ngày thì cùng lúc chuyển trại về Sông Mao. Riêng sĩ quan cấp tá (Thiếu Tá Bình, Thổ Thêm..) bị đầy ra Bắc Việt sau khi đã ở đây được 2 tháng. Ngày rời trại, Thiếu Tá Trịnh Văn Bình (tiểu đoàn trưởng TÐ274 ÐP/BT) chỉ còn da bọc lấy xương nên ông không chịu nổi sự hành hạ của VC và đã gục chết thảm khốc tại trại tù Vĩnh Phú (Bắc Việt) vào năm 1977. Vợ anh Bình là bà Trương Ðức Nghi, đã nhiều lần lặn lội ra tận miền thượng du để tìm mộ chồng nhưng mộ phần các tù nhân hầu hết bị mưa gíó bảo tố san bằng nên không còn để lại một dấu vết gì. Riêng cấp trung úy đông nhất nên cũng có nhiều người chết như Trung Úy Nguyễn Văn Nhị (em ruột Nghị Viên Nguyễn Văn Bông), phân chi khu trưởng Phước Thiện Xuân (Hải Long), Trung Úy Nguyễn Thành Giác (trưởng Ban 5 chi khu Thiện Giáo), Trung Úy Nguyễn Văn Biên, Thiếu Úy PB Nguyễn Văn Lợi (Chợ Lầu). Tàn độc nhất là VC bắt mọi người đi chân không vào tận rừng sâu để đốn gổ, chật tre, mây.. vác về láng xa hàng chục cây số với chỉ tiêu bắt buộc. Thiếu Úy Nguyễn Văn Bông là người duy nhất tại trại Cà Tót không chết, sau khi được chuyển tới trạm xá hơn một tháng, cả thân mình đều lở loét, mắt khô lại như mắt cá chết.

Trại tù binh Sông Mao còn được gọi là Tổng Trại 8 , do Trung Ðoàn 482 của VC Bình Thuận quản lý, thuộc Quân Khu 6 với chính trị viên là Trung Tá Loan, được đặt trong doanh trại cũ của Trung Ðoàn 44/SÐ23BB (VNCH). Trại chia thành các Khu A (cấp Ðại Úy), B (Trung Úy) và C (Thiếu Úy). Riêng cấp Chuẩn Úy được về sau một thời gian ở tù.

Trại A có 4 nhà gồm Nhà 1 (dành cấp Thiếu Tá không đi Bắc), Nhà 2 (Bình Thuận), Nhà 3 (Bình Tuy) và Nhà 4 danh cho các tỉnh Ninh Thuận, Lâm Ðồng, Tuyên Ðức. Tới giai đoạn Công An thay Bộ Ðội quản lý các trại tù binh, nhiều sĩ quan Bình Thuận bị đầy ra trại tù trừng giới A.30 thuộc xã Thạch Thành trên Liên Tỉnh Lộ 7 (Phú Bổn-Phú Yên). Có hai toán tổ chức vượt ngục: Toán 1 Phan Rang, 2 người bị bắn chết, 2 bị thương nặng. Toán 2 Phan Thiết có Ðại Úy Trường Ðức Tuấn bị bắt lại, VC đánh gảy xương bể đầu mang thương tích trầm trọng, Ðại Úy Dậu cũng bị thương nặng. Ngoài ra còn có Ðại Úy Trần Ðức Thành bị tù nhiều năm tại trại trừng giới Tuy Hòa, vì sau khi mãn tù, anh lại gia nhập Phục Quốc Quân chống lại VC.

Cũng tại trại trừng giới A-30, Ðại Úy Nguyễn Văn Thức, một sĩ quan ưu tú đã giữ nhiều chức vụ quan trọng trong ngành an ninh tình báo như Trunng Ðôi Trưởng Trung Ðội Tỉnh Báo Tỉnh, Trưởng phòng 2/TK và Chỉ Huy Trưởng Phượng Hoàng Bình Thuận.. đã bị hành hạ dã man, sÚyt đem ra bắn, cũng chỉ vì sự tố cáo của một đồng đội muốn lập công về sớm. Tên này hiện đang ở Mỹ ! Phó Tỉnh Trưởng Phạm Ngọc Cửu sau nhiều năm bị tù đày trên đất Bắc, khi về Nam lại vào tù tại Hàm Tân và Phú Yên trước khi đưọc phóng thích.

Riêng những người không đi Phú Yên, Sông Cái.. cũng được chuyển khỏi Sông Mao, cấp Ðại Úy đưa về Giếng Triềng (VC gọi là Hàm Trí). Từ trung úy trở xuống về Công Trường Bông Vải Lương Sơn làm lao động. Do đó đã có nhiều anh em bỏ trốn theo Phục Quốc Quân nhưng đa số đều lọt bẩy địch, bị bắn chết hay mất tích như Ðại Úy Then Biết, Nguyễn Văn Thư (Phan Rí Cửa) đợt đầu, Ðại Úy Nguyễn Văn Ba, Ðặng Tuyên, K’Tê, Thông Ngộ, Ðặng Phiên..( đợt 2) . May mắn nhất là đợt ba trốn khỏi, toán này gồm 4 người, trong số này có Ðại Úy Trần hữu Thân (ĐĐT/TĐ274/ĐPBT), hiện ở Mỹ và Ðại Úy Nguyễn Văn Ngư (trốn chung với Ðại Úy Ba)..

