CXN _ 102219_14 565_ QLVNCH: ARVN: Vinh Danh TĐ 37 BĐQ: Cố Vấn Mỹ khen nức nở TĐ 37 Biệt Động Quân QLVNCH,tại chiến trường Khe Sanh đầu năm Mậu Thân 1968: Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân VNCH trên chiến trường Khe Sanh 1968

 

Châu Xuân Nguyễn
xx

https://www.facebook.com/groups/1051752364862874/permalink/2600086013362827/?__tn__=-UC-R
xx

Nguyễn Hạnh Dungto Miền Nam Việt Nam – Trước 1975

14 hrs ·

Image may contain: 1 person, sunglasses and outdoor
Image may contain: 2 people
Image may contain: tree and outdoor
Image may contain: shoes and outdoor
+2

 

Sài Gòn trong tôi

Yesterday at 12:04 AM ·

* Máu Lửa Khe Sanh
________________________

Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân VNCH
trên chiến trường Khe Sanh 1968

Tôi được lệnh đến làm việc trong toán cố vấn cho Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân VNCH, hậu cứ đóng ở ngoại ô thành phố Đà Nẵng vào tháng Mười năm 1967. Tôi được chỉ định đến tiểu đoàn này để thay thế Trung Sĩ Brock, tử trận vài tuần trước.

Đến tháng Giêng, 1968, Đại Úy Walter Gunn cũng được đưa đến tiểu đoàn để làm cố vấn trưởng. Nhìn ông ta, tôi có thể nói ngay, ông ta sẽ là một cấp chỉ huy tài giỏi (Đại Úy Walter Gunn rất cao lớn). Những cố vấn khác trong toán đi với Tiểu Đoàn 37 BĐQ VNCH gồm có: Trung Úy Stan Brodka, và hiệu thính viên (truyền tin) Burlson, một người vui tính, thích âm nhạc, đến từ Chicago.

Vào khoảng cuối tháng Giêng, 1968, có tin đồn, giới thẩm quyền cao cấp muốn có lá quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa bay trên căn cứ Khe Sanh. Đó là một khu vực quan trọng cho các đơn vị chính quy Bắc Việt di chuyển băng qua vùng phi quân sự (DMZ) và từ bên Lào xuống phiá nam để xâm lăng miền Nam Việt Nam.

Chúng tôi cũng được cho biết, tướng Giáp có hai sư đoàn (khoảng 20 ngàn quân) đang khép chặt vòng vây căn cứ Khe Sanh, và đơn vị trú phòng cần được tăng cường. Do đó, Tiểu Đoàn 37 BĐQ VNCH được chọn để gửi ra Khe Sanh trong vòng một thời gian ngắn. Chúng tôi đến Khe Sanh ngày 27 tháng Giêng năm 1968, trước khi trận Mậu Thân khởi sự ngày 31 tháng Giêng, 1968.

Căn cứ hành quân Khe Sanh nằm về hướng tây tỉnh Quảng Trị (Quân Đoàn I). Hướng tây của căn cứ là nước Lào, hướng bắc là vùng phi quân sự. Khu vực Khe Sanh nằm trên đường xâm nhập của quân đội Bắc Việt vào xâm lược miền nam. Xung quanh căn cứ có nhiều đồi núi, cây cối rậm rạp, nhiều bụi tre gai và cỏ “voi” (elephant grass). Giòng sông Rao Quan và một phần đường số 9 (không đi xe được) nằm về phiá đông, đông nam căn cứ. Phi đạo ngắn trong căn cứ dài khoảng 3500 bộ (ft), trải những tấm “ri, PSP”. Lực Lượng Đặc Biệt có một toán “A” nằm nơi trại biên phòng Lang Vei, cách Khe Sanh vài dặm về hướng tây nam. Trại biên phòng này tuyển mộ sắc dân người Bru sinh sống rải rác trong những ngôi làng lân cận. Tình hình trại biên phòng này như đang nằm trên “lò lửa”.

