TS Nguyễn Đình Cung: Thực thi chính sách của Việt Nam là ‘sáng đúng, chiều sai, sáng mai l ại đúng’

https://nhadautu.vn/gap-go-thu-tu-ts-nguyen-dinh-cung-thuc-thi-chinh-sach-cua-viet-nam-la-sang-dung-chieu-sai-sang-mai-lai-dung-d31311.html

THẮNG HOÀNG11, Tháng 12, 2019 | 07:04

Nhàđầutư
“Một vấn đề có thể có 3-4 Bộ cùng quản. Nhiều khi đúng với Bộ này nhưng sai với Bộ khác, đúng với Thông tư này vẫn có thể sai với Thông tư khác. Cho nên, thực thi chính sách của Việt Nam là sáng đúng, chiều sai, mai lại đúng, tùy thuộc vào tâm trạng của người thực thi”, TS Nguyễn Đình Cung nói.

20 năm tính từ thời điểm Luật Doanh nghiệp năm 1999 ra đời, bức tranh kinh tế tư nhân Việt Nam tới nay đã có nhiều sự thay đổi. Từ tâm lý còn rụt rè vì chưa được định danh. Thậm chí, nhiều doanh nghiệp bảo nhau “cứ sợ béo lên là bị thịt”.

Đến nay, kinh tế tư nhân đã là động lực quan trọng để phát triển đất nước. Ngày càng có nhiều người trẻ khởi nghiệp trong làn sóng Cách mạng Công nghiệp 4.0. Đây là lúc các nhà kinh tế, nhà hoạch định chính sách phải trả lời câu hỏi: “Làm thế nào để khu vực kinh tế tư nhân thực sự trở thành động lực, doanh nghiệp tư nhân thực sự trưởng thành?.

Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) lần này vừa được Quốc hội thảo luận tại kỳ họp thứ 8 và sẽ tiếp tục được lấy ý kiến trước khi được Quốc hội ấn nút thông qua. Nhiều doanh nghiệp hy vọng luật sửa đổi sẽ thực sự “cởi trói” cho họ, đặc biệt khu vực tư nhân.

Liên quan đến vấn đề này, bên lề một cuộc hội thảo mới diễn ra, Nhadautu.vn đã có cuộc trao đổi với TS Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu và quản lý kinh tế trung ương (CIEM).

Ông đánh giá như thế nào về thành tựu và hạn chế của Luật Doanh nghiệp trong những năm vừa qua?

TS Nguyễn Đình Cung: 4 đời luật (1991, 2000, 2005, 2014) đã bảo vệ được quyền tự do kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ đối với doanh nghiệp, tăng mức độ an toàn trong kinh doanh và giảm bớt rủi ro từ chính sách, thể chế, pháp luật.

nguyen-dinh-cung

TS Nguyễn Đình Cung. Ảnh: Trọng Hiếu.

Tuy nhiên, quyền tự do kinh doanh vẫn còn bị hạn chế bởi một số ngành vẫn áp dụng nguyên tắc “positive list” (doanh nghiệp chỉ được làm những gì nhà nước cho phép), ví dụ như: Các ngành tài chính, ngân hàng, tư vấn pháp lý…

Đây là hạn chế trong việc mở ra mô hình kinh doanh mới, những sản phẩm, dịch vụ mới trong thời đại 4.0. Và tôi cho rằng, chúng ta không bắt kịp Trung Quốc về kinh tế số, chuyển đổi số một phần do cách tiếp cận positive list này.

Quyền tự do kinh doanh còn bị hạn chế bởi các quy hoạch bất hợp lý của các ngành, địa phương. Bên cạnh đó, quyền tự do kinh doanh mới chỉ chủ yếu trong phạm vi “kinh doanh cái gì” còn kinh doanh như thế nào, kinh doanh bao nhiêu… thì vẫn còn để ngỏ.

Như ông nói, doanh nghiệp đầu tư kinh doanh ở Việt Nam chưa thể yên tâm vì chính sách?

TS Nguyễn Đình Cung: Đúng vậy! Tôi đưa ra dẫn chứng vấn đề giảm chi phí tuân thủ, có giảm nhưng vẫn còn cao. Đáng quan ngại là việc giảm chi phí tuân thủ được thực hiện qua các đợt cải cách thủ tục hành chính mà chưa có thể chế, định chế để giảm chi phí một cách có hệ thống.

Đối với vấn đề tăng an toàn, giảm rủi ro trong kinh doanh, đầu tư kinh doanh ở Việt Nam vẫn chưa an toàn, rủi ro chính sách và pháp luật còn cao. Thực tế doanh nghiệp Việt Nam vẫn không thể tiên liệu trước được việc tuân thủ pháp luật. Tuân thủ pháp luật là một thách thức; rủi ro pháp lý trong hoạt động kinh doanh là rất nhiều, đa dạng, không đoán định được.