Trong số tù binh tại Cà Tót có hai nhân vật đặc biệt: Thiếu Tá Thổ Thêm và Trung Úy Sét. Ai cũng biết, VC đã phổ biến bản thông cáo chung gồm 10 điểm, trong đó nhấn mạnh tới việc ‘ những ai đã giải ngủ trước ngày 30-4-1975 được hai năm hay bị thương tật ‘, thì chỉ trình diện học tập tại địa phương mà thôi. Nhưng VC đã làm ngược với chính sách vừa ban hành. Bởi vậy đã có không biết bao nhiêu vụ tắm máu trả thù các quân nhân và viên chức cũ của miền Nam tại Bình Thuận, sau khi chúng cưởng đoạt được chính quyền.

Ngay trong ngày 17-4-1975 Bắc Bình Thuận mất, Thượng Sĩ Thìn (Cảnh Sát Đặc Biệt) bị VC địa phương bắt liền và hôm sau chúng trói ông, đem vào động Thái An (mật khu Lê) bỏ chết đói. Ðại Úy Lê Văn Trò, DDT /DD 206 Trinh Sát Tỉnh, bị dụ từ Sài Gòn về và bị hành quyết thảm khốc tại Tân Ðiền.

Thiếu Tá Thổ Thêm từng làm Ðại Ðội Trưởng/ ÐÐ888 ÐPQ sau đó Tiểu Ðoàn Trưởng/ TD230 ÐPQ.Bình Thuận. Ông đã cùng với đơn vị dẫm nát nhiều căn cứ của VC tại quận Thiện Giáo. Vì vậy ông được ân thưởng nhiều huy chương cao qÚy của QLVNCH, trong đó có hai Bảo quốc huân chương và nhiều lần vinh danh trước quân đội. VC thâm thù ông đến tận xương tủy nhưng vì ông là người Chàm nên chúng sợ đụng chạm, phải để yên chỉ đầy tới chốn rừng thiêng nước độc tận biên giới Bắc Việt, để chết dần mòn. Cũng nói thêm là Thiếu Tá Thêm đã bị bắt ngay khi Bắc Bình Thuật thất thủ vào ngày 17-4-1975 tại quê nhà ở xã Hậu Quách, phía sau quận đường Hòa Ða khoảng 3 km, sát đường rầy xe lửa đi Sông Mao. Ông bị giải về Phan Thiết và nhốt tại Lao Xá một tháng, trước khi đi Cà Tót và ra Bắc. Cuối cùng Thiếu Tá Thêm không chết trong tù như VC mong muốn.

Còn Trung Úy Sét, nguyên Ðại Ðội Trưởng ÐÐ 118 ÐP/BT (sau giao lại cho Ðại Úy Ngư), có quân số 80% là người Chàm. Ðơn vị này hoạt động tại hai quận Phan Lý Chàm và Hòa Ða. Cuối năm 1969 Ðại Ðội đụng nặng với VC tại Ga Châu Hanh, Trung Úy Sét bị thương nặng đui một mắt, cụt một chân và một tay. Tàn phế như vậy ma VC vẫn không tha thì làm sao mà hòa hợp hòa giải, nối vòng tay lớn dân tộc như chúng luôn tuyên truyền.

Xin được thắp một nén hương lòng với tất cả sự ngưởng kính và trân trọng của chúng tôi: Những Người Lính Già Bình Thuận, may mắn còn sống sót, thành kính VINH DANH tất cả những Nam Nữ Anh hùng của Miền Biển Mặn đã hy sinh trong cuộc chiến, tại sa trường cũng như khắp các trại tù man rợ của Cộng Sản VN sau ngày 1-5-1975.

VINH DANH NHỮNG ANH HÙNG BÌNH THUẬN VỊ QUỐC VONG THÂN:

– Trung Úy Trần Văn Thân: Học sinh Bạch Vân Bồ Ðề, sinh năm 1942 tại Phú Trinh Phan Thiết, phục vụ trong Binh Chủng Lực Lượng Ðặc Biệt, có đệ nhị đẳng Toikondo. Vào cuối năm 1974, hành quân tại An Khê tỉnh Bình Ðịnh, lúc đó Trần Văn Thân là Trưởng Toán 754 thuộc Ðoàn Công Tác 75. Trong lúc đụng địch, Thân không bị giặc bắt nhưng lúc bơi qua sông bị chết đuối mất xác. Cũng trong binh chủng này, ở Phan Thiết còn có Trung Úy Khuê, Thiếu Úy Hoàng, Chuẩn Úy Sanh, Ðại Úy Mau là SQ.Ðà Lạt và phục vụ trong Chiến Ðoàn 3, Sở Liên Lạc. Riêng Chuẩn Úy Nguyễn Văn Mỹ, Bình Hưng thì chết tại Ðà Nẳng năm 1974 vì nổ lưụ đạn.

– Trung Úy Lê Văn Khen, PBC 55-61, sinh Phú Trinh Phan Thiết, khóa 23 SQ.Ðà Lạt. Là Ðại Ðội Trưởng DD1/TD1/TrD43/SD18BB, tử trận tại Ðịnh Quán, Long Khánh tháng 4-1969.

– Trung Úy Nguyễn Văn Trung, PBC 54-58, khóa 20 SQ.Ðà Lạt, DDT/TD2/43/SD18BB chết Long Khánh 1966.