Tiểu Đoàn 37 BĐQ VNCH, cùng với đầy đủ súng ống, đạn dược, quân trang quân dụng, được phi cơC-130 Hoa Kỳ trong phi trường Đà Nẵng đưa đến căn cứ Khe Sanh. Lo sợ hỏa lực phòng không của địch từ trên những rặng núi bao quanh, các phi công C-130 Hoa Kỳ không từ từ giảm cao độ, mà hạ thấp thật nhanh rồi đáp xuống phi đạo. Phi cơ mở cửa sau và chúng tôi chạy thật nhanh ra ngoài, trong khi đó các phi công cho phi cơ vòng lại nơi cuối phi đạo rồi cất cánh ngay tức khắc.

Các Biệt Động Quân VNCH khi vừa ra khỏi phi cơ, được địch quân chào đón bằng đợt pháo kích bằng hỏa tiễn 122 ly, nên phải lập tức tìm chỗ trú ẩn. Nhờ sự đổ quân nhanh nhẹn, các phi cơ C-130 bay về Đà Nẵng an toàn. Sau đó, Tiểu Đoàn 37 BĐQ di chuyển về cuối phi đạo. Tiểu đoàn BĐQ tăng cường cho căn cứ Khe Sanh được giao cho trách nhiệm đóng quân bên ngoài tuyến phòng thủ phiá đông của căn cứ. Vị trí phòng thủ của Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân nguy hiểm nhất vì nằm bên ngoài tuyến phòng thủ chính của căn cứ Khe Sanh.

Trong khi các binh sĩ Biệt Động Quân bận rộn tổ chức tuyến phòng thủ, tôi đảo mắt quan sát xung quanh. Căn cứ Khe Sanh trông giống như bị đốn chặt bằng chiếc rìu hai lưỡi, hay là vừa mới trải qua một cơn giông bão, những vỏ đạn đại bác, mảnh thùng đạn gỗ, đất cát văng vương vãi khắp nơi trong căn cứ. Dọc theo phi đạo, đồ quân nhu, quân cụ, cơ phận máy bay, cánh quạt, v.v… nằm rải rác. Nhiều pháo đài trúng đạn, có cái bị san bằng với mặt đất. Tôi nhận thức rằng… tất cả đều là sự thực. Điều rõ ràng là quân đội Bắc Việt không muốn chúng tôi “sống” ở đây và ngược lại, phe ta cũng không muốn sự có mặt của họ!

Khi đơn vị Biệt Động Quân Việt Nam vào đến vị trí thay thế cho một đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. Đơn vị này được lệnh lui vào sâu bên trong, làm thành tuyến phòng thủ thứ hai, đằng sau phòng tuyến BĐQ để bảo vệ căn cứ.
Ngày 7 tháng Hai, khoảng nửa đêm, trại LLĐB Lang Vei bị quân đội Bắc Việt tràn ngập. Địch quân xử dụng chiến xa hạng nhẹ, lội nước PT-76, súng phun lửa tấn công. Đến sáng hôm sau, những quân nhân LLĐB được di tản về Khe Sanh và sau đó đưa đi nơi khác. Họ là những anh hùng thực sự.

Đến lúc này, trên bản đồ trận liệt, trước mặt và xung quanh chúng tôi là quân thù. Về phiá tây là bọn cộng sản Bắc Việt trên phần đất Lào, phiá bắc là vùng phi quân sự. Dường như, trận tấn công lớn đầu tiên của địch nhắm vào Tiểu Đoàn 37 BĐQ khi đơn vị này vừa mới chân ướt, chân ráo đến Khe Sanh. Đó là cơ hội tốt nhất để chào đón Biệt Động Quân với ý định “đá đít” họ ra khỏi căn cứ.

