CXN _ 101819_14 557_ QLVNCH: ARVN: TRẬN MÙA HÈ 1972, GIẢI TỎA AN LỘC 17

 

cHÂU xUÂN nGUYỄN
xx

https://www.facebook.com/sonh.cao.5/posts/138629604189826
xx

Son H Cao

Yesterday at 3:37 AM ·

TRẬN MÙA HÈ 1972, GIẢI TỎA AN LỘC 17
Bùi Anh Trinh
*( Trích sách “Giải Mã Những Bí Ẩn Của Chiến Tranh Việt Nam” của Bùi Anh Trinh )
Năm 1972, ngày 11-5, lúc 0 giờ sáng, quân CSVN pháo khoảng 3.000 quả đạn vào An Lộc, trận pháo kéo dài tới 4 giờ sáng.
– Lúc 4 giờ sáng, Sư đoàn 5 CSVN chia quân thành 3 cánh cùng tấn công mặt Bắc của thị xã, mỗi cánh là 1 trung đoàn với xe tăng.
– Lúc 6 giờ sáng, một trung đoàn thuộc Sư đoàn 9 CSVN cùng với 10 xe tăng tấn công vào mặt Tây Nam của thị xã nhưng không thành công, bị quân phòng thủ đẩy lui.
– Lúc 8 giờ 30 sáng, 2 trung đoàn CSVN ở mạn Tây Bắc và Chính Bắc phá thủng tuyến phòng thủ, đoàn xe tăng 8 chiếc vượt lên trước để tiến vào thành phố nhưng cả 8 chiếc bị bắn cháy bởi M.72, XM.202 và B.40.
– Khi 2 trung đoàn bộ binh của CSVN tiến lên thì cũng vừa lúc phi cơ B.52 đến thả bom ngay vào đội hình của 2 trung đoàn. Trung đoàn còn lại ở mạn Đông Bắc vội vàng rút lui.
Trong ngày có tất cả 20 phi vụ B.52
Năm 1972, ngày 16-5, Sư đoàn 21 BB VNCH diệt xong chốt Tàu Ô và tiến về phía An Lộc, khi còn cách An Lộc 3 cây số thì đụng độ với quân của Sư đoàn 9 CSVN đang chốt giữ cửa ngõ vào An Lộc.
Nhằm lấy tiếng kỷ niệm sinh nhật của ông Hồ Chí Minh, quân CSVN dự trù dốc hết lực lượng tấn công vào An Lộc lần chót vào ngày 19-5-1972. Tuy nhiên một toàn biệt kích thám báo phát hiện được vị trí của Bộ chỉ huy quân CSVN nên BTL Quân đoàn 3 kêu B.52 dội bom vào ngay vị trí của BCH quân CSVN, cuộc tấn công không thành.
Ngày 23-5, từ rạng sáng cho đến chiếu, Sư đoàn 9 CSVN với 10 xe tăng chia làm 4 mũi tấn công vào An Lộc ở phía Tây Nam và phía Nam, cách trung tâm thị xã 5 cây số. Tuy nhiên lần này quân CSVN không còn pháo để dọn đường nên cuộc tấn công không có khí thế trong khi quân VNCH sẵn sàng chờ đón địch. Kết quả 3 xe tăng T.54 và 8 xe tăng PT.76 bị bắn hạ, quân CSVN rút lui vào lúc chiều tối. Đây cũng là trận cuối cùng của Mùa Hè Đỏ Lửa tại An Lộc.
Năm 1972, ngày 31-5, tại căn cứ Lai Khê, tuyên bố của Trung tướng Nguyễn Văn Minh, Tư lệnh Quân đoàn 3 : “Cộng Sản Bắc Việt đã đạt được một lợi thế ngay từ đầu với quân số đông gấp bốn lần, và quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã phải chấp nhận khá nhiều tổn thất. Tuy nhiên, sau 54 ngày giao tranh, Cộng quân đã thiệt hại ít nhất là 30.000 bộ đội trong tổng số 4 sư đoàn. Mưu đồ của Cộng Sản Bắc Việt mong tiến đánh thủ đô Saigon đã hoàn toàn bị chặn đứng tại An Lộc”.