– Ðặng Hữu Tâm, sĩ quan trợ y của Trung Ðoàn 43/SD18BB, khóa 22 SQ.TB.Thủ Ðức, chết Ðịnh Quán vì bị phục kích.

– Dũng Chinh, nhạc sĩ tên thật là Nguyễn Văn Chính, học sinh Bồ Ðề. Sĩ Quan DDT thuộc TD3/45/SD23BB chết tại Phan Rang vì bị VC phục kích.

– Ðại Úy Nguyễn Trọng Xuân binh chủng Thiết Giáp, bị tù nhiều năm nên khi tới Mỹ qua diện HO bệnh cũ tái phát và qua đời tại San Diego.

– Các vị tỉnh trưởng Bình Thuận như Lưu Bá Châm, Ðại Tá Nguyễn Khắc Tuân, cũng như Trung Tá Vương Ðăng Phong, tiểu khu phó Tiễu Khu Bình Thuận đã chết trong tù Cộng Sản tại biên giới Hoa Việt.

– Ðại Úy Vũ Mạnh Hùng, học sinh Tiến Ðức, sinh quán Ðức Thắng, khóa 13 Thủ Ðức, là DDT của Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến, tử trận tại Cầu Bình Lợi, năm 1968. Nhạc Sĩ Trần Thiện Thanh đã viết ca khúc Rừng Lá Thấp để nhớ bạn hiền.

– Ðại Úy Lê Văn Quế, PBC 55-61, khóa 19 SQ.Ðà Lạt, là DDT của Tiểu Đoàn 44 Biệt Ðộng Quân, thuộc Liên Đoàn 44 Biệt Động Quân lừng danh miền Tây. Quế tử trận tháng 4-1965. Cùng khóa có Trung Úy Nguyễn Văn Thu, Sĩ Quan QTV của SD23BB, tử trận tại Ban Mê Thuột năm 1968. Ðại Úy Hoàng Xuân Liêu, SD23BB về phép PT bị pháo kích chết.

– Thiếu Úy Phạm Nguyên An, SD3BB, tử trận năm 1973.

– Ðại Úy Trần Thanh Bang,PBC 55-61, SD1 BB chết tại Huế.

– Trung Úy Nguyễn Văn Bảy, DDT/TD202/ÐP/BT chết tại Cây Táo

– Trung Úy Ðoàn Hữu Bính, PBC 55-61, TK/BT chết tại Cà Tót.

– Thiếu Úy Lê Văn Bé, PBC 62-69, SQ/KQ tử trận.

– Phó Quận Trưởng Tuy Phong, Lâm Quang Chân, PBC 62-69 chết trong tù VC.

– Thiếu Úy Phạm Văn Cung, PBC 62-69, DPQ/BT tử trận tại Thiện Khánh năm 1972. – Chuẩn Úy Ngô văn Chín, PBC 62-69, tử trận

– Thiếu Úy Huỳnh Văn Ðược, SD7BB, tử trận Gò Công.

– Thiếu Úy Ðinh Hoàng Ðiểu, PBC 68-75, SQKQ, chết trong tù VC tại Huy Khiêm.

– Ðinh văn E., PBC 62-69, SQ/HQ mất tích năm 1975.

– Trung Úy Nguyễn Bá Hoa, PBC 63-70, SQ/Quân Cụ, tử trận tại Xuân Lộc năm 1973.

– Trần Hùng, PBC 55-62, SQ/SD22BB, tử trận Kon Tum.

– Nguyễn Văn Hồng, tử trận tại Ban Mê Thuột.

– Hải Quân Trung Úy Trần Thiện Khải, PBC 63-70, tử trận tại Hạ Lào sau năm 1975.

– Nguyễn Thành Lai, giáo viên, chết vì công vụ tại Thiện Nghiệp năm 1975.

– Trung Úy Dương Xuân Lang, PBC 62-69, SD18BB, tử trận Bình Long năm 1972.

– Trung Úy Nguyễn Văn Ly, PBC 60-67, tử trận tại Long An.

– Chuẩn Úy Ðổ Kim Lâm, PBC 62-69, SD18BB, tử trận Bình Long.

-Cao Minh, Học Sinh Bồ Ðề, BDQ, tử trận.

– Nguyễn văn Nghĩa, Biệt kích, tử trận

– Nguyễn Ðại ở Ðức Nghĩa, học sinh Bồ Ðề, tử trận

– Nguyễn Nghĩa, Bồ Ðề, tử trận.

– Trần văn Soái, Ðức Thắng, BDQ, tử trận.

– Thiếu Úy Nguyễn văn Nhị, em ruột Nghị viên Nguyễn Văn Bông, PCK trưởng Phước Thiện Xuân, Hải Long, chết trong tù Cà Tót.

– Trung Úy Lưu Văn Nở, HQ, chết trong tù Cà Tót.

– Thiếu Úy Nguyễn Bảo Nghĩa, PBC 62-69, SD22BB, tử trận KonTum năm 1972.

– Thiếu Úy Bùi Ổi, SD2BB, tử trận Quảng Ngãi,

– Biên Tập viên Cảnh Sat Võ Phương, PBC 55-61, chết trong tù V1CT năm 1977.

– Thiếu Úy Võ Minh Phước, PBC 62-69, chết trong tù VC.

– Thiếu Úy Nguyễn văn Phú, PBC 63-70, SQ/KQ, chết Kon Tum.