Tuy nhiên, đối với quân xâm lược Bắc Việt, chuyện đó xẩy ra đã không được êm đẹp như bọn chúng tưởng bở và dự tính. Biệt Động Quân VNCH đã đập tan những trận tấn công của bọn giặc xâm lược từ phương bắc, khiến chúng thảm bại nhục nhã phải trốn chạy vào rừng. Khả năng tác chiến của Tiểu Đoàn 37 BĐQ VNCH “đẹp” như tôi chưa từng được chứng được kiến bao giờ. Ngày hôm sau, những TQLC Hoa Kỳ nói với tôi… họ rất tin tưởng vào BĐQ/VN và họ cảm thấy rất… an tâm.

Không có được sự yểm trợ tiếp vận, phương tiện như quân đội Hoa Kỳ, đánh giặc theo kiểu “con nhà nghèo”, BĐQ/VN phải tự đào hầm hố, lập công sự phòng thủ lấy bằng… sức người. Tôi cũng vui vẻ và cũng là lần đầu tiên… đào hầm bằng tay. Căn hầm làm Bộ Chỉ Huy, cũng là “nhà” của tôi trong thời gian “thăm viếng” căn cứ Khe sanh. Chúng tôi được tiếp nhận hai TQLC, một thiếu úy và một binh sĩ. Họ đến làm việc với chúng tôi như toán “tiền sát viên, DLO” cho pháo đội 105 ly trong căn cứ.

Mấy khẩu 105 ly tác xạ ngày đêm bên ngoài tuyến phòng thủ BĐQ. Phòng tuyến này có hai hoặc ba lớp hàng rào kẽm gai concertina, được gắn hỏa pháo soi sáng, mìn và mìn định hướng claymore. Ngoài ra còn được treo lủng lẳng, lon đồ hộp, lon coca để gây tiếng báo động cho binh sĩ phòng thủ, đề phòng bọn đặc công bò vào. Tuyến phòng thủ của BĐQ nằm chắn mũi tấn công chính của quân xâm lược Bắc Việt vào căn cứ. Lúc nào cũng nghe tiếng súng.

Đại Úy Gunn làm việc trực tiếp với Tiểu Đoàn Trưởng, Tiểu Đoàn 37 BĐQ, Đại Úy Hoàng Phổ, còn tôi làm việc với một hạ sĩ quan Biệt Động Quân, anh ta rất nhanh nhẹn. Chúng tôi xin tiếp tế cho họ những gì cần thiết (thực phẩm, nước uống, thuốc men, đồ cứu thương), đạn dược và không trợ, cũng như pháo binh yểm trợ. Các binh sĩ BĐQ chia sẻ với tôi những điều khó khăn, lo lắng trong vấn đề nhận tiền lương (phải xin phương tiện, đưa sĩ qua phát lương vào Khe Sanh và đưa tiền về cho gia đình, vợ con) và tin tức về trận tổng tấn công Tết Mậu Thân đã lan tràn khắp miền nam Việt Nam. Chúng tôi rất cần lẫn nhau và BĐQ VNCH được cảm tình, sự yểm trợ của TQLC Hoa Kỳ rất nồng hậu.

Trong suốt tháng Hai, 1968, thời tiết trở nên xấu, vừa lạnh vừa có nhiều sương mù bao phủ. Những chuyến tiếp tế cho căn cứ đều phải dùng phương tiện thả dù. Đặc biệt nhu cầu nước uống rất hạn chế vì khó thả dù tiếp tế. Không biết binh sĩ BĐQ có biết được tình trạng này không? Thực ra, họ ít nhu cầu vệ sinh hơn người Hoa Kỳ, khả năng mưu sinh, sống còn của họ rất cao. (lính Mỹ ngày nào cũng cần tối thiểu một nón sắt nước để rửa mặt, đánh răng, lau người… Thiếu thuốc bôi nách Right Guard, chắc mùi của họ lên tới trời xanh… địch quân đánh hơi được).