*Chú giải : Theo tài liệu của CSVN thì quân số của 3 sư đoàn 5,7,9 CSVN là 28.600 người, 3 trung đoàn biệt lập là 3.130 người, 2 trung đoàn pháo binh là 3.830 người. Tổng cộng 35.560 người, chưa tính Trung đoàn Đặc công, 20 tiểu đoàn và 63 đại đội Địa phương. Con số quân CSVN tử trận do Tướng Minh đưa ra ( 30.000 ) mới chỉ là sơ kết ngay sau trận đánh.
Trong khi đó tài liệu của HK ghi nhận số thương vong của quân CSVN là 25.000. Tuy nhiên con số của phía Hoa Kỳ là do báo cáo của các cố vấn HK tại Sư đoàn 5BB, Lữ đoàn 1 Dù, Liên đoàn 3 BDQ, Liên đoàn 81 Biệt cách dù cho nên không tính tới số thương vong của CSVN do lực lượng Địa Phương Quân, Nghĩa Quân và Nhân dân tự vệ; trong khi thực tế của chiến trường cho thấy các cây súng bắn tỉa trong thành phố của lực lượng Địa phương quân, Nghĩa quân và Nhân dân tự vệ đã gây sát thương rất nhiều cho quân CSVN trong những lúc họ bị phân tán trong thành phố.
Hồi ký của tướng CSVN Trần Văn Trà, là người chỉ huy trận An Lộc năm 1972 : “Trận An Lộc, quân giải phóng đã chịu nhiều bất lợi: hành quân gấp; vũ khí, đạn dược thiếu thốn; công tác tiếp vận kém. Địch có hỏa lực áp đảo do Hoa Kỳ hỗ trợ, đặc biệt là máy bay B-52. Quân giải phóng đã chịu một thiệt hại không nhỏ nhưng từ đó chúng ta đã rút ra được những bài học vô giá cho các chiến dịch sau này, đồng thời cũng nhận ra sự yếu kém của địch nếu không có sự yểm trợ từ hỏa lực Hoa Kỳ”.
Ngày 4-6, tại Xa Cam, Trung đoàn 30 thuộc Sư đoàn 21 BB VNCH ( 2.500 người ), Trung đoàn 15 thuộc Sư đoàn 9 BB VNCH ( 2.500 người ) và Tiểu đoàn 6 Dù ( 550 người, được bổ sung và tái trang bị sau trận đánh ngày 21-4-1972 ) cùng tiến vào phía Nam thị xã An Lộc.
Ngày 8-6, chiều tối, Đại đội 63 thuộc Tiểu đoàn 6 Dù bắt tay với Tiểu đoàn 8 Dù đang phòng thủ phía Nam An Lộc từ ngày 17-4-1972.
Ngày 9-6, một đoàn 23 chiếc trực thăng đáp xuống An Lộc để tiếp tế và tản thương binh sĩ cũng như dân chúng bị thương trong các ngày chiến trận bùng nổ.
Ngày 11-6, từ phía Bắc thị xã An Lộc, Liên đoàn 81 Biệt cách dù và Liên đoàn 3 BĐQ tiến quân về hướng Bắc, chiếm lại đồi Đồng Long là một cao điểm mà quân CSVN đặt pháo binh khống chế thị xã An Lộc trong suốt trận đánh vừa qua.
Quân CNCH tiếp tục chốt giữ tại đồi Đồng Long cho tới khi có lệnh ngưng bắn vào đầu năm 1973, sau đó Lộc Ninh trở thành đất của CSVN dùng để tiếp nhận tù binh CSVN cho tới khi tàn cuộc chiến năm 1975.