– Thiếu Úy Nguyễn Văn Sơn, PBC 69, BDQ tử trận

– Thiếu Úy Phạm Văn Sơn, PBC 69, tử trận.

– Trung Úy Trương Minh Sanh, SQ/KQ, PBC 69, tử trận.

-Thiếu Úy Phùng Quốc Thành,PBC 69, SQBB, tử trận Quảng Tri năm 1972.

– Dai Uy Nguyễn Văn Thuận, HQ, mất tích năm 1975.

-Trung Úy Pháo Binh Nguyễn Văn Thành, PBC 65, chết sau khi mãn tù VC.

– Thiếu Úy Trần Văn Bào, PBC 69, tử trận.

– Thiếu Úy Võ Hữu Tòng, PBC 67, SD 7 BB, tử trận tại Mỹ Tho.

– Ðại Úy Trần Ngọc Châu, PBC 55-61, chết sau khi mãn tù VC.

– Ðại Úy Nguyễn Văn Châu, PBC 55-61, chết trại tù Cà Tót.

– Ðinh văn Ngọc, PBC 55-62 tử trận

– Nguyễn Văn Còn, PBC 55-62, tử trận

– Le Hiệp, PBC 55-62, tử trận.

-Ðại Úy Khanh, Yếu khu trưởng Phú-Ðại (tử trận)

-Trung Úy Duy, ÐÐT tử trận tại Tân Nông.

– Chuẩn Úy Chung Quốc Mỹ, ÐÐP/ÐÐ445/ÐPQ/BT tử trận tại Hòa Ða.

– Chuẩn Úy Võ Ngọ (Ban 3/Chi khu Thiện Giáo) tử trận.

– Chuẩn Úy Cầu, ÐÐP/ÐÐ888/ÐPQ Thiện Giáo tử trận.

– Nhà thơ Ý Uyên tử trận tai Ðồn Nơra (Thiện Giáo)

– Trung Úy Lương Cảnh Hùng, PBC 63, SQ. Ðà Lạt, SD23BB, tử trận tại Ban Mê Thuột.

.. và nhiều chiến sĩ vô danh khác trong mọi binh chủng, công chức, dân thường đã gục ngã vì Tổ Quốc VN và quê hương Bình Thuận. Thành kính tri ân.

Phạm Ngọc Cửu, đốc sự hành chánh, từ lúc ra trường cho tới ngày mất nước, mà chức vụ cuối cùng là Phó Tỉnh Trưởng Bình Thuận. Sau tháng 4-1975, ông bị 13 năm tù từ Nam ra Bắc. Năm 1988 được sống sót trở về, đã gặp lại rất nhiều sĩ quan Tiểu Khu, dù đã trải qua những đau khổ, hận hờn sau cuộc đổi đời phải sống trong vùng giặc đóng nhưng tất cả đã vương vai đứng dậy, hiên ngang ngạo nghễ như lúc còn đang cầm quân giết giặc, vẫn tình chiến hữu, đồng đội không phai nhòa. Cảm động nhất là lời tâm sự của nhiều người ‘So với những nơi khác, chúng tôi thật nghèo khi làm việc với Ðại Tá Nghĩa.. nhưng nhờ vậy mà ngày nay, gặp lại lính tráng của mình, chúng tôi không phải cúi mặt, quay lưng trốn chạy‘.

Nhiều người đã ngả bệnh chết như Trung Úy Nguyễn Văn Biên (Ban 5 -T uy Phong), Trung Úy Ðặng Văn Hai (TÐ229), Trung Úy Bông (Xã Thượng Văn)… tất cả được chôn bằng 7 nệp tre bện với giây mối bò, quấn trong cái mền rách. Ðời lính thê thãm quá chừng nhưng mấy ai biết hết. Còn trung sĩ Cảnh Sát Ðặc Biệt tên Tư Búa ở Bình An, lên Cà Tót không bao lâu bị đem bắn. Sau ngày 1-5-1975, đã có không biết bao nhiêu chiến sĩ đã ngả gục trước sự trả thù hèn hạ của Việt Cộng Bình Thuận. Nhiều người đã chết tức tưởi oan khiên như Trung Sĩ Lương Cảnh Phú, Trung Ðội Trưởng Nghĩa Quân Huỳnh Nga (Hải Long), Huỳnh Ðức (Hảng Nước Ðá)… nhiều quá, không thể kể hết được.

– Ðốc Sự Phạm Ngọc Thành

Sinh quán Ninh Hòa-Khánh Hòa, ÐốcSự Hành Chánh, ra trường năm 1968: – Phó Quận Trưởng Hàm Thuận (1968-1970), Phó Quận Trưởng Hòa Ða (1970-4/1975). Sau tháng 5-1975, đi tù CS và chết lúc 34 tuổi, để lại người vợ trẻ tên Hồ Thị Ngọc Trai, cùng 2 con thơ. Ðáng khen là từ ấy cho tới nay, bà Phạm Ngọc Thành, sau khi được qua Mỹ năm 1985, vẫn thủ tiết nuôi con khôn lớn nên người. Ðây là một trong những tấm gương Hiền Phụ, Hiền Mẫu đáng lưu vào sử sách Bình Thuận, để cho con cháu mai sau đọc biết và làm gương xữ thế.

– Ðại Tá Hồ Ứng Phùng.