Mỗi năm Quốc hội ban hành khoảng 20 luật, Chính phủ ban hành khoảng 100 nghị định, 600-700 thông tư, còn văn bản điều hành thì hàng nghìn, riêng Văn phòng Chính phủ đã có 3.500-4.000 cái/năm.

Một luật có khoảng 10 nghị định, một nghị định có khoảng 6-7 thông tư, suy ra một luật có hàng trăm thông tư. Như vậy, luật có thể không đổi, nhưng nghị định có thể thay đổi được. Tính bất định giữa luật và nghị định là có. Tính bất định càng cao hơn với cấp thông tư vì thông tư thì gần như nằm trong ý chí, thẩm quyền của các bộ.

Cho nên, một vấn đề có thể có 3-4 bộ cùng quản. Nhiều khi đúng với bộ này thì sai với bộ khác, đúng với thông tư này thì có thể sai với thông tư kia, đúng với thông tư trước thì sai với thông tư sau, còn loại văn bản hướng dẫn thi hành thì tùy ý. Vì vậy, thực thi chính sách của Việt Nam là sáng đúng, chiều sai, sáng mai lại đúng, tùy thuộc vào tâm trạng của người thực thi.

Đây chính là mảnh đất màu mỡ cho thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp. Đây là nguồn gốc của những rủi ro trong việc tuân thủ luật pháp ở Việt Nam”, ông Cung phân tích.

Ngoài vấn đề không tiên liệu được sự thay đổi của pháp luật, một vấn đề nan giải khác hiện nay là “hậu kiểm”. “Hậu kiểm” hiện vẫn được hiểu là doanh nghiệp cứ kinh doanh, sau đó cơ quan quản lý sẽ kiểm tra sau. Cách hiểu như vậy là sai.

Chúng tôi thiết kế hậu kiểm là việc kiểm soát dựa trên đánh giá mức độ an toàn, tuân thủ luật pháp, mức độ rủi ro của đối tượng. Quản lý nhà nước chỉ tập trung vào đối tượng có khả năng vi phạm và rủi ro đối với xã hội lớn. Còn lại những đối tượng khác, quản lý nhà nước phải đi giúp đỡ, hỗ trợ họ tuân thủ luật pháp, chứ không phải đi kiểm tra để xử phạt.

Vậy công tác hậu kiểm ở các cơ quan nhà nước hiện nay như thế nào thưa ông?

TS Nguyễn Đình Cung: Các cơ quan hiểu khác nhau, thực thi khác nhau, kết luận vụ việc cũng khác nhau và có thiên hướng buộc tội doanh nghiệp; cứ có thanh tra, kiểm tra là có vi phạm của doanh nghiệp.

Đặc biệt “thanh tra, kiểm tra cộng với báo chí/truyền thông có thể giết chết doanh nghiệp chưa đáng chết, làm mất mát lớn một cách không đáng có cho doanh nghiệp”.

Vậy theo ông, Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) cần có giải pháp nào để thay đổi những tồn tại mà ông đề cập trên?

TS Nguyễn Đình Cung: Nhìn lại quá trình cắt giảm điều kiện kinh doanh ở thời điểm hiện tại, thành viên tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng thừa nhận cải cách đang chững lại, mô hình Tổ công tác của thủ tướng về cắt giảm điều kiện kinh doanh không thành công.

Mô hình các Tổ công tác về cắt giảm điều kiện kinh doanh hiện nay không thành công bởi quy định. Thủ tướng chỉ bổ nhiệm phải là Thứ trưởng trở nên. Còn các Tổ công tác trong Bộ hoặc giữa các Bộ với nhau là do Bộ trưởng bổ nhiệm. Mà cái gì cũng qua Bộ trưởng cũng trở nên bị méo mó nhiều. Nếu không thoát được quan điểm và cách xử lý hành chính như này thì khó có thành công như tổ thi hành luật doanh nghiệp.

Nếu muốn sửa đổi luật nào, muốn cắt giảm điều kiện kinh doanh thì thì phải trông vào trí tuệ bên ngoài, chứ đừng trông vào các Bộ. Ngay bản thân tôi cũng không được trọng dụng để góp ý vào sửa đổi luật dù rất gắn bó với Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư.

Đã đến lúc Việt Nam có một cơ quan độc lập trong quá trình xây dựng chính sách. Cơ quan xây dựng chính sách và cơ quan thực thi pháp luật phải là hai cơ quan khác nhau chứ cứ giao cho các bộ soạn thảo chính sách như bây giờ thì việc cài cắm lợi ích là điều không thể tránh khỏi.

Xinh cảm ơn ông!

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s