Năm 1972, ngày 7-7, Tài liệu của Stephen Young :
“Ngày 7 tháng 7, ông Thiệu đã rời Sài Gòn để thăm thành phố điêu tàn An Lộc. Phần lớn hai sư đoàn Cọn sản Hà Nội đã bị tiêu diệt tại đây khi mưu toan chiếm thành phố này. Thiệu đã có lý do chính đáng để khen thưởng thuộc cấp ông ta. Những quân nhân ấy đã chiến thắng địch quân không phải từ chiến thuật tài giỏi, và cũng không phải họ được trang bị hỏa lực mạnh hơn đối phương, mà do sự can trường và chịu đựng.
Sự thổn thất của họ nặng nề nhưng so với Cộng quân là một đổi ba. Trong khi Thiệu thăm viếng binh sĩ của ông ta tại các giao thông hào thì 7 hỏa tiễn của cộng quân đã rơi vào thành phố. Thiệu hiểu được sức chịu đựng của thuộc cấp can đảm đến mức nào khi cùng một đêm, 10.000 hỏa tiễn đã rơi vào An Lộc”.( Victory Lost, bản dịch của Nguyễn Vạn Hùng trang 470
TRẬN MÙA HÈ 1972, (18) HÀ NỘI THUA CHÁY TÚI
Bùi Anh Trinh
*( Trích sách “Giải Mã Những Bí Ẩn Của Chiến Tranh Việt Nam” của Bùi Anh Trinh )
Dưới con mắt nhìn của quốc tế
34 năm sau, vào năm 2006, sử gia Lewis Sorley đã đúc kết về trận Mùa Hè 1972 trong bài tham luận “Reassessing ARVN” :
“Cuối tháng Ba 1972 địch tiến hành một cuộc xâm lăng cổ điển với 20 Sư Đoàn và một trận chiến tàn bạo sắt máu đã xẩy ra. Ông Douglas Pike viết, “Cuộc tấn công được sửa soạn công phu đã bị bẻ gẫy và không yểm làm cho chúng không tập hợp được và vì sư chống trả dũng cảm và kiên trì của quân Nam Việt. Bắc Quân và hệ thống giao thông của chúng đã bị triệt hạ nặng. Nhưng chính yếu là QLVNCH và cả Địa Phương Quân đã hiên ngang chống trả như chưa từng thấy”.
“Bắc Quân tổn hại 100,000 người trong số 200,000 xung trận và có lẽ 40,000 đã bị giết. Họ đã mất già nửa thiết giáp và đại pháo. Sẽ cần ba năm để hồi phục trước khi tấn công lại và Tướng Vő Nguyên Giáp bay khỏi chức Tổng Tư Lệnh.
Trái lại Nam Quân mất 8,000 tử vong, gần ba lần thương binh và vào khoảng 3,500 mất tích. Tướng Giáp đã tính sai và phải trả một giá đắt cho lỗi lầm ấy. …”
“Về sau nhiều người chỉ trích nói rằng Nam Quân đã đẩy lui được Bắc Quân nhờ có không yểm của Mỹ. Tướng Abrams đã phản ứng mạnh mẽ và nói với các cấp chỉ huy của ông rằng, “Tôi không tin là không có không trợ mọi việc đã giữ vững được. Tuy nhiên phải có những người Việt Nam đứng thẳng chiến đấu. Nếu họ không dũng cảm làm như vậy thì đến mười lần không quân cũng không chận đứng được bọn cộng sản” ( Bản dịch của Trần Đỗ Cung ).
Nhìn từ phía Hà Nội
Hồi ký của Phó thủ tướng Trần Quỳnh ghi lại :
“Lê Duẩn cho rằng có thể giải phóng được Huế, bằng cách đưa bộ binh vào nhanh, với lực lượng không lớn, đánh thốc vào Huế, không cần xe tăng và pháo lớn. Nhưng anh em quân sự ta, quen đánh theo cách đã học ở Liên Xô: phối hợp pháo binh, xe tăng và bộ binh, không dám thực hiện ý kiến của Lê Duẩn”.