Là thân phụ của Bà quả phụ Phạm Ngọc Thành, nhũ danh Hồ Thị Ngọc Trai. Ông sinh quán tại Quảng Trị . Sau Tết Mậu Thân 1968, là Thiếu Tá Tiểu Khu Phó TK.Bình Thuận (Thời Ðại Tá Ðàng Thiện Ngôn làm tỉnh trưởng và Ðốc Sự Nguyễn Văn Tiên là phó tỉnh trưởng Hành Chánh). Từ 1970 -1974 là quân trấn trưởng Tiểu Khu Ðịnh Tường và Ban Quân Sự Bốn Bên của Quân Ðoàn 4 tại Châu Ðốc, vối cấp bậc Trung Tá. Ðầu năm 1975 được thuyên chuyển về Ban Quân Sự Hai Bên tại Trại David (Tân Sơn Nhất – Sài Gòn) với chức vụ Trưởng Phòng Biên Bản. Tháng 3/1975 có Nghị Ðịnh vinh thăng Ðại Tá.

Những ngày sắp mất nước tháng 4-1975, Ðại Tá Phùng lo đưa vợ và các con di tản sang Mỹ. Ông ở lại và bị tù từ Nam ra tới Bắctại Yên Bái, Hà Nam Ninh và Trại Z30 Hàm Tân (Thuận Hải) vào năm 1983. Tại đây vì bệnh quá nặng, nên VC cho về nhà và đã qua đời sau 2 tháng, mới 57 tuổi.

– Thiếu Tá Trịnh Văn Bình:

sinh ngày 13-7-1935 tại Hà Ðông nhưng lớn lên ở Hà Nội, đã cùng với bố di cư vào Nam năm 1954, còn Mẹ và Anh bị kẹt lại thiên đàng xã nghĩa Bắc Việt. Ðuợc tuyển chọn vào lớp huân luyện phi công học tại Pháp nhưng giữa lúc đang thụ huấn, thì bị trả về nước vì Pháp đoạn giao với Chính phủ VNCH, do Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đã ra lệnh quốc hữu hóa tất cả những đồn điền cơ xưởng.. của thực dân Phap tại Miền Nam VN. Do đó ông đã tình nguyện theo học khóa sĩ quan trừ bị tại Trường Bộ Binh Thủ Ðức, mãn khóa được ở lại làm Huấn luyện viên từ khóa 13-19. Tuy nhiên vì không thích gò bó, lần nữa ông lại tự nguyện xin đi Sư đoàn 25 bộ binh của Ðại Tá Mã Sinh Nhơn, đóng tại Hậu Nghĩa. Từ tháng 10/1969 ố 8/1970, được cử đi tu nghiệp ở Atlanta (Georgia, Mỹ) về nước vẫn phục vụ tại đơn vị cũ.

Năm 1972 được thuyên chuyển về Tiểu Khu Bình Thuận, vì lý do gia cảnh. Giữ chức vụ Ðại Ðội Trưởng/ÐÐ/ÐPQ sau đó được vinh thăng Thiếu Tá làm Tiểu Ðoàn Trưởng TÐ 274/ÐPQ cho tới ngày mất nước. Tiểu Ðoàn của Thiếu Tá Bình là một trong những đơn vị tác chiến lừng danh của Tiểu Khu Bình Thuận, tham dự hầu hết các trận đánh lớn nhỏ trong liên vùng hai quận Thiện Giáo và Hàm Thuận, từng dẫm nát các mật khu của VC như Nam Sơn (Cà Tót), Tam Giác, Ba Hòn, Mường Mán.. làm rạng danh màu cờ sắc áo của ngưòi lính quê hương Miền Biển Mặn, không thua sút bât cứ một quân binh chủng nào của QLVNCH.

Ngày 19-6-1975, VC tập trung tất cả sĩ quan Bình Thuận tại Cà Tót hơn 1000 người. Tháng 6/1976 các sĩ quan cấp Tá, trong đó có Thiếu Tá Bình bị đầy ra tận biên giới Hoa-Việt. Cuộc chiến giữa ba đảng Cộng Sản Tàu, Miên và Việt đã bùng nổ, nên Hà Nội lại chuyển cac trại tù về Nghệ An, Thanh Hoá.. Riêng Thiếu Tá Bình về trai tù Vĩnh Quang ở Vĩnh Phú, ở đây ông đã vĩnh viễn ra đi vì không chịu nổ sự hành hạ, đói khát và bệnh tật cưu mang từ sau tháng 5-1975. Theo lời kể của bà Trương Ðức Nghi, thì từ ngày bị giam 5-5-1975 cho tới khi qua đời ngày 27-11-1978, ông không hề thấy được mặt vợ con một lần nào.

– Trung Úy Tôn Thất Ái:

Tôn Thất Ái sinh năm 1941 tại Phú Vang, Thừa Thiên nhưng quê hương thứ hai là Phan Thiết. Ái học Trường Nam Tiểu Học và TH Phan Bội Châu (1955 – ), sau đó lên Ðà Lạt học Kinh doanh Chính Trị. Xuất thân từ Trường Bộ Binh Thủ Ðức, Ái về Tiểu Khu Bình Thuận, làm Phan Chi Khu Trưởng Xã Phú Lâm thuộc Quận Hàm Thuận, cấp bậc cuối cùng là Trung Úy tới ngày mất nước.

Sau tháng 5-1975, Trung Úy Ái đi tù nhiều năm từ Cà Tót tới Sông Cái (Phan Rang) được thả về, rồi bắt lại và bị Cộng Sản tra tấn tới chết tại trại giam vào năm 1983. Hiện vợ con Ái định cư tại Hoa Kỳ qua diện HO.