Chiến đấu với Biệt Động Quân Việt Nam Cộng Hòa, tôi phải… nghĩ lại. Sau lúc ban đầu mới đến căn cứ, tôi quyết tâm chiến đấu theo kiểu “BĐQ”, không phải lúc nào cũng ngồi trong hầm… cầu nguyện. Các binh sĩ BĐQ VNCH họ vừa chiến đấu vừa ung dung rất tỉnh táo. Ở Khe Sanh không ai dám đứng thẳng người, bước đi từ từ vì nạn bắn sẻ, ai cũng phải khom lưng và chạy từ chỗ này sang chỗ khác. Có ngày, căn cứ Khe Sanh bị pháo kích khoảng 500, đến 1000 quả đạn đại bác, hỏa tiễn, có khi hơn nữa. Chúng tôi phải tự học hỏi, nhận diện các loại đạn pháo binh của họ củng như hỏa tiễn bắn vào căn cứ. Đạn pháo binh nổ lớn, đôi khi rất khó phân biệt, ngoài ra còn pháo binh 105 ly bắn trả đũa nữa. Tôi phải chứng kiến người bị thương, cảnh tản thương thường xuyên, cả TQLC và BĐQ, không ai được tha.

Đúng giữa tháng Ba năm 1968, mức độ nước dự trữ đã xuống đến mức thấp nhất, chúng tôi phải để dành nước. Tuy nhiên, các phi công can đảm vẫn đem đến cho chúng tôi những gì cần thiết. Phải công nhận TQLC lo chuyện này rất đầy đủ với tất cả khả năng của họ.

Chúng tôi nhận được “quà tặng” đủ loại bắn vào căn cứ hàng ngày gồm có: đại bác 130 ly, hỏa tiễn 122 ly, súng cối 61, 82 ly, đại bác không dật 75 ly, súng phóng hỏa tiễn B-40, B-41, đại liên và tiểu tiên AK-47 và súng CKC từ những xạ thủ bắn sẻ. Lính Bắc Việt chế ra những dụng cụ để phá lớp hàng rào phòng thủ. Họ nhồi thuốc nổ TNT vào những ống tre dài, rồi thọc vào dưới lớp hàng rào kẽm gai, nhưng tất cả bọn chúng đã bị các binh sĩ BĐQ trông thấy bắn chết và tịch thu “đồ nghề”.

Lợi dụng lớp sương mù che phủ, lính Bắc Việt đào hệ thống điạ đạo nhằm xâm nhập vào bên trong phòng tuyến BĐQ, nhưng cũng bị Biệt Động Quân phát giác và tiêu diệt tất cả những tên nào muốn xâm nhập. Tất cả những kế hoạch của bọn cộng sản xâm lược nhằm tấn công vào phòng tuyến của BĐQ VNCH đều bị thất bại thảm hại.

Chúng tôi cũng thường xuyên bị ăn đạn súng đại bác 57, 75 ly không giật. Biệt Động Quân đưa một trung đội ra ngoài lục soát, đi tìm “thủ phạm”. Trung đội BĐQ chạm địch và thanh toán được toán lính cộng sử dụng súng và tịch thâu khẩu súng đem về căn cứ. Bên ngoài lớp hàng rào phòng thủ là đất cấm (no man’s land) vùng tác xạ tự do cho phi cơ và pháo binh.

Một đêm khuya, chúng tôi nghe mấy tiếng depart súng cối, nhưng không nghe tiếng nổ. Sáng hôm sau, ra quan sát mới biết, có mấy qủa đạn súng cối của quân cộng sản rơi vào phòng tuyến BĐQ nhưng bọn chúng quên lấy chốt an toàn ra trước khi bắn, nên qủa đạn không nổ.