“Để đưa pháo và tăng vào phải xẻ đường xuống sông và bắc cầu phao qua nhiều con sông của Nam Quảng Trị và Bắc Thừa Thiên, những con sông bờ rất cao và đứng, mất nhiều thời gian. Có thời gian, địch củng cố lại hàng ngũ, phản kích lại ta, ta phải quay về cố thủ Quảng Trị. Địch dùng B52 thả bom rải thảm. Quân ta hy sinh quá nhiều, chịu không nổi đành phải bỏ Thị xã Quảng Trị qua cố thủ bên kia bờ Thạch Hãn”.
“Sau trận ấy, không giữ được Quảng Trị anh em bên quân sự cho rằng vì Lê Duẩn ra lịnh đánh Huế cho nên mất Quảng Trị. Nếu không chủ trương đánh Huế thì giữ được Quảng Trị rồi. Nhiều người còn nói là Lê Duẩn “có tài nướng quân”.
Tiếng nói gay gắt nhất là của Song Hào, Lê Quang Đạo. Lê Duẩn trả lời: Vì không chịu đánh Huế nên mất Quảng Trị. Nếu biết cách đánh và lấy được Huế thì chiến thắng ở mặt trận phía Bắc này (chỉ Quân khu Trị Thiên và Quân khu 5), biết đâu sẽ còn tiến xa hơn về Đà Nẵng.
Hai bên cãi qua lại. Lê Duẩn bảo: tương lai của cuộc chiến tranh sẽ trả lời ai đúng ai sai. Vấn đề cứ để đó. Tương lai còn đó”.
Đoạn tài liệu trên đây cho thấy nội bộ CSVN “tang gia bối rối” vì kết quả thực tế cho thấy quân CSVN không thể địch lại quân VNCH trong trận địa chiến. Mặc dầu quân CSVN bị thiệt hại nặng do B.52 nhưng B.52 chỉ thả ở vùng rừng núi chứ không thả vào khu dân cư. Còn tại thành phố thì quân CSVN không thể nào qua được ngay cả lực lượng Nghĩa quân và Nhân dân tự vệ. Nghĩa là Hà Nội muốn nuốt được Miền Nam bằng quân sự thì không thể nào làm nổi.
Nhìn từ phía Tổng thống Nixon
Khi quân CSVN chiếm Quảng Trị thì Tổng thống Nixon mất hồn đến độ nghĩ tới chuyện từ chức. Ngày đêm ông cầu nguyện cho VNCH cầm cự được với quân CSVN chứ đừng bỏ chạy, hồi ký của ông ghi lại : “ Định mệnh thật trớ trêu khi đưa tới tình cảnh số phận của chúng ta lại nằm trong tay của VNCH” .
Thực vậy, nếu lúc này mà Bắc Việt chiếm được toàn bộ Nam Việt Nam thì đương nhiên quốc gia Hoa Kỳ trở thành lần đầu tiên bị thua trận, bởi vì Hoa Kỳ đang còn 69 ngàn quân không phải là lính tác chiến tại Việt Nam, chắc chắn 69.000 quân này sẽ được di tản trước. Và như thế có nghĩa là quân Hoa Kỳ thấy sắp thua nên bỏ chạy trước, bỏ mặc đồng đội VNCH đang còn tiếp tục chiến đấu. Còn nếu như di tản không kịp 69 ngàn quân HK thì họ sẽ trở thành tù binh của Hà Nội và như vậy thì càng thê thảm hơn nữa.