– Ðại Úy Nguyễn Văn Ba:

Niên khóa 1957-1958, lớp đệ lục 2 Phan Bội Phan Thiết, ba dãy bàn cuối cùng về phía sân vận động có Huỳnh Ngọc Ghênh, Hoàng Công Bình, Thân Trọng Nguyên, Võ Văn Phát, Nguyễn Văn Ba (gà), Nguyễn Văn Ba (lân) và Nguyễn Văn Ba (cao), Hồ Như Bang (Hàn Bô), Trần Thanh Bang, Bạch Văn Long, Bích Văn Mười, Ðắc Văn Kiết, Lê văn Hai, Phạm Văn Nhàn.. Sỡ dĩ phải phân biệt để khỏi lộn tên mà còn nhắm đúng vào đặc điểm của các đương sự lúc đó như Ba gà (nhà đường Trân Hưng Ðạo) ốm nhách, Ba lân có mũi giống kỳ lân (Tường Phong, sau là giáo viên) và Ba cao Mũi Né mặt mày luôn cau có nghiêm nghị. Năm đó Huỳnh Ngọc Ghênh làm trưởng lớp, thầy Hồ Thế Viên dạy Việt Văn cũng là giáo sư hướng dẫn. Trong lớp còn có Mai Xuân Cúc, MG, Trần Khánh Thiện, Nguyễn Chánh Trúc, Lê Giao, Võ Kim Ấn.

Ðại Úy Nguyễn Văn Ba (cao) sinh năm 1943 tai Mũi Né Hải Long Bình Thuận, cựu học sinh PBC 1956-1963, khóa 20 SQ/TB/Thủ Ðức. Ra trường phục vụ tại binh chủng LLDB (các toán Delta). Sau mấy lần bị thương nên được thuyên chuyển về làm huấn luyện viên tại TTHL/LLÐB Ðông Ba Thìn ở Cam Lâm, Khánh Hòa.

Năm 1972 vì lý do gia cảnh, Ðại Úy Ba xin về phục vụ tại nguyên quán Tiểu Khu Bình Thuận với chức vụ Ðại Ðội Trưởng các ÐÐ 2/510 ÐPQ , ÐÐ2/TÐ249/ÐPQ.. giữ vững xã Phú Long và Tùy Hòa quận Thiện Giáo suốt thời gian CS Bắc Việt lợi dụng hiệp định Ba Lê tháng 1-1973, cắm cờ dành dân chiếm đất. Sau khi Ðại Úy Huỳnh Văn QÚy ÐÐT/ÐÐ283 ÐP biệt lập được cử làm Tiểu Ðoàn Trưởng TÐ249/ÐPQ thì Ðại Úy Nguyễn Văn Ba về làm ÐÐT/ÐÐ283 ÐP biệt lập kiêm Yếu Khu Trưởng Yếu khu Phú Long (thời gian này có sự thay đổi: ÐÐ 283 ÐPQ do QÚy chỉ huy trở thành ÐÐ4/TÐ249/ÐP còn ÐÐ4/TÐ249 của Ðại Úy Ba đổi danh hiệu là ÐÐ283).

Từ đó cho tới ngày tàn cuộc chiến, ÐÐ283 ÐP do Ðại Úy Ba chỉ huy, đã bình định và lập lại an ninh tại Long Hiệp (Long Phú), Tuỳ Hòa và Yếu khu Phú Long. Những ngày cuối tai Bình Thuận, ÐÐ283 đuợc tăng cường cho TÐ249 của Ðại Úy Huỳnh Văn QÚy, đã tái chiếm lại Thị Trấn Phú Long cho tới chiều ngày 18-4-1975 trước tăng pháo và binh đoàn CS Bắc Việt từ Phan Rang vào, nên các cánh quân của ta tại Phú Long trong đó có ÐÐ283 của Ðại Úy Ba được lệnh di tản bằng đường biển tới Vũng Tàu và tiếp tục chiến đấu tới ngày 30-4-1975 thì buông súng theo lệnh TT Dương Văn Minh.

Sau ngày 1-5-1975 như hầu hết quân công cán cảnh VNCH đều lâm cảnh tù ngục của CSVN qua cái gọi là ‘học tập cải tạo‘. Tại Bình Thuận, Ðại Úy Nguyễn Văn Ba đã lần lượt qua các tầng địa ngục từ Cà Tót tới Sông Mao. Cuối tháng 12/1975 một số sĩ quan cấp úy trong đó có Ðại Úy Ba, được chuyển tới lao tác tại khu vực Giếng Triềng trong khu Lê Hồng Phong. Tại đây Ba đã vượt trại cùng với Ðại Úy Ðặng Phiên (em cựu dân biểu Thiếu Tá Ðặng Quang Lượng), khóa 20 B Sĩ Quan/TB/TD đại đội trưởng Địa Phương Quân và Ðại Úy Nguyễn Văn Ngư khóa 20 SQ/TB/TÐ Ðại Ðội Trưởng ÐÐ118/ÐPQ thuộc Chi Khu Phan Lý Chàm và Ðại Úy Thông Ngộ. Từ đó tới nay các Ðại Úy Ba, Ngộ và Phiên mất tích không rõ sống chết thế nào. Riêng Ðại Úy Nguyễn Văn Ngư theo nguồn tin từ Trung Úy Cao Hoài Sơn cho biết vào năm 1981, Anh đã gặp Ðại Úy Ngư bị CSVN giam tại một lô cốt ngầm ở Chi Khu Hải Ninh cũ. Hiện Ðại Úy Ngư đã định cư tại Washington DC qua diện HO. Qua quá trình chiến đấu chống lại sự xâm lăng của Bắc Việt, các Ðại Úy Ba, Phiên, Ngộ và Ngư đều là những đại đội trưởng tài giỏi, gan dạ, lập đuợc nhiều thành tích, giữ vững an ninh các ấp xã và quốc lộ số 1.