Một đêm khác, khi chúng tôi đang ở trong hầm, một tiếng nổ long trời làm xập một góc hầm, người bên trong ngã nhiêng ngửa. Chúng tôi phải bới đống gạch vụn chui ra. Bên ngoài hàng rào là một hố sâu khoảng 10, 15 bộ (feet) do một quả bom 2000 cân Anh nổ. Quả bom này có lẽ rơi lạc mục tiêu.
Quân trú phòng được yểm trợ bằng tất cả sức mạnh của Quân Đội Hoa Kỳ. Những đợt pháo đài bay B-52 trải thảm như cơn điạ chấn, mặt đất rung lên từng cơn, gây ra những thiệt hại nặng nề cho quân bắc việt xâm lược. Ngoài ra, căn cứ Khe Sanh còn được, pháo binh chiến lược 175 ly từ rặng núi Rock Pile tác xạ vào những nơi tình nghi tập trung quân của quân đội Bắc Việt.

Tôi được lệnh về Đà Nẵng để lấy đồ tiếp tế cho toán cố vấn và lấy thư. Trong chuyến bay ra khỏi căn cứ Khe Sanh, chúng tôi phải khiêng theo mấy túi đựng xác chết. Đến Đà Nẵng, đó là một thế giới khác, tôi được “tẩy uế” bụi trần, một lần “kỳ cọ” sướng nhất trong đời. Sau khi lấy đồ tiếp tế, thư từ, tôi đón một chiếc C-123 khác bay lên Khe Sanh.

Tuần lễ đầu tiên trong tháng Tư năm 1968, thỉnh thoảng có mùi xác chết, hôi thối bay vào căn cứ, tùy theo hướng gió. Tiểu Đoàn 37 BĐQ ra lệnh cho một trung đội ra ngoài lục soát. Kết qủa, Biệt Động Quân VNCH tìm thấy một hệ thống điạ đạo lớn, nhiều hầm hố với vào khoảng 70 xác chết binh sĩ Bắc Việt.

Đến ngày 6 tháng Tư, 1968, Đại Đội 84, Tiểu Đoàn 8 Nhẩy Dù Việt Nam Cộng Hòa được trực thăng của Sư Đoàn Kỵ Binh Không Vận số 1 (1st Air Cavalry) đưa vào căn cứ Khe Sanh, bắt tay với Tiểu Đoàn 37 BĐQ VNCH.

Sau khi đám tàn quân rệu rã của bọn cộng sản bắc việt xâm lược rút chạy khỏi Khe Sanh, các đơn vị trú phòng đã bung quân ra lục soát quanh căn cứ và tìm thấy rất nhiều những hố chôn tập thể xác quân bắc việt. Những hố tập thể này được chôn nông và có vẻ như được chôn lấp rất vội vàng.

Tổng thiệt hại sau trận Khe Sanh được phía Quân Đội Mỹ ghi nhận là có đến từ 15,000 – 20,000 quân cộng sản bắc việt xâm lược đã bỏ xác tại trận; trong khi phía Mỹ có 204 tử trận và 1,622 bị thương. Về phía BĐQ VNCH có 34 chiến sĩ hy sinh và gần 300 người bị thương.

Cuối cùng, căn cứ Khe Sanh vẫn đứng vững và phía cộng sản bắc việt xâm lược đã thảm bại nhục nhã; không hề có chuyện “over run” như Điện Biên Phủ như bọn chúng tưởng bở và tuyên truyền lố bịch và dối trá. Căn cứ Khe Sanh đã được gỉải tỏa và sau đó, các cấp thẩm quyền Mỹ đã quyết định phá bỏ nó vào cuối tháng 6/ 1968

Đến ngày 15 tháng Tư, 1968, toàn bộ Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân Việt Nam Cộng Hòa được đưa về Đà Nẵng.

Theo cuốn Patrolling, Willard J. Langdon, nxb Winter 2009, pages: 71-74 (Sài Gòn trong tôi – Vũ Đình Hiếu)

159You and 158 others
3 Comments10 Shares

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s