Chính vì vậy mà ngày 2-4-1972 Nixon vội vã viết thư cho Tổng Thống Thiệu :
“Trong giờ phút khó khăn này cho ngài và cho các lực lượng dũng cảm của ngài, xin ngài an tâm, chúng tôi sẽ tiếp tục hỗ trợ nhân dân Việt Nam trong cuộc bảo vệ quê hương đầy can đảm của họ…Tôi tin tưởng rằng ngài sẽ tiếp tục duy trì sự lãnh đạo đầy nhiệt huyết của ngài để bảo đảm được sự sống còn của Miền Nam như là một quốc gia độc lập”( Nguyễn Tiến Hưng, Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập, trang 94 ).
Ba ngày sau lại có thêm một bức thư nữa :
“Vào giờ phút đầy thử thách lớn lao này cho nhân dân Việt Nam, tôi xin ngài biết cho là Ngài được sự ủng hộ trọn vẹn nhất của tôi với tư cách Tổng thống Hoa Kỳ và Tổng tư lệnh Quân lực Hoa Kỳ…
Xin ngài cho phép tôi nhân dịp này biểu tỏ lòng ngưỡng mộ không ngừng và sâu xa về sự lãnh đạo của ngài trong giờ phút khó khăn này, cũng như về lòng dũng cảm của nhân dân Miền Nam đang chống cự các cuộc tấn công của Hà Nội”. ( Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập, trang 95 ).
Sau đó là Quảng Trị thất thủ ( 2-5-1972), Mạc Tư Khoa lại gửi thư khuyên Nixon không nên có hành động quân sự nào khác nữa tại Bắc Việt.
Đến nông nỗi này thì Nixon nổi điên lên, ông gửi thư trả lời rằng Mạc Tư Khoa chẳng có hành động nào như đã hứa, hoặc đã có hành động thì Liên Xô chẳng là gì đối với Hà Nội. Sau đó ông quyết định cho thả bom Hà Nội và phong tỏa các hải cảng Bắc Việt mặc dầu ông sắp sửa đi Liên Xô để ký kết hiệp ước ngưng chạy đua vũ trang ( Hồi ký Nixon ).
Nhìn từ phía Tổng thống Thiệu
Theo như lời kể lại của cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu với Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng trong “Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập” thì sau trận Mùa Hè Kissinger đưa ra những đề nghị nhượng bộ với những lý do phi lý khiến cho ông nghi ngờ Kissinger đã lừa gạt ông để có những thỏa thuận bất lợi đối với VNCH. Tổng thống Thiệu cho rằng ông đã chứng minh được quân đội VNCH dư sức đối phó với đại quân của Bắc Việt.
Và cũng đã chứng minh được rằng dân chúng Việt Nam hoàn toàn không ưa chế độ Cọng sản. 20.000 xác chết của dân lành vộ tội trên Đại Lộ Kinh Hoàng đã cho thấy nhân dân VN thà chết chứ không chịu chung sống dưới chế độ Cọng sản. 20 ngàn xác chết cũng là bằng chứng cho thấy sự dã man tàn bạo của quân đội CSVN, họ sẵn sàng giết thường dân vô tội không ghê tay.
Rốt cuộc Hà Nội ngưng tấn công là do quân đội CSVN bị thất bại hoàn toàn trên các chiến trường Miền Nam, và quan trọng hơn hết là tất cả hỏa tiễn, xe tăng và đạn đại bác của quân CSVN đã sài hết sạch trong cuộc tổng tấn công Mùa Hè…!
Thế nhưng Kissinger lại không muốn chấp nhận thực tế đó, ông ta cố tình trình diễn cho thế giới tin rằng Hà Nội rút binh về Bắc là do áp lực của Liên Xô; nghĩa là do tài “đi đêm” của ông ta. Nhà bình luận chính trị nổi tiếng Larry Berman đã lật tẩy Kissinger trong tác phẩm No Peace, No Honor :
“Đối với Kissinger tình hình hơi khác. Được khích lệ bởi những thành công ở Trung Quốc và Liên Xô; và càng trở thành một người nổi tiếng trên thế giới, ông càng mong muốn ký kết được một hiệp ước hòa bình ở Ba Lê trước ngày bầu cử” ( Bản dịch của Nguyễn Mạnh Hùng trang 194 ).