Suốt thời gian phục vụ, Ðại Úy Ba đã được ân thưởng nhiều huy chương: 1 anh dũng bội tinh ngôi sao vàng + 1 ngôi sao bạc (khi còn trong binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt), 1 chiến thương bội tinh + 2 anh dũng bôi tinh ngôi sao vàng và bạc (Tiểu Khu Bình Thuận).

– Ðại Úy Huỳnh Ngọc Ghênh:

Cựu học sinh TH Phan Bội Châu Phan Thiết niên khóa 1956-1963, khóa 15 SQ/TB/TÐ, sĩ quan Quân Báo tại Quân Ðoàn I, sau đó thuyên chuyển về phục vụ tại Trung Tâm Thẩm Vấn Tù Binh VC ở Suối Máu, Hố Nai Biên Hòa, thuộc Quân Khu III. Sau ngày 1-5-1975, Ðại Úy Ghênh bị giam tại Suối Máu, là một trong những nhà tù lớn của CS Bắc Việt giam cầm Sĩ Quan các cấp của QLVNCH. Suối Máu gồm có 4 trại 1,2,3 và 4.

Tháng 5/1977 Ðại Úy Ghênh bị chuyển ra Liên Trại Tù 1, Hoàng Liên Sơn tại tỉnh Yên Bái thượng du Bắc Việt (chung với Đại Úy Lê Bá Bình) và bị VC bắn chết vì vưọt ngục..

– Ðại Úy Tống Ngọc Yến:

Sinh năm 1943 tại Ðức Thắng, thị xã Phan Thiết tỉnh Bình Thuận, cựu học sinh Trung Học Tư Thục Bạch Vân (em ruột Tống Ngọc Nhuận), khóa 24 SQ/TB/TÐ phục vụ tại Phòng 4 và sau cùng là Toán Huấn Luyện Lưu Ðộng thuộc Phòng 3/Tiểu Khu Bình Thuận. Ðại Úy Yến đã chết vì bệnh sốt rét cấp tính tại trại tù Cà Tót (K24) thuộc Thiện Giáo tỉnh Bình Thuận.

– Ðại Úy Nguyễn Văn Biên:

Khóa 14/SQ/TB/TÐ, sĩ quan tài chánh kiêm phát ngân viên thuộc Tiểu Khu Bình Thuận. Ông đã chết tại trại tù Sông Cái (Ninh Thuận) vào năm 1978.

– Trung Úy Nguyễn Văn Biên:

Sinh năm 1945 tại Ðức Thắng Phan Thiết, em ruột thầy Nguyễn Văn Thảnh giáo viên trường Nam Tiểu Học. Là cựu học sinh trường TH Phan Bội Châu niên khóa 1957-1964, sĩ quan khóa 3 trường Ðại Học Chiến Tranh Chính Trị Ðà Lạt, Trưởng Ban CTCT thuộc Chi Khu Tuy Phong. Trung Úy Biên sau khi được lệnh đi chôn Trung Úy Hải, hôm sau thì ngả lăn ra chết vì căn bệnh sốt rét cấp tính và dù các bác sĩ của ta lúc đó đang làm việc tại bệnh xá xin chích trụ sinh để cứu Biên nhưng VC không cho.

– Trung Úy Nguyễn Văn Tư:

Sinh năm 1941 tại Ðức Nghĩa Phan Thiết, cựu học sinh TH Phan Bội Châu 1956-1963, khóa 22 SQ/TB/TÐ, sĩ quan tài chánh của Quân Y Viện Ðoàn Mạnh Hoạch, chết tại trại tù Cà Tót vào tháng 8-1975.

– Trung Úy Tăng Thanh Ðồng:

Sinh năm 1946 tại Phan Rí Cửa quận Hòa Ða Bình Thuận, cựu học sinh TH Phan Bội Châu 1957-1964, khóa 3 SQ trường Ðại Học Chiến Tranh Chính Trị Ðà Lạt, sĩ quan Chiến Tranh Chính Trị thuộc Chi Khu Hòa Ða. Ðồng được chuyển từ Lao Xá tới trại tù Cà Lon và chết tại đó (trại tù này còn có Trung Tá Diệp Sắng Cảnh, quận trưởng kiêm chi khu trưởng Chi Khu Hải Ninh).

– Thiếu Úy Nguyễn Văn Quang:

Sinh năm 1946 tại Ðức Thắng Phan Thiết, cựu học sinh trường trung học tư thục Bồ Ðề. Từ năm 1964-1967 là Nghĩa Quân biệt phái cho Phòng 3/Tiểu Khu Bình Thuận. Từ 1974-1975 là Thiếu Úy Phân chi khu phó phân chi khu Hòa An thuộc quận Thiện Giáo. Chết tại trại tù Cà Tót cuối năm 1975.