Chính vì hiểu rõ ruột gan của Kissinger mà Tổng thống Thiệu đã có thái độ gần như sắt đá trước những nhượng bộ của Kissinger trong các cuộc đàm phán tại Paris. Và cũng chính vì thái độ này mà báo chí Mỹ nổi lên nguyền rủa Nguyễn Văn Thiệu là ngoan cố, hiếu chiến, tham quyền cố vị, vô lương tâm,v.v…
BÙI ANH TRINH

TRẬN MÙA HÈ 1972, (19 ) THUA TRẬN MÙA HÈ, HÀ NỘI CHỊU KÝ KẾT NGƯNG BẮN
Bùi Anh Trinh
*( Trích sách “Giải Mã Những Bí Ẩn Của Chiến Tranh Việt Nam” của Bùi Anh Trinh )
Trung Cọng mất mặt với Mỹ
Năm 1972, ngày 21-2, Tổng thống Nixon viếng thăm Trung Cọng, đánh dấu một bước ngoặt mới trong quan hệ giữa hai nước sau 20 năm thù địch. Việc nối lại quan hệ với Mỹ sẽ giúp Trung Cọng hội nhập với thế giới và có vai trò xứng đáng trong Liên Hiệp Quốc. Hai nước sẽ thảo luận về vấn đề Đài Loan và vấn đề trao đổi kinh tế giữa hai nước.
Bạch thư của nước CHXHCN/VN ghi lại :
“Sau khi Níchxơn kết thúc chuyến đi thăm Trung Quốc, Kítxinhgiơ nói với các nhà báo ngày 1 tháng 3 năm 1972 rằng từ nay Níchxơn và bản thân y “chỉ còn việc nhìn về Mátxcơva và nghiền nát Việt Nam” ( trang 60 ).
Thế rồi 29 ngày sau, 30-3-1972, Hà Nội bất thần xua 200.000 quân tràn qua vùng giới tuyến với xe tăng và pháo binh để tổng tấn công Miền Nam Việt Nam. Hồi ký của Phó thủ tướng CSVN Trần Quỳnh cho thấy Hà Nội đã không cho Trung Cọng biết, trái lại còn đánh lừa Bắc Kinh :
“Chu ( Chu Ân Lai ) hỏi Lê Duẩn về tình hình Miền Nam, Lê Duẩn nói: “Tình hình Miền Nam đang khó khăn lắm, phải xé lẻ quân chủ lực ra mà đánh du kích”. Chu đem tình hình do Lê Duẩn thông báo nói lại cho Nixon biết. Chẳng bao lâu sau khi Nixon từ Trung Quốc trở về chúng ta mở chiến dịch 1972, đánh mạnh, đánh lớn ở cả quân khu Trị Thiên đến khu 5, khu 6 và Nam Bộ.
Mỹ trách Trung Quốc : Các anh bảo chúng tôi Việt Cộng khó khăn v.v… nhưng nay Việt Cộng đánh lớn ở Lộc Ninh có cả xe tăng nữa, các anh nói các anh là đồng minh thân thiết của Việt Nam, các anh nắm tình hình Miền Nam rất chắc, hóa ra các anh là người tình báo tồi, làm chúng tôi bị mắc lừa”.
Đoạn hồi ký này chỉ minh họa lại theo tưởng tượng của Trần Quỳnh. Tuy nhiên nó cũng cho thấy rằng cuộc đại tấn công với 200.000 quân Bắc Việt hoàn toàn do Liên Xô yểm trợ vũ khí và tiền bạc trong khi Trung Cọng hoàn toàn không hay biết.