– Trung Úy Lữ Tây Tựu:

Sinh năm 1940 tại Quảng Bình, khóa 12 SQ/TB/TÐ. Ðã tốt nghiệp khóa tình báo tại trường Cây Mai (Sài Gòn) năm 1963 và khóa tình báo tại Okinawa (Nhật) vào năm 1964. Trung Úy Tựu đã phục vụ tại Phòng 2/SÐ23BB từ năm 1963-1965. Sau đó thuyên chuyển về Tiểu khu Bình Thuận, giữ chức Trưởng phòng 2 từ đầu năm 1966.

Là một sĩ quan can đãm đầy mưu lược, Trung Úy Tựu đã phối hợp chặt chẽ giữa Phòng 2 và Trung Ðội tình Báo tỉnh do Thiếu Úy Nguyễn Văn Thức (cấp bậc sau cùng là đại úy, hiện ở Florida qua diện HO) làm trung đội trưởng, đã nhiều lần hành quân đột kích, phá vỡ các cơ sở của Việt Cộng tại Phú Hội, Bàu Sẽ, Tường Phong..

Biến cố Tết Mậu Thân 1968 (đợt 1), nhờ sự chiến đấu can trường của Trung Ðội Tình Báo tại Lao Xá cũ (sau trường Chính Tâm) nên Việt Cộng đã không tiến chiếm đuợc Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu cũng như Tòa Hành Chánh Bình Thuận như kế hoạch. Sau Tết Mậu Thân, Trung Úy Tựu thuyên chuyển về Bộ Tư Lệnh/Sư Đoàn 23 Bô Binh. Năm 1969 vinh thăng đại úy về phục vụ tại Trung Ðoàn 45/Sư Đoàn 23 Bộ Binh. Mùa hè đỏ lửa 1972, Ðại Úy Tựu tử trận tại Kon Tum. Tóm lại trong các vị Trưởng Phòng 2/Tiểu Khu Bình Thuận hai Ðại Úy Lữ Tây Tựu và Nguyễn Văn Thức là xuất sắc nhất.

– Trung Sĩ I Nguyễn Văn Nhọn (Nhuận):

Ở năm xã thuộc quận Tuy Phong (Liên Hương, Phước Thể, Bình Long, Tuy Tinh và Vĩnh Hòa), không một người lính Nghĩa Quân hay Địa Phương Quân nào mà không biết tới tên Nguyễn ăn Nhọn tự Nhuận, liên đội trưởng Nghĩa Quân (gồm các Trung Ðội 67, 68, 69).

Suốt cuộc chiến hai mươi năm, sỡ dĩ các xã ấp xôi đâu không bị Việt Cộng chiếm giữ phần lớn là nhờ tin tình báo do dồng bào, trong mạng lưới tổ chức của Trung Sĩ Nhọn cung cấp. Nhờ vậy mà ta đã kịp thời phá vở nhiều lần âm mưu của địch, kể chiến dịch ‘dành dân lấn đất‘ ngày 27-1-1973. Ðịa bàn hoạt động của Liên Ðội Nghĩa Quân là Xã Phước Thể, cách Bộ Chỉ Huy Chi Khu Tuy Phong khoảng 3 km, cũng là tiền đồn của quận lỵ, tức thị trấn Long Hương. Vì vậy nhiều lần Tiểu Ðoàn 186 Cộng Sản Bắc Việt mở cuộc tấn công vào Ðồn Nghĩa Quân Phước Thể do liên đoàn trấn giữ, đều bị Trung Sĩ I Nhọn phản công bằng lựu đạn và súng cối đơn vị. Sau ngày 30-4-1975, Trung Sĩ I Nhọn bị Việt Cộng cầm tù nhiều năm.

Hởi ôi! Trong tận cùng của sự đau khổ này, đã không còn giọt nước mắt nào để có thể nói lên được những điều tan vỡ! không bao giờ ! Chúng tôi xin được làm người ở lại, chia xẽ những đớn đau cho cảnh ly tan, như con xa cha, vợ xa chồng, đầu bạc khóc đầu xanh và hơn hết, là một người bạn, một người em, một chiến hữu, để được đốt nén hương nguyện cầu. Mong rằng vong hồn của những người Anh, những bạn bè, những Anh Hùng Dân Tộc sớm tiêu diêu miền an lành.

XIN VINH DANH VÀ TRUY ÐIỆU cho những thế hệ Cha Anh, Bạn Bè Ðã Vì Tổ Quốc Vong Thân. Xin một nén hương lòng, hãy đốt lên, để thơm hương tình người. Rồi nghìn năm sau đó, có ai nghĩ như ta, để viết về nghìn năm trước, đã có những anh hùng, liệt nữ, từng đi qua những con đường Bình Thuận đầy máu lệ suốt cả cuộc đời.

Viết sau khi phỏng vấn Quý Niên Trưởng:

-Phạm Ngọc Cửu,
-Phan Bái, Huỳnh Văn QÚy, Cao Hoài Sơn, Ngô Trúc Khánh
-Trần Hữu Thân, Nguyễn Tấn Hợi, Hồ Ngọc Trai
-Trương Đúc Nghi, Mai Xuân Cúc
-Phan Chính, Lê Ngọc Lan…

Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng 4-2016
Mướng Giang

http://www.tvvn.org/thanh-kinh-vinh-danh-nhung-anh-hung-binh-thuan-muong-giang/

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s