Cuộc tấn công hoàn toàn thất bại, Hà Nội chấp nhận đình chiến
Rốt cuộc sau 2 tháng tấn công, quân CSVN bị thất bại hoàn toàn trên các chiến trường Miền Nam. Hơn 40 ngàn quân chết, 60 ngàn bị thương, 100 ngàn quân khác chạy ngược về Bắc. Quan trọng hơn hết là tất cả hỏa tiễn, xe tăng và đạn đại bác của quân CSVN đã sài hết sạch sau cuộc tổng tấn công …!
Năm 1972, ngày 28-6, quân VNCH xuất phát từ bờ sông Mỹ Chánh ( ranh Thừa Thiên và Quảng Trị ) hành quân tái chiếm tỉnh Quảng Trị . Trưa ngày 15-9-1972 quân VNCH chiếm Cổ thành Quảng trị, quân CSVN tháo chạy về bờ Bắc sông Thạch Hãn.
Hồi ký của Phó thủ tướng Trần Quỳnh ghi lại :
“Sau trận ấy, không giữ được Quảng Trị anh em bên quân sự cho rằng vì Lê Duẩn ra lịnh đánh Huế cho nên mất Quảng Trị. Nếu không chủ trương đánh Huế thì giữ được Quảng Trị rồi. Nhiều người còn nói là Lê Duẩn “có tài nướng quân”.
“Tiếng nói gay gắt nhất là của Song Hào, Lê Quang Đạo. Lê Duẩn trả lời: Vì không chịu đánh Huế nên mất Quảng Trị. Nếu biết cách đánh và lấy được Huế thì chiến thắng ở mặt trận phía Bắc này (chỉ Quân khu Trị Thiên và Quân khu 5), biết đâu sẽ còn tiến xa hơn về Đà Nẵng”.
“Hai bên cãi qua lại. Lê Duẩn bảo: tương lai của cuộc chiến tranh sẽ trả lời ai đúng ai sai. Vấn đề cứ để đó. Tương lai còn đó”.
Năm 1972, ngày 9-10; Kissinger họp mật với Lê Đức Thọ và Xuân Thủy phiên thứ 17 :
Kissinger phát biểu Mỹ sẽ không ký kết một văn kiện nói về trách nhiệm của Mỹ trong việc bồi thường chiến tranh, nhưng sẵn sàng tham gia vào một chương trình tái thiết lớn trên toàn Đông Dương. Mỹ sẵn sàng viết cam kết đó trong một tuyên bố đơn phương. *( Có nghĩa là không ghi chuyện bồi thường chiến tranh vào văn bản hiệp ước, mà sẽ viết một giao ước riêng giữa hai vị cầm đầu chính phủ của hai nước, trong đó sẽ quy định bồi thường bao nhiêu và thể thức chi trả như thế nào ).
Tới phiên Lê Đức Thọ phát biểu thì ông ta bất ngờ đưa ra một bản dự thảo hiệp ước đình chiến mà trong đó chấp nhận tất cả mọi đòi hỏi của Mỹ.
Hồi ký của Negroponte, phụ tá của Kissinger : “Nó thực sự là văn bản của một hiệp ước chấm dứt chiến tranh. Chúng tôi lập tức nghỉ họp để ra ngoài vườn đọc cho kỹ bản hiệp ước và tham khảo với nhau”. Haig tuyên bố : “Chúng ta đã thành công!”.
Hồi ký của Kissinger: “Chúng tôi mong ngày này trong suốt 4 năm qua”, người ta thường hỏi tôi là khi nào tôi cảm thầy vui sướng nhất trong đời công vụ của mình, tôi trả lời rằng đó là ngày Chúa nhật 8-10-1972 tại Paris .
Hoàng Sa đã được trao tay cho Trung Cọng trước khi quân VNCH chiến thắng
Để bù lại cho công ơn khóa tay CSVN của Bắc Kinh, Nixon và Kissinger ngầm thỏa thuận để cho TC chiếm đảo Hoàng Sa của VNCH. Vì vậy khi cuộc tấn công Mùa Hè Đỏ Lửa chưa xảy ra thì Trung Cọng phấn khởi lên kế hoạch đánh chiếm Hoàng Sa.
Tuy nhiên phía TC còn có 2 điều lo ngại : Thứ nhất là chính phủ của Nixon chưa có một dấu hiệu nào chứng tỏ sẽ làm lơ cho TC chiếm Hoàng Sa. Thứ hai là Hạm đội 7 của Hoa Kỳ đang ở trong khu vực Hoàng Sa, có thể Hải quân HK sẽ can thiệp để bênh vực VNCH. Vì vậy Mao Trạch Đông mật chỉ thị cho đại sứ Hoàng Hoa của TQ tại Liên Hiệp Quốc hỏi thăm ý kiến của Kissinger để được bảo đảm trước khi Hải quân TQ hành động.
Hồi ký của Kissinger cho biết lúc đó ( ngày 4-4-1972 ) ông ta đã trả lời cho Trung Quốc : “Chủ quyền lãnh hải không là vấn đề đối với chúng tôi. Hải quân HK sẽ nhận được lệnh cách xa các đảo đó 12 dặm ( Kissinger, The White House years, trang 1114 ). Đây là bằng chứng xác nhận Kissinger công nhận Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Trung Cọng.
*Chú giải : Cần ghi nhớ là ngày này Kissinger và Nixon đang mất hết hồn vía vì 4 ngày trước, ngày 30-3-1972, quân Bắc Việt tràn qua sông bến Hải với 60 ngàn quân và xe tăng. Ngày 1-4-1972 quân CSVN tấn công Bình Long với 30 ngàn quân và xe tăng. Ngày 3-4-1972 quân CSVN với 30 ngàn quân và xe tăng bắt đầu tấn công Kontum.
Ngày nay hồ sơ của Kissinger về vụ này ( Nhượng Hoàng Sa ) chưa được giải mật cho nên không rõ vì sao mà Kissinger thuận giao Hoàng Sa sớm như vậy. Nhưng rất có thể Nixon và Kissinger nghĩ rằng lúc đó Trung Cọng có thể dùng áp lực bắt Hà Nội ngưng tiến quân cho nên vội lo lót cho Bắc Kinh. Và rồi chỉ vài ngày sau thì Kissinger mới hân hạnh được biết là Hà Nội đã trở mặt với Bắc Kinh, họ không còn nghe lời Bắc Kinh nữa.
Giả thuyết trên đây có thề kiểm chứng lại với lời chứng của vợ Lê Duẩn : Năm 2.000, vợ bé của Lê Duẩn là Nguyễn Thụy Nga đã cho phát hành hồi ký của bà, trong đó có nói về chuyện Hoàng Sa năm 1972 :
“Khi Nixon thương lượng với Trung Quốc, nó ra điều kiện nếu Trung Quốc để cho Mỹ ném bom B52 ra miền Bắc thì Mỹ sẽ nhường hòn đảo Hoàng Sa cho Trung Quốc”( Bên Nhau Trọn Đời, trang 188 ).
“Sau đó, Chu Ân Lai sang gặp anh ở Hồ Tây. Ông đi dưới bậc thang lên đưa tay, anh không bắt. Anh nói: “Các đồng chí đã bán đứng chúng tôi. Các đồng chí lấy xương máu của dân tộc Việt Nam để trả giá với Mỹ ( Bên Nhau Trọn Đời, trang 189 ).
Như vậy là Hoàng Sa đã được Kissinger giao cho Bắc Kinh trước khi quân đội VNCH chiến thắng trong trận đọ sức cuối cùng “Mùa Hè 1972”.
BÙI ANH TRINH

Image may contain: sky and outdoor

11Son H Cao and 10 others
3 Comments6 Shares

Like

CommentShare

Comments